B/C: TỔNG KẾT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG PHÒNG KHÁM TỪ THIỆN “TUỆ TĨNH ĐƯỜNG”, CHÙA KỲ QUANG II, QUẬN GÒ VẤP TP.HCM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY

Y – DƯỢC SƯ – VÕ SƯ NGUYỄN VIẾT XÔ

Sinh năm 1961, tại Quảng Ngãi
Thường trú: 385/5 Lê Văn Thọ,phường 9, Gò Vấp, Tp Hồ Chí Minh
Điện thoại di động: 0898411278
xoviet.nguyen@yvotamthuat.com.
Website: www.yvotamthuat.com
Facebook: www.facebook.com/nguyen.vietxo.165/

Chức vụ khác:

 

Chưởng môn: Võ Lâm Hợp Quyền Đạo – Võ đường Đại Nhạn Phi – Y Võ Tâm Thuật
Trưởng phòng khám từ thiện chùa Kỳ Quang II
Giám đốc Trung tâm Unesco Huấn Luyện Tâm Y Võ

 

Bài viết tâm đắc:

 

Báo Dạy & Học Ngày nay                                       Số: 1859 – 2694  Xuân Bính Thân 2016

.

Y – DƯỢC SƯ, VÕ SƯ NGUYỄN VIẾT XÔ:

.

NGƯỜI “HỒI SINH” NHỮNG MẢNH ĐỜI BẤT HẠNH BẰNG TÂM – Y – VÕ

.

                                                                                                                                                  -PV. Linh Nguyễn-

Nhắc đến Y –Dược sư Nguyễn Viết Xô, người ta thường nhớ đến một thầy thuốc uyên bác và tận tâm hơn là một võ sư đã từng nổi danh một thời . Bởi trên 30 năm theo đuổi con đường y võ tâm thuật , ông đã đem tất cả khối óc và sức lực của mình để cứu chữa cho bệnh nhân nghèo và đóng góp không nhỏ cho nền y học của nước nhà.

 

Nhân duyên với nghề y của một võ sư lừng danh:

 

Nếu như Hippocrates xưa kia đã từng đi khắp Hy Lạp để hành nghề y cứu người thì nay, tôi đã thấy điều tương tự ở một người thầy thuốc khoác áo blouse trắng luôn có mặt ở bất cứ nơi đâu khi có người nghèo cần cứu chữa . Đó chính là Y – Dược Sư Nguyễn Viết Xô, trưởng phòng khám từ thiện Tuệ Tĩnh Đường Chùa Kỳ Quang II (quận Gò Vấp, TPHCM).

 

 Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô, trưởng phòng khám từ thiện chùa Kỳ Quang II

 

Tôi có cơ duyên được gặp Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô vào một chiều cuối năm khi ông đang tất bật với những chuyến hành trình từ thiện đến những nơi vùng sâu , vùng xa của đất nước . Gặp ông , ấn tượng đầu tiên của chúng tôi là khí chất và nét khẳng khái của một võ sư “con nhà nòi” ẩn bên trong một người Thầy Thuốc điềm đạm với chiếc áo blouse trắng . Ít ai biết rằng, trước khi cống hiến cuộc đời mình cho y học , ông từng là một vị võ sư nổi danh ngang dọc một thời. Và cũng chính vì tình yêu thương đối với những mảnh đời bất hạnh , khốn khó , ông đã tình nguyện gác lại tất cả để theo đuổi ước vọng cứu chữa cho người nghèo. “ Võ học là niềm đam mê từ nhỏ của tôi, còn y học là tình yêu và trách nhiệm suốt đời của tôi . Đối với tôi , chúng luôn song hành tới tận bây giờ, chỉ là có những thời điểm , tôi buộc phải gác lại võ học để thực hiện điều mà tôi trăn trở bấy lâu – cứu chữa cho những bệnh nhân nghèo khổ, bị xã hội kỳ thị bởi căn bệnh hiểm nghèo như HIV/AIDS, và nhiều bệnh nan y mãn tính khác…”ông chia sẽ.

 

Sinh ra tại miền đất võ xứ Quãng, từ nhỏ ông đã được thỏa niềm đam mê võ học qua những đường quyền cước võ thuật được thừa hưởng từ sự chân truyền của ông nội Nguyễn Cử và ông ngoại Trần Ngưu – hai đại danh sư về quyền thuật của Việt Nam vào những thập niên đầu của thế kỷ 20. Lên 6 tuổi, ông đã theo học quyền cước và được hai đại cao thủ của làng võ An Thái (Bình Định) là cố võ sư Võ Châu Long và cố võ sư Hoàng Bâng hết lòng truyền dạy. Đến năm 15 tuổi , như một nhân duyên hiếm có , ông may mắn gặp được cao nhân gốc Tây Tạng và được truyền thụ nền võ thuật dị học cùng với nền y dược học của xứ cao nguyên Thanh Tạng. Suốt hơn 30 năm kiên trì khổ luyện, ông đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm cũng như tinh hoa của các môn phái võ lâm và y thuật bí truyền phương Đông. Từ đây, người võ sư chợt nhận ra rằng : võ học thông thường chỉ giúp rèn luyện sức khỏe , chứ không thể cứu người, chỉ khi kết hợp với y học mới tạo ta sức mạnh cứu chữa cho con người thoát khỏi sự đau đớn và dày vò của bệnh tật. Vì vậy , khi đang đứng ở đỉnh cao của sự nghiệp võ học, ông lại đột ngột chuyển hướng để thi vào trường Đại hoc Y dược TP.HCM với một tâm niệm mà cả đời ông luôn ấp ủ và hướng tới ; cứu chữa cho bệnh nhân nghèo, mắc phải những bệnh nan y mãn tính.

 

Ngay từ khi bước vào cổng trường đại học, ông đã bắt tay vào học tập và nghiên cứu ngành hóa dược cây thuốc (Hóa dược lâm sàng) – nền tảng cho những sáng chế thiết thực cho nhân loại về sau. Cuối năm 1988, sau khi tốt nghiệp chuyên ngành Hóa dược liệu, ông vẫn miệt mài học tập và tốt nghiệp ngành Điều chế hóa dược. Chưa dừng lại ở đó, với sự ham học hỏi và tài năng của mình, ông tiếp tục nhận tấm bằng thủ khoa chuyên ngành Y học cổ truyền vào ngày 07/11/1992.

Giáo sư – Tiến sĩ – Bác Sĩ Bùi Chí Hiếu trao bằng tốt nghiệp loại thủ khoa cho Y Dược Sư  Nguyễn Viết Xô

 

Không chỉ trong nước, ước vọng vươn tới những chân trời y học mới đã thôi thúc ông dành tiếp 2 năm ròng rã nghiên cứu, học hỏi những tinh hoa y học hiện đại của hai nước Nhật Bản và Trung Quốc. Bởi vậy, trong khối óc của người thầy thuốc ấy luôn tiềm tàng một trình độ kiến thức uyên thâm từ y học cổ truyền đến y học hiện đại.

 

Có kẻ thiển cận nào đó ngờ rằng ông học chỉ vì danh vọng hay tiền bạc ư? Không hề, bởi cả khối óc và bầu máu nóng của ông đã và đang dành trọn cho những bệnh nhân nghèo khổ, những mảnh đời bất hạnh mà ông đã hết lòng cứu chữa trong suốt hơn 30 năm qua. Và cũng vì thế, ông đã lựa chọn cho mình một con đường riêng đề thưc hiện ước nguyện cùng niềm đam mê của mình – là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa võ học và y học , gọi là Y Võ Tâm Thuật.

 

Hồi sinh cho bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo.

 

Sau thời gian tốt nghiệp, Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô bắt đầu thực hiện ý tưởng đã ấp ủ của mình bao lâu nay đó là tự mình nghiên cứu phát minh ra những phương thuốc trị bệnh hiềm nghèo hiệu quả mà không phải tốn kém nhiều nhằm giúp đỡ những bệnh nhân đang chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo chưa tìm ra lối thoát bị cả xã hội kỳ thị như căn bệnh AIDS thế kỷ.

 

Suốt thời gian dài học hỏi và nghiên cứu, ông đã phát minh ra rất nhiều bài thuốc Nam từ cây cỏ thiên nhiên có những hoạt tính sinh học cao rất gần gũi và dễ tìm ở Việt Nam, đem vào điều trị cho bệnh nhân mắc phải những căn bệnh hiểm nghèo mà y học đã tưởng chừng bó tay như viêm gan C-B, ung thư vú, u xơ tử cung, phục hồi di chứng tai biến mạch máu não, thấp khớp goutte, viêm tắc tĩnh mạch, suy dãn tĩnh mạch và nhiều bệnh hiểm nghèo khác… đặc biệt là viên “Tăng Sức Đề Kháng”, kết quả của công trình nghiên cứu suốt 20 năm của ông, được đem vào điều trị miễn phí căn bệnh thế kỷ HIV tại phòng khám Chùa Kỳ Quang II từ năm 2003. Bệnh nhân được “hồi sinh” qua những phương thuốc nam gần gũi với tất cả tấm lòng và tình yêu thương con người vô bờ bến của một người thầy thuốc tận tâm. Thực tế, hàng ngàn bệnh nhân từng đứng giữa lằn ranh sinh tử thể hiện qua hồ sơ bệnh án mà bệnh viện trả về đã và đang dần hồi phục qua từng đợt điều trị bằng những bài thuốc của ông đã chứng minh điều đó.

 

Và cũng chính tình yêu thương con người, đặc biệt là những con người đang phải chịu đớn đau bệnh tật đã thôi thúc ông nhận lời mời của Hòa thượng Thích Thiện Chiếu,Viện chủ chùa Kỳ Quang II (Q.Gò Vấp,TPHCM) về xây dựng phòng khám từ thiện ở chùa để phục vụ cho bệnh nhân nghèo. Từ đây, ông đã dành trọn trí óc và công sức lao động của mình để khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho hàng ngàn bệnh nhân nghèo đến từ mọi vùng miền trên cả nước. Từ 02/2000 cho đến nay, ông và đội ngũ thầy thuốc do ông đào tạo tại đây đã chữa trị cho hàng triệu lượt bệnh nhân nghèo với tổng trị giá phục vụ lợi ích xã hội lên đến hàng trăm tỷ đồng.

truongphongkham

11201893_941571812532560_8810058620647074807_n
phai-doan-nhat-ban

Phái đoàn Y tế Nhật Bản đến giao lưu và trao đổi kinh nghiệm điều trị bằng Y học Đông Phương tại phòng khám TT- Tuệ Tĩnh Đường Chùa Kỳ Quang II Q.Gò Vấp Tp.HCM

 

Ông luôn dành tình thương đặc biệt đối với bệnh nhân nhiễm HIV, những người đang chống chọi với căn bệnh “tử thần” trong sự kỳ thị của xã hội và gia đình. Từ năm 2003 khi bài thuốc điều trị HIV được ông nghiên cứu thành công và đưa vào thử nghiệm lâm sàng, đã có hơn 5000 bệnh nhân được điều trị bằng viên Tăng Sức Đề Kháng và thu về những kết quả rất khả quan trong việc chống lại các bệnh cơ hội và nâng cao sức đề kháng cho cơ thể người bệnh. Chỉ tính riêng năm 2015, trong 570 bệnh nhân nhiễm HIV tới điều trị, có 250 bệnh nhân với chỉ số CD4 (chỉ số khả năng miễn dịch của cơ thể ) cực thấp nằm ở HIV giai đoạn giữa và cuối đã được ông bỏ ra hàng trăm triệu đồng để điều chế thuốc trong đợt điều trị 8 tháng. Nhờ vậy, sức khỏe của bệnh nhân đang dần được phục hồi và chỉ số CD4 tăng nhanh giúp chống lại các bệnh nhiễm trùng cơ hội so với điều trị bằng viên ARV thông thường. Ngoài ra, theo sự phản hồi của hơn 5000 bệnh nhân HIV từ năm 2003, viên thuốc giúp nâng cao sức đề kháng, tính miễn dịch, đẩy lùi các bệnh nhiễm trùng cơ hội, không để lại những tác dụng phụ không mong muốn trên lâm sàng, thuốc được dùng cho tất cả mọi đối tượng. Đó chính là thành quả xứng đáng cho tất cả những nổ lực, tâm huyết luôn cháy bỏng trong một người thầy thuốc uyên bác và tận tâm như Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô.

leramatTYV(1)
Ngoài việc cứu chữa cho bệnh nhân nghèo, ông còn thành lập Trung Tâm Huấn Luyện Tâm Y Võ trực thuộc tổ chức Unesco nhằm đào tạo nên những thế hệ y võ sư vừa có đức, vừa có tài để cống hiến và phục vụ đất nước. Ông tâm niệm: “Võ học chân chính không chỉ nhằm mục đích rèn luyện sức khỏe và phòng vệ chính đáng mà còn lấy tình yêu thương, lòng bác ái sự độ lượng phối hợp với y học để cứu chữa cho nhân loại thoát khỏi cảnh đau đớn, dày vò của thân xác, mang lại người bệnh niềm vui sống. Đó chính là điều mà tôi luôn ấp ủ trên con đường Y Võ Tâm Thuật của mình và cũng là nguyên do thành lập nên Trung Tâm Huấn Luyện Tâm- Y -Võ”. Chia tay với tôi, ông lại tất bật cho chuyến hành trình thiện nguyện tiếp theo đến với những bà con vùng sâu, vùng xa ở cao nguyên Di Linh, Đắc Lắc và Quảng Ngãi. Nơi nào có những bệnh nhân nghèo là nơi đó có ông – người thầy thuốc dành hơn nữa đời người cho sự nghiệp bảo vệ sức khỏe người dân và thúc đẩy nền Y Dược học nước nhà phát triển. Và ba chữ vàng Tâm – Y – Võ như là một nhân duyên Thiên Định hiếm có với một bàn tay và khối óc sáng tạo, cần mẫn như ông trên con đường Y Võ Tâm Thuật của mình.

 

BÁO CÁO: TỔNG KẾT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG PHÒNG KHÁM TỪ THIỆN “TUỆ TĨNH ĐƯỜNG”, CHÙA KỲ QUANG II, QUẬN GÒ VẤP TP.HCM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY

 

Để phát huy truyền thống nhân đạo của người Việt Nam vốn có từ ngàn xưa, trong tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ người hoạn nạn, rủi ro, bệnh tật. Xuất phát từ tấm lòng chân thành, từ bi của người con Phật, biết yêu thương con người, đồng loại, sẵn sàng chia sẽ những đớn đau bệnh tật, cùng với những mãnh đời bất hạn không cha, không mẹ, lang thang cơ nhỡ, không nơi nương tựa,… Phòng khám từ thiện Tuệ Tĩnh Đường Chùa Kỳ Quang II ra đời ngày 12/02/2000 (nhằm ngày mùng 8 tháng Giêng năm Canh Thìn). Được sự quan tâm giúp đỡ của Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh, các Hội Bảo trợ Xã Hội, Thành Hội Đông Y TP. Hồ Chí Minh và các cơ quan ban ngành khác, đã trở thành động lực mạnh mẽ hỗ trợ tinh thần Ban Điều hành Phòng khám hoàn thành công tác tốt.

 

I/ Kết quả hoạt động:

 

Phòng khám đã khám và chữa trị cho nhân dân trên cả nước, kể cả bệnh nhân đến từ Hải ngoại bao gồm các nhóm bệnh như: bệnh Tâm thể, bệnh mãn tính của Hệ tim mạch, Hệ hô hấp – Hệ thần kinh, xương khớp – Bệnh da liễu, bệnh Rối loạn chuyển hóa nội tiết. Đặc biệt tư vấn, chăm sóc và điều trị hỗ trợ miễn phí cho người nhiễm HIV/AIDS bằng nguồn thảo dược thiên nhiên Việt Nam, đạt hiệu quả tương đối nhất định trên 80%.

 

Mỗi ngày có từ 400 – 500 bệnh nhân đến đây khám và điều trị cụ thể như sau:

 

– Di chứng tai biến mạch máu não chiếm 15%.
– Viêm gan siêu vi B & C thể hoạt động và nhiễm siêu vi cúm chiếm 20%.
– Viêm tắt tĩnh mạch – động mạch – suy dãn tĩnh mạch chiếm 15%. Đã có thuốc đặc trị cho nhóm bệnh nan y này từ nguồn thảo dược thiên nhiên do chính công trình nghiên cưu khoa học của Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô và tập thể phòng khám.
– Bệnh về Cột sống – Xương khớp (Thoái hóa cột sống, gai cột sống, thoái hóa xương khớp, trượt cột sống, xẹp đĩa đệm, thoát vị đĩa đệm, viêm đã khớp dạng thấp, thấp khớp – goutte) chiếm 20%.
– Đau dây thần kinh tọa, liệt dây thần kinh số 5, số 7 (liệt mặt, méo miệng, sụp mí mắt), đau dây thần kinh liên sườn chiếm 20%.
– Bệnh chuyển hóa về Nội tiết (tiểu đường) chiếm 10%.
*Phòng khám điều trị các nhóm bệnh nêu trên đạt hiệu quả >80%.

 

II/ Tư vấn chăm sóc và hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS:

 

Văn phòng tư vấn và chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS được thành lập vào ngày 07/11/2003 tại chùa Kỳ Quang II, sau khi nhận được quyết định của Thường trực Ban trị sự thành hội Phật Giáo TP.HCM. Do hòa thượng Thích Thiện Chiếu phó ban từ thiện Trung ương Phật Giáo Việt Nam, Viện Chủ, Giám Đốc cơ sở từ thiện xã hội Phật Giáo chùa Kỳ Quang II Quận Gò Vấp trực tiếp điều hành. Ban tư vấn gồm 13 thành viên của phòng khám từ thiện Tuệ Tĩnh Đường.

 

Người được giao nhiệm vụ thực hiện là Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô Trường phòng khám cùng tất cả thành viên trong ban tư vấn được tập huấn tại Thái Lan do UNICEF tổ chức. Số lượng bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đã được chăm sóc và hỗ trợ tại phòng khám từ thiện Tuệ Tĩnh Đường chùa Kỳ Quang II, Quận Gò Vấp, Tp.Hồ Chí Minh từ năm 2004 cho đến nay:

 

Năm 2004 / 318L/người, năm 2005 / 415 L/người, năm 2006 / 612 L/người, năm 2007 / 673 L/người, năm 2008 / 685 L/người, năm 2009 / 1082 L/người, năm 2010 / 707 L/người, năm 2011 / 725 L/người, năm 2012 / 730 L/người, năm 2013 / 518 L/người, năm 2014 / 450 L/người, năm 2015 / 570 L/người, năm 2016 / 978 L/người, năm 2017 / 650 L/người, năm 2018 / 220 L/người, năm 2019 / 105 L/người, năm 2020 / 91L/người.

 

** Tổng giá trị lợi ích phục vụ Xã hội trong những năm qua hơn hàng trăm tỷ đồng. **

 

Bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS được tư vấn chăm sóc và hỗ trợ hoàn toàn miễn phí bằng nguồn thảo dược thiên nhiên Việt Nam. Đặc biệt VIÊN TĂNG SỨC ĐỀ KHÁNG do Y – Dược sư Nguyễn Viết Xô điều chế từ chính công trình nghiên cứu khoa học của ông, được ứng dụng điều trị từ năm 2004. Là loại thuốc HỖ TRỢ có tác dụng cải thiện sức khỏe cho người nhiễm HIV trong việc giải quyết trình trạng suy giảm khả năng miễn dịch, rối loạn dạng tự miễn; điều chỉnh sự rối loạn ở hệ thống nội mô; nâng cao khả năng miễn dịch và sức đề kháng cơ thể; giảm các bệnh nhiễm trùng cơ hội; gia tăng số lượng tế bào CD4 và CD8; cải thiện lâu dài tình trạng miễn dịch, cải thiện chức năng thần kinh; phòng ngừa suy giảm khả năng miễn dịch, thuốc không gây tác dụng phụ và an toàn dành cho mọi đối tượng sử dụng. Đặc biệt VIÊN NÂNG SỨC ĐỀ KHÁNG dùng được cho mọi đối tượng như: suy nhược cơ thể, người gầy yếu, chán ăn, tổng trạng bị suy sụp…

 

Vào ngày 04/02/2010, Y – Dược sư Nguyễn Viết Xô được Thủ Tướng Chính Phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tặng bằng khen và Huân chương Lao động hạng 3 do Chủ Tịch nước ban tặng cho cơ sở từ thiện Phật Giáo chùa Kỳ Quang II Quận Gò Vấp, TP.Hồ Chí Minh và tập thể phòng khám từ thiện Tuệ Tĩnh Đường.

 

 

Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô nhận bằng khen của UBMT Tổ Quốc Việt Nam TP.HCM ngày 02/12/2008

Ngày 01/06/2020 Ban Chấp Hành Trung Ương Hội Đông Y Việt Nam tặng Kỷ Niệm Chương Vì Sự Nghiệp Đông Y.

 

Một vài hình ảnh hoạt động của phòng khám từ thiện chùa Kỳ Quang II:

 

Ban lãnh đạo UBND TP.HCM cùng với Thường trực Ban Trị Sự Thành Hội Phật Giáo TP.HCM trao quyết định thành lập văn phòng tư vấn và chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám từ thiện chùa Kỳ Quang II, ngày 07/11/2003

Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô báo cáo tình hình hoạt động của phòng khám hàng năm:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình ảnh các phái đoàn Y Khoa Thế Giới đến thăm Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô tại phòng khám:

 

Phái đoàn bác sĩ Pháp đến phòng khám trao đổi kinh nghiệm điều trị Y học Cổ Truyền Đông Phương

 

Các bác sĩ Anh Quốc đến học tập và trao đổi kinh nghiệm điều trị bằng phương pháp Y Học Cổ Truyền Đông Phương

 

Các chuyên gia Y Học Nhật Bản đến thăm Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô để trao đổi kinh nghiệm điều trị

 

Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô đang khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền cho nhân dân trên toàn quốc tại phòng khám

 

Các bệnh nhân đến từ mọi miền đất nước chờ khám bệnh

 

 

 

 

 

 

 

 


Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô đang chăm sóc và khám bệnh cho các cô nhi:

 

 

Ngoài việc khám chữa bệnh cho nhân dân trên toàn quốc, Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô còn thành lập trung tâm đào tạo Y Dược Học Cổ Truyền Đông Phương trực thuộc UNESCO.

 


Một số hình ảnh tại trung tâm đào tạo do Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô trực tiếp giảng dạy:

 

 

 

 

 

 

 

 

Giám Đốc trung tâm đào tạo Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô đang trao bằng tốt nghiệp cho các học viên:

 

 

 

 

 

 

 

 

Cùng với sự đào tạo y học cổ truyền cho các học viên, Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô đặc biệt chú trọng đến các lớp đào tạo về bấm huyệt cho các em khiếm thị trên toàn quốc, được tổ chức tại phòng khám từ thiện chùa Kỳ Quang II, Quận Gò Vấp từ năm 2000 cho đến nay. Mỗi năm phòng khám đào tạo trung bình khoảng 60 em, đặc biệt năm 2016 có 98 em học viên tham dự lớp học, năm 2017 có 59 em, năm 2018 có 51 em, năm 2019 có 42 em. Qua tổng kết 19 khóa học, có trên 1140 em học viên đã cấp bằng tốt nghiệp, hiện tại các em đang phục vụ cho bệnh nhân tại các phòng khám Đông Y trên toàn quốc. Xin cảm ơn sự giảng dạy và quan tâm của các Y Bác Sĩ Viện Y Học Dân Tộc TP.HCM, Hội Đông Y Quận Gò Vấp, đặc biệt sự quan tâm giúp đỡ của chính quyền địa phương.

Trong quá trình khám chữa bệnh tại phòng khám hơn 20 năm qua, Y Dược Sư Nguyễn Viết Xô, đã đúc kết được những phương pháp khám và điều trị của nền y học Đông Phương thông qua các sách Kinh Điển của thánh nhân truyền lại như:

 

– Châm thuật, mạch lý trong bộ kinh điển Hoàng Đế Nội Kinh Linh Khu – Tố Vấn – Nan Kinh và bộ Thần Nông Bản Thảo Kinh cụ thể như sau:
Trích đoạn:

 

Bản gốc:
九鍼十二原篇第一
黃帝問於岐伯曰:余子萬民,養百姓,而收其租稅。余哀其不給,而屬有疾病。余欲勿使被毒藥,無用砭石,欲以微鍼通其經脈,調其血氣,營其逆順出入之會。令可傳於後世,必明為之法。令終而不滅,久而不絕,易用難忘,為之經紀;異其章,別其表里,為其終始。令各有形,先立《鍼經》。願聞其情。岐伯答曰:臣請推而次之,令有綱紀,始於一,終于九焉。
請言其道。小鍼之要,易陳而難入。粗守形,上守神。神乎神,客在門。未覩其疾,惡知其原?刺之微,在速遲。粗守關,上守機。機之動,不離其空。空中之機,清靜而微。其來不可逢,其往不可追。知機之道者,不可掛以髮。不知機道,叩之不發。知其往來,要與之期。粗之闇乎。妙哉,工獨有之。往者為逆,來者為順。明知逆順,正行無問。迎而奪之,惡得無虛?追而濟之,惡得無實?迎之隨之,以意和之,鍼道畢矣。
凡用鍼者,虛則實之,滿則泄之,宛陳則除之,邪勝則虛之。《大要》曰,徐而疾則實,疾而徐則虛。言實與虛,若有若無。察後與先,若存若亡。為虛為實,若得若失。虛實之要,九鍼最妙。補瀉之時,以鍼為之。瀉曰,必持內之,放而出之,排陽得鍼,邪氣得泄。按而引鍼,是謂內溫,血不得散,氣不得出也。補曰,隨之隨之,意若妄之。若行若按,如蚊虻止,如留而逞,去如弦絕,令左屬右,其氣故止。外門已閉,中氣乃實,必無留血,急取誅之。
持鍼之道,堅者為寶。正指直刺,無鍼左右。神在秋毫,屬意病者,審視血脈,刺之無殆。方刺之時,必在懸陽,及與兩衛。神屬勿去,知病存亡。血脈者在腧橫居,視之獨澄,切之獨堅。
九鍼之名,各不同形。一曰鑱鍼,長一寸六分;二曰員鍼,長一寸六分;三曰鍉鍼,長三寸半;四曰鋒鍼,長一寸六分;五曰鈹鍼,長四寸廣二分半;六曰員利鍼,長一寸六分;七曰毫鍼,長三寸六分;八曰長鍼,長七寸;九曰大鍼,長四寸。鑱鍼者,頭大末銳,去瀉陽氣。員鍼者,鍼如卵形,揩摩分間,不得傷肌肉,以瀉分氣。鍉鍼者,鋒如黍粟之銳,主按脈勿陷,以致其氣。鋒鍼者,刃三隅以發痼疾。鈹鍼者,末如劍鋒,以取大膿。員利鍼者,大如氂,且員且銳,中身微大,以取暴氣。毫鍼者,尖如蚊虻喙,靜以徐往,微以久留之而養,以取痛痺。長鍼者,鋒利身薄,可以取遠痺。大鍼者,尖如挺,其鋒微員,以瀉機關之水也。九鍼畢矣。
夫氣之在脈也,邪氣在上,濁氣在中,清氣在下。故鍼陷脈則邪氣出,鍼中脈則濁氣出,鍼太深則邪氣反沉病益。故曰,皮肉筋脈,各有所處。病各有所宜,各不同形,各以任其所宜,無實無虛。損不足而益有餘,是謂甚病,病益甚。取五脈者死,取三脈者恇;奪陰者死,奪陽者狂。鍼害畢矣。
刺之而氣不至,無問其數。刺之而氣至,乃去之,勿復鍼。鍼各有所宜,各不同形,各任其所為。刺之要,氣至而有效。效之信,若風之吹雲,明乎若見蒼天。刺之道畢矣。
黃帝曰:願聞五臟六腑所出之處。岐伯曰:五臟五腧,五五二十五腧。六腑六腧,六六三十六腧。經脈十二,絡脈十五,凡二十七氣。以上下所出為井,所溜為榮,所注為輸,所行為經,所入為合,二十七氣所行,皆在五腧也。
節之交,三百六十五會。知其要者,一言而終,不知其要,流散無窮。所言節者,神氣之所遊行出入也,非皮肉筋骨也。
觀其色,察其目,知其散復。一其形,聽其動靜,知其邪正。右主推之,左持而禦之,氣至而去之。
凡將用鍼,必先診脈,視氣之劇易,乃可以治也。五臟之氣,已絕於內,而用鍼者反實其外,是謂重竭。重竭必死,其死也靜。治之者輒反其氣,取腋與膺。五臟之氣,已絕於外,而用鍼者反實其內,是謂逆厥。逆厥則必死
其死也躁。治之者反取四末。
刺之害中而不去,則精泄;害中而去,則致氣。精泄則病益甚而恇,致氣則生為癰瘍。
五臟有六腑,六腑有十二原,十二原出于四關,四關主治五臟。五臟有疾,當取之十二原。十二原者,五臟之所以稟三百六十五節氣味也。五臟有疾也,應出十二原。十二原各有所出。明知其原,覩其應,而知五臟之害矣。陽中之少陰,肺也,其原出於太淵,太淵二。陽中之太陽,心也,其原出於大陵,大陵二。陰中之少陽,肝也,其原出於太衝,太衝二。陰中之至陰,脾也,其原出於太白,太白二。陰中之太陰,腎也,其原出於太谿,太谿二。膏之原,出於鳩尾,鳩尾一。肓之原,出於脖胦,脖胦一。凡此十二原者,主治五臟六腑之有疾者也。
脹取三陽,飧泄取三陰。
今夫五臟之有疾也,譬猶刺也,猶污也,猶結也,猶閉也。刺雖久,猶可拔也;污雖久,猶可雪也;結雖久,猶可解也;閉雖久,猶可決也。或言久疾之不可取者,非其說也。夫善用鍼者,取其疾也,猶拔刺也,猶雪污也,猶解結也,猶決閉也。疾雖久,猶可畢也。言不可治者,未得其術也。
刺諸熱者,如以手探湯;刺寒清者,如人不欲行。陰有陽病者,取之下陵三里,正往無殆,氣下乃止,不下復始也。疾高而內者,取之陰之陵泉;疾高而外者,取之陽之陵泉也。

Bản dịch:

 

CỬU CHÂM THẬP NHỊ NGUYÊN

 

Hoàng đế hỏi Kỳ Bá: “Ta xem vạn dân như con, ta nuôi dưỡng trăm họ, thu tô thuế của họ. Ta chỉ buồn là nuôi họ không đủ để rồi họ bị bệnh tật [1]. Ta không muốn để cho họ bị uống phải độc dược, cũng không muốn dùng đá để biếm[2]. Ta muốn dùng loại kim vi châm để thông kinh mạch cho họ, điều hòa khí huyết cho họ, làm thế nào để cho khí huyết vận hành theo nghịch hay thuận đều có chỗ hội nhau [3] . (Những ước muốn trên) phải có cách nào có thể truyền lại cho hậu thế [4]. Muốn truyền được ắt phải có những phương pháp rõ ràng, ắt phải đạt được kết quả cuối cùng mà không bị hủy diệt, tuy dùng lâu đời mà vẫn không bị tuyệt, dễ làm, khó quên, đáng làm khuôn mẫu có cương kỷ, tách riêng bằng những phạm vi, chương trình, phân biệt biểu và lý, có thỉ có chung [5]. Biết được một cách cụ thể bệnh nào châm kim nào [6]. Vậy trước hết phải viết ra quyển sách CHÂM KINH. Ta mong được nghe thầy trình bày rõ ràng hơn” [7].
Kỳ Bá đáp : “Thần xin được theo thứ tự mà trình bày rộng ra, làm sao cho vấn đề có cương, có kỷ, bắt đầu ở Nhất và chấm dứt ở Cửu [8]. Trước hết, Thần xin nói về (Châm) Đạo [9]. Việc quan trọng trong khi sử dụng tiểu châm là dễ trình bày nhưng rất khó thực hành [10]. Phương pháp vụng về là chỉ lo giữ về mặt hình thái (của bệnh), phương pháp khéo léo là phải lo lưu ý đến thần khí [11]. Thần ư ! Thần và khách đều gặp nhau ở cửa của các kinh. chưa thấy được bệnh ở đâu, làm sao biết được nguyên gốc của bệnh? [12]. Sự vi diệu của phép châm là ở chỗ nhanh hay chậm [13]. Phương pháp vụng về là chỉ lo giữ lấy tứ chi, phương pháp khéo léo là lo giữ cơ [14]. Khi nói đến cái động của cơ là ý nói người châm không được rời sự chú ý của mình đối với huyệt khí [15].

 

Cơ của huyệt khí vận hành một cách thanh tĩnh, cho nên chúng ta phải chú ý một cách tinh vi [16]. Không nên đón gặp khi nó đến, không nên rượt theo khi nó ra đi [17]. Người biết được con đường vận hành của cơ thì không để sai sót dù là việc nhỏ bằng một sợi tóc [18]. Người không biết con đường vận hành của cơ thì dù có đánh vào nó, nó cũng không phát ra vậy [19]. Biết được con đường vãng lai của khí thì sẽ biết được lúc nào có thể thủ huyệt để châm [20]. Thực là tối tăm thay không những kẻ không biết được (sự vi diệu của cơ)! [21]. Thực là khéo léo thay người nào hiểu rõ châm ý đó [22]. Khí vãng gọi là nghịch, khí lai gọi là thuận [23]. Biết được sự thuận hay nghịch thì sẽ thực hành việc châm bằng con đường chính đạo, không còn thắc mắc gì nữa! [24].

 

Khí nghịch mà chúng ta dùng phép đoạt, làm sao tránh khỏi sẽ gây cho khí bị hư thêm? [25]. (Khi khí đã ra đi) mà ta rượt theo để thêm cho nó, làm sao tránh khỏi gây cho khí bị thực thêm? [26]. Phép châm theo đúng “nghênh, tùy”, lấy ý để điều hòa nó [27]. Được vậy thì đạo của phép châm mới tròn vẹn vậy” [28].

 

Phàm khi dụng châm: hư thì áp dụng phép châm thực, mãn thì áp dụng phép châm tiết [29]. Khi tà khí bị tích tàng lâu ngày thì phải trừ đi, khi tà khí thắng thì phải áp dụng phép châm hư [30]. Thiên “Đại Yếu” nói rằng: Châm theo phép “chậm rồi nhanh” gọi là châm thực [31]. Châm theo phép “nhanh rồi chậm” gọi là châm hư [32].

 

Khi nói đến “thực và hư” là muốn nói đến một cái gì như “có”, như “không có” [33]. Khi nói đến “xét sau và trước” là muốn nói đến một cái gì như “còn” như “mất” [34]. Khi nói đến “hư và thực” là muốn nói đến một cái gì như “được”, như “mất” [35]. Việc trị hư và thực rất quan trọng, dùng phép ‘Cửu châm’ là hay nhất, nhưng phải đợi đúng thời thích hợp cho việc bổ hoặc tả để mà châm [36].

 

Khi dùng phép tả, tức là dùng phép “nghênh chi”, “nghênh chi” có nghĩa là bắt buộc kim phải được nắm cho chắc, và bên trong phải thật bén nhọn [37]. Đợi lúc khí đến thì phải rút kim thật nhanh và án phải thật chậm, nhờ đó có thể mở được con đường dương đạo giúp cho tà khí tiết ra ngoài [38]. Khi rút kim ra (trong phép tả) mà án huyệt, như vậy sẽ làm cho tà khí bị đẩy trở vào và chất chứa bên trong, huyết sẽ không tán được, khí sẽ không xuất được [39].

 

Khi dùng phép bổ, tức là dùng phép “tùy chi” [40]. “Tùy chi” có nghĩa là phải làm sao cho người bệnh ít bị kích thích, giống như không có chuyện gì xẩy ra, giống như đang châm, đang dừng (tiến hành thật chậm), giống như con muỗi đang đậu lên, giống như đang giữ lại, đang lấy về [41]. Khi rút kim ra phải thật nhanh như dây đàn bị đứt, vừa làm công việc bên tả, lại lo việc bên hữu, như vậy khí sẽ bị dừng lại, cửa ngoài bị đã bị bế thì khí bên trong mới thực [42]. Điều quan trọng là không làm cho huyết bị lưu giữ (bên trong) [43]. Nếu huyết bị lưu giữ, phải châm xuất cho thật nhanh [44].

 

Đạo giữ kim phải giữ cho vững mới thật quý, ngay thẳng như ngón tay châm thẳng xuống, không nên nghiêng tả hoặc nghiêng hữu [45]. (Phép giữ) thần khí (phải tinh vi) chính xác như sợi lông mùa thu, phải theo dõi kỹ lưỡng tình trạng bệnh của bệnh nhân [46]. Xét kỹ, xem kỹ huyết mạch, khi châm vào sẽ không còn lo lắng [47]. Trong lúc vừa châm xong, việc theo dõi thần khí là quan trọng nhất, sau đó là để ý đến vệ khí (tại biểu) và tỳ khí (tại tạng phủ) [48]. Nếu thần khí còn, chưa mất thì mới có thể đoán được bệnh sống hay chết [49]. Huyết mạch liên lạc chiều ngang với các kinh du, phải nhìn rõ một cách sáng suốt, phải trừ bỏ nó một cách vững vàng [50].

 

Tên gọi của 9 loại kim châm, mỗi loại đều có hình dáng khác nhau [51]. Một gọi là Sàm châm, dài 1 thốn 6 phân; Hai gọi là Viên châm, dài 1 thốn 6 phân; Ba gọi là Đề châm, dài 3 thốn rưỡi; Bốn gọi là Phong châm, dài 1 thốn 6 phân; Năm gọi là Phi châm, dài 4 thốn, rộng 2 phân rưỡi; Sáu gọi là Viên lợi châm, dài 1 thốn 6 phân; Bảy gọi là Hào châm, dài 3 thốn 6 phân; Tám gọi là Trường châm, dài 7 thốn; Chín gọi là Đại châm, dài 4 thốn [52].

 

Sàm châm đầu to mũi nhọn, dùng làm tiết tả dương khí [53]. Viên châm mũi hình như quả trứng, dùng như để xoa chùi trong khoảng phận nhục, không để cho thương tổn phần cơ nhục, dùng để châm cho khí ở giữa khoảng phận nhục tiết ra [54]. Đề châm nhọn như mũi nhọn của hạt lúa thử, chủ về việc án lên mạch không cho bị hãm vào, nhằm làm cho kim tiếp xúc được với khí [55]. Phong châm là loại kim 3 mặt có cạnh sắc, dùng để phát tiết tà khí, trừ cố tật [56]. Phi châm là loại kim thân và mũi nhọn như lưỡi kiếm, dùng để châm lấy mủ [57]. Viên lợi châm to như sợi lông dài, vừa tròn vừa nhọn, giữa thân hơi to ra, dùng để châm lấy bạo khí [58]. Hào châm mũi nhọn như mũi con muỗi, khi châm thì khí sẽ đến một cách yên tĩnh, chậm chạp và nhẹ nhàng cho nên có thể lưu kim thật lâu nhằm dưỡng chính khí và trừ được tà khí đã gây nên chứng thống tý [59]. Trường châm mũi nhọn mà thân mỏng, có thể dùng để lấy khí tý ở xa [60]. Đại châm hình như cây côn mũi nhọn, phần mũi nhỏ, tròn, dùng để tả thủy ở các nơi quan tiết [61]. Cửu châm đến đây là hết” [62].

 

Ôi ! khí ở tại mạch: tà khí trúng thì ở trên, trọc khí trúng thì ở giữa, thanh khí trúng thì ở dưới [63]. Cho nên châm vào hãm mạch thì tà khí bị xuất rất, châm vào trung mạch thì trọc khí xuất ra, châm vào quá sâu thì tà khí ngược lại, trầm xuống, bệnh càng nặng hơn [64]. Cho nên nói rằng: Bì, phu, cân, mạch, mỗi bộ phận đều có chỗ “xứ: ở” của nó, còn các bệnh đều có chỗ “tạm trú” của nó [65]. Tất cả đều biểu hiện không giống nhau và đều có vai trò riêng của nó, không thể quy định đâu là thực đâu là hư [66]. Nếu ta bớt đi cái “bất túc” để thêm vào cho cái:hữu dư” thì đó gọi là làm cho bệnh nặng hơn [67]. Bệnh càng nặng, nếu châm vào các du huyệt của ngũ tạng thì sẽ chết, nếu châm vào mạch của tam dương thì sẽ làm cho tình trạng suy kiệt hơn [68]. Châm “đoạt âm” thì phải chết, châm “đoạt dương” thì sẽ cuồng [69]. Sự hại của việc châm trị như vậy là rất đầy đủ rồi vậy [70].

 

Khi châm mà khí chưa đến thì không thể kể đến bao lâu [71]. Khi châm mà khí đã đến thì thôi, không nên châm tiếp trở lại [72]. Phép châm có những nguyên tắc thích hợp, có những cách châm không giống nhau, có những phép châm tùy theo bệnh, đó là những điểm quan trọng của phép châm [73]. Khi nào khí đến đó là châm có kết quả tốt [74]. Dấu hiệu của kết quả tốt ví như gió thổi tan đám mây che, sẽ sáng tỏ như thấy được trời xanh [75]. Đạo của việc châm như vậy là đầy đủ rồi vậy [76].

 

Hoàng Đế nói: “Ta mong nghe được trình bày về nơi xuất ra của ngũ tạng, lục phủ” [77]. Kỳ Bá đáp : “Ngũ tạng có ngũ du, ngũ ngũ là nhị thập ngũ du [78]. Lục phủ có lục du, lục lục là tam thập lục du [79]. Kinh mạch có thập nhị, lạc mạch có thập ngũ, tất cả là nhị thập thất khí, nhằm để (làm đường) đi lên và đi xuống [80].

 

Chỗ xuất ra gọi là huyệt Tỉnh [81]. Chỗ lưu gọi là Vinh [82]. Chỗ chú gọi là Du [83]. Chỗ hành gọi là Kinh [84]. Chỗ nhập gọi là Hợp [85]. Con đường vận hành của nhị thập thất khí đều ở ngũ du huyệt vậy [86].

 

Chỗ giao nhau của tiết có tam bách lục thập ngũ (365) hội [87]. Nếu biết được chỗ quan yếu của nó thì có thể dùng một lời nói mà hiểu được tất cả [88]. Nếu không biết chỗ quan yếu của nó thì sẽ hiểu một cách lưu tán vô cùng [89]. Cái gọi là tiết, chính là nơi du hành, xuất nhập của thần khí, nó không phải là cái thuộc bì, nhục, cân, cốt vậy” [90].

 

Quan cái sắc, sát đôi mắt, sẽ biết được bệnh đã hết hay còn trở lại [91]. (Người thầy thuốc) phải chuyên chú vào tâm của mình, vào bệnh hình của bệnh nhân, phải theo dõi sát tình huống động hay tĩnh của bệnh, phải luận đúng về tà phong hay chính phong [92]. Tay mặt đẩy kim vào, tay trái nắm vững kim để giữ gìn cẩn thận, khi nào khí đến thì rút kim ra [93].

 

Phàm trong phép dụng châm, trước hết nên chẩn mạch, phải xét thần khí xem tình trạng nguy kịch hay đang bình thường rồi mới trị [94].

 

Khi khí của ngũ tạng bị tuyệt bên ngoài, nếu ta dùng phép châm ngược lại, sẽ làm cho bên trong thêm thực, đó gọi là nghịch quyết [95]. Bị nghịch quyết thì phải chết, khi chết thì ở tình trạng sao động, đó là vì người dùng phép châm trị đã châm theo lối tứ mạt [96].

 

Cái hại của việc châm, đó là châm trúng khí mà chưa chịu rút kim ra, như vậy sẽ làm cho tinh khí bị tiết ra ngoài, hoặc châm chưa trúng khí mà đã rút kim ra, sẽ làm cho khí huyết bị tích trệ [97]. Tinh khí bị tiết thì bệnh sẽ nặng và suy tàn [98]. Khí huyết bị tích trệ sẽ gây thành bệnh ung và nhọt [99].

 

Ngũ tạng có lục phủ, lục phủ có thập nhị Nguyên [100]. Thập nhị Nguyên đều xuất ra ở tứ quan [101]. Tứ quan chủ trị ngũ tạng [102]. Ngũ tạng có bệnh nên thủ huyệt của thập nhị Nguyên [103]. Thập nhị Nguyên là nơi mà ngũ tạng bẩm thụ “khí vị” của 365 tiết [104]. Ngũ tạng có bệnh phải xuất ra ở thập nhị Nguyên [105]. Thập nhị Nguyên đều có chỗ xuất của nó [106]. Nếu chúng ta biết rõ các Nguyên huyệt, và chúng ta thấy được những biến ứng của nó thì chúng ta sẽ biết được tình trạng bị hại (bệnh) của ngũ tạng vậy [107].

 

Phế thuộc Thiếu âm trong Dương, huyệt Nguyên của nó xuất ra ở huyệt Thái uyên, có 2 huyệt [108]. Tâm thuộc Thái dương trong dương , Nguyên của nó xuất ra ở huyệt Đại Lăng, Đại Lăng có 2 huyệt [109]. Can thuộc Thiếu dương trong Âm, huyệt Nguyên của nó xuất ra ở huyệt Thái Xung, Thái Xung có 2 huyệt [110]. Tỳ thuộc Chí âm trong Âm, huyệt Nguyên của nó xuất ra ở huyệt Thái Bạch, Thái Bạch có 2 huyệt [111]. Thận thuộc Thái âm trong Âm, huyệt Nguyên của nó xuất ra ở huyệt Thái Khê, Thái Khê có 2 huyệt [112]. Huyệt Nguyên của Cao xuất ra ở huyệt Cưu Vĩ, Cưu Vĩ có 1 huyệt [113]. Huyệt Nguyên của Hoang xuất ra ở huyệt Bột Ương, Bột Ương có 1 huyệt [114]. Phàm tất cả thập nhị Nguyên chủ trị về bệnh của ngũ tạng và lục phủ vậy [115].

 

Bệnh trướng thì thủ huyệt của các kinh tam Dương, bệnh tiêu chảy thì thủ các huyệt của các kinh tam Âm [116].

 

Nay ngũ tạng có bệnh, thí dụ như đang có 1 cái gì cầm dính vào, như đang có 1 cái gì dơ bẩn, như đang có 1 cái gì kết tụ lại, như đang có 1 cái gì bế tắc [117].
Cái gì “cầm dính vào” ấy, tuy dính lâu, vẫn có thể nhổ lên được, cái gì “dơ bẩn” ấy, tuy dơ lâu, vẫn có thể rửa sạch được, cái gì “kết tụ” ấy, tuy kết lâu, vẫn có thể cởi mở được, cái gì “bế tắc” ấy, tuy bế lâu, vẫn có thể khai ngòi cho thoát được [118].

 

Nay nếu có người cho rằng bệnh lâu, không thể thủ huyệt để chữa trị, lời nói ấy sai [119]. Ôi! Người khéo dụng châm, khi thủ huyệt để trị bệnh, phải giống như một người đang làm công tác “nhổ một vật đang cầm dính vào”, đang “rửa sạch một vật đang dơ bẩn”, đang “cởi mở một vật đang kết tụ”, đang “khai ngòi một vật đang bế tắc” [120]. Bệnh tuy đã lâu, nhưng vẫn có thể trị được [121]. Người nào bảo rằng không trị được, đó là vì họ chưa nắm được (châm) thuật mà thôi [122].

 

Khi châm về nhiệt, phải như người đang thọc tay vào nước canh nóng [123]. Khi châm về hàn, phải như có người đang bịn rịn không muốn ra đi [124]. Nếu ở âm phận mà có bệnh thuộc về dương, phải thủ huyệt hạ lăng tam lý [125]. Phải chăm chú một cách đứng đắn, không được lười biếng, cho đến khi tà khí thoát hết mới thôi [126]. Nếu chưa thoát hết phải châm trở lại [127]. Bệnh ở phần trên xâm nhập vào thì phải thủhuyệt Âm lăng tuyền [128]. Bệnh ở phần trên, xuất ra ngoài thì nên thủ huyệt Dương lăng tuyền.

 

CÁC PHƯƠNG PHÁP CẤP CỨU KHI BỊ ĐẢ THƯƠNG TRÊN VŨ ĐÀI, HOẶC TRÚNG VÀO CÁC TRỌNG HUYỆT VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP CHẤN THƯƠNG DO RỦI RO KHÁC

 

Tác giả: Y – DƯỢC SƯ – VÕ SƯ NGUYỄN VIẾT XÔ

 
Theo học thuyết Khí hóa của Y học Đông Phương, thì cơ thể con người là một vũ trụ thu hẹp. Cho nên khí huyết được lưu hành trong thập nhị kinh mạch (12 đường kinh) theo một chu trình thứ tự. Thánh nhân đã nhìn thấy khí huyết vận chuyển trên các đường kinh mạch bắt đầu từ Thủ Thái Âm Phế Kinh và kết thúc ở Túc Quyết Âm Can Kinh (trong lúc nhập định). Thời điểm khí huyết lưu hành trong hệ thống kinh mạch còn phụ thuộc theo 12 canh giờ (chiếu theo Thập nhị địa chi), từ giờ Tý đến giờ Hợi.
Ngoài ra khí huyết còn vận hành theo ngày, tháng, mùa, năm… Vì vậy chúng ta cần hiểu biết thời gian nào kinh khí bắt đầu vận chuyển, lưu hành đi đến bộ phận nào và kết thúc tại đâu, để có thể đề ra những phương pháp chẩn đoán trị liệu và cấp cứu trong trường hợp cần thiết,…

 

Y học cổ truyền Đông Phương cho rằng trên cơ thể con người có 365 huyệt đạo được phân bố khác nhau trên các đường kinh lạc. Trong đó có 108 huyệt tối quan trọng và 257 huyệt phụ.Trong số 108 huyệt này có 36 tử huyệt và 72 huyệt có tầm sát thương lớn. Các môn sinh thuộc môn phái Hợp Quyền đạo – Y Võ Tâm Thuật cần lưu ý và bảo vệ trong khi tập luyện và thi đấu.

 

Ví dụ các tử huyệt sau đây:

 
– Đản Trung
Vị trí: Ở điểm gặp nhau của đường dọc giữa xương ức với đường ngang qua 2 đầu núm vú (đàn ông) hoặc ngang qua bờ trên 2 khớp xương ức thứ 5 (đàn bà).
Khi bị đánh trúng: Nạn nhân không thở được, và có thể ngưng tim đột ngột (huyệt hội của khí).

 
– Trung Phủ
Vị trí: Dưới cuối ngoài xương đòn gánh khoảng 01 thốn, hoặc giữa xương sườn 1 và 2, cách đường giữa ngực 06 thốn.
Khi bị đánh trung: Nạn nhân sẽ bị tê liệt toàn thân và hôn mê.

 
– Khuyết Bồn
Vị trí: Ở chỗ lõm sát bờ trên xương đòn, ngay đầu ngực thẳng lên, dưới huyệt là hố trên đòn.
Khi bị đánh trúng: Nạn nhân ngã lăn ra, hôn mê bất tỉnh.

 
CÁC HUYỆT ĐẠO DÙNG TRONG TRƯỜNG HỢP CẤP CỨU

 
Huyệt thứ 1: Huyệt Nhân Trung – cấp cứu trong trường hợp bất tỉnh.

 
Vị trí huyệt nằm tại điểm nối 1/3 trên và 2/3 dưới của rãnh Nhân trung, giữa đáy rãnh. Kích thích huyệt này có tác dụng giúp huyết áp tăng cao, điều hòa thân nhiệt, và giúp cải thiện tuần hoàn máu não,…
Điều trị: Liệt dây thần kinh III, V, VII ngoại biên, cấp cứu ngất, hôn mê, động kinh, phát cuồng, trụy tim mạch, trúng gió.
Thao tác: Dùng mô thịt đầu ngón tay cái ấn lên huyệt Nhân trung từ 7-21 lần, hoặc dùng kim châm cứu châm vào huyệt với độ sâu 1cm. Nên đưa bệnh nhân đến bệnh viện để kịp thời chữa trị.

 
Huyệt thứ 2: Thái Dương Huyệt –giảm nhanh các cơn đau đầu, choáng…

 
Huyệt thứ 3: Thiếu Thương Huyệt – kích thích thần kinh trung ương, giúp hồi phục các trường hợp bất tỉnh nhân sự.

 
Huyệt thứ 4: Túc Tam Lý Huyệt – nhanh chóng và giảm cơn đau dạ dày, nâng cao sức đề kháng & tổng trạng.

 
Huyệt thứ 5: Nội Quan Huyệt – Điều hòa nhịp tim, giải quyết các triệu chứng hồi hộp, mất ngủ, buồn nôn và nâng cao tổng trạng sức khỏe.

 
Huyệt thứ 6: Hợp Cốc Huyệt – điều trị các chứng đau ở vùng đầu và mặt, điển hình các cơn đau đầu, đau răng hàm.

 
Huyệt thứ 7: Bách Hội – Ổn định tinh thần, điều hòa sự mất thăng bằng âm dương của các kinh mạch, giúp tuần hoàn máu não tốt và phục hồi trí nhớ.

 
Huyệt thứ 8: Đại Chùy Huyệt – làm giảm cơn co giật và hạ sốt.

 
Huyệt thứ 9: Trường Cường Huyệt – giải quyết các tình trạng đau cột sống và bế tắc đại tiểu tiện.

 
Huyệt thứ 10: Thập Tuyên Huyệt

 
Vị trí: được phân bố trên đỉnh 10 đầu ngón tay, đây là 10 huyệt tối quan trọng, là huyệt ‘tỉnh’ của Ngũ Du huyệt. Là nơi kinh khí của cơ thể xuất ra nơi này… Được vận dụng theo tính chất Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ)
Điều trị: Dùng cấp cứu trong các trường hợp bất tỉnh nhân sự, đột quỵ…
Chú ý: sau khi cứu tĩnh nhanh chóng đưa bệnh nhân đến bệnh viện để kịp thời chữa trị.
Thao tác: châm cạn 0,1 thốn, nặn lấy máu

 

CÁC BỘ VỊ ĐỂ CHẨN MẠCH

 
Hiện nay, đa số các thầy thuốc chọn cách xem mạch theo học thuyết của Lý Đông Viên như sau:


Sự Liên Hệ Giữa Các Bộ Vị Mạch

 

Dựa theo đặc tính sinh khắc của Ngũ Hành, áp dụng vào cách phân định bộ vị của mạch và tạng phủ theo Lý Đông Viên, ta có:

 
+ Tương Sinh:
Thận Thủy (bộ xích tay trái) sinh Can Mộc (Quan), Mộc sinh Hỏa (Thốn) và Hỏa (Mệnh Môn – xích bên phải) sinh Tỳ Thổ (Quan), Tỳ Thổ sinh Phế Kim (Thốn).

 

 

 

+ Tương Khắc:
Nhìn vào hàng ngang, giữa 2 tay phải và trái, và giữa các bộ vị cùng tên, ta thấy có sự tương khắc: Tâm Hỏa khắc Phế Kim, Can Mộc khắc Tỳ Thổ, Thận Thủy khắc Mệnh Môn Hỏa.

 

Nếu nhìn chéo sẽ thấy: Phế Kim khắc Can Mộc, Tỳ Thổ khắc Thận Thủy và như vậy sẽ có 1 vòng liên hợp tương khắc như sau:
Tâm Hỏa khắc Phế Kim, Phế Kim khắc Can Mộc, Can Mộc khắc Tỳ Thổ, Tỳ Thổ khắc Thận Thủy, Thận Thủy khắc Mệnh Môn Hỏa, và vòng tương khắc cứ như vậy mà tiếp diễn.

 
Có lẽ vì vậy mà hình thái định vị này đươc nhiều người chú ý và chấp nhận.

 

 

THẬP QUÁI MẠCH

 

Ngoài các mạch chính đã trình bày ở trên, các nhà nghiên cứu về mạch còn nêu ra 1 số mạch gọi là ‘Mạch Lạ’ (Quái Mạch).

 

Từ đời nhà Nguyên (1277-1368), trong sách ‘Thế Y Đắc Hiệu Phương’ Ngụy-Diệc-Lâm đã nêu lên 10 loại mạch lạ gọi là ‘Thập Quái Mạch’ nhưng sau này, các nhà mạch học đã bỏ bớt 3 loại (Chuyển Đậu, Ma Xúc, Yển Đao) đi, còn lại 7 loại mạch lạ (Thất Quái Mạch) và hiện nay, đa số các sách đều chỉ nhắc đến 7 loại mạch lạ này mà thôi.

 
1- ĐẠN THẠCH 
Sóng mạch đi như đập vào đá (thạch), chỉ thấy đập vài cái rồi thôi không thấy nữa.
Biểu hiện của mạch Phế bị tuyệt. Nếu thấy ở bộ xích bên trái (tả xích) là dấu hiệu Thận sắp bị tuyệt.

 
2- GIẢI SÁCH  
Sóng mạch đi rối loạn, tản mác giống như mớ dây (giải) bị rối (sách).
Biểu hiện của Ngũ Tạng bị tuyệt. Nếu thấy ở bộ xích bên trái (tả xích) là dấu hiệu thổ khắc thủy.

 

3- HÀ DU  
Sóng mạch đi không đều, lúc thì im lìm không động đậy, rồi thấy vụt mạnh 1 cái rồi lại ngừng lại, giống như con tôm (hà) đang bơi (du).
Biểu hiện của Tỳ Vị bị tuyệt.

 

4- NGƯ TƯỜNG (DƯỢC)   
Sóng mạch đi như dáng con cá (ngư) đang bơi lội (tường – dược): phần trên (sát da) thấy rung động nhưng phía dưới lại yên.
Biểu hiện của Thận bị tuyệt.

 
5- ỐC LẬU  
Sóng mạch chạy trơn tuột 1 cái, 1 lát sau lại thấy 1 cái, giống như nước từ trên mái nhà (ốc) bị dột (lậu), theo lỗ hổng chảy xuống.
Biểu hiện của Tâm, Phế, Tỳ và Vị bị tuyệt.

 

6- PHÙ PHÍ 
Sóng mạch đi lúc nhúc như nước trong nồi (phù) đang sôi (phí).
Biểu hiện của mạch chết.

 

7- TƯỚC TRÁC   
Sóng mạch nhảy 3-5 cái liên tục, ngưng lại rồi đập tiếp 3-5 cái, như con chim sẻ (tước) đang mổ (trước) thức ăn.
Biểu hiện của Tâm, Phế, Tỳ và Vị bị tuyệt.

 

8- CHUYỂN ĐẬU 
Mạch đến liên tục, như lăn (chuyển) trên hạt đậu (đậu).
Biểu hiện mạch của Tâm bị tuyệt.

 

9- MA XÚC 
Mạch chạy không thứ tự, bé nhỏ như hột mè (ma).
Biểu hiện của vệ khí bị khô, vinh huyết bị rít (sít) lại. Nếu nặng thì khoảng 1 ngày sẽ chết.

 
10- YỂN ĐAO 
Sóng mạch đi, có cảm giác như sờ trên sống (yển) dao (đao). Mạch Phù mà nhỏ gấp, ấn vào thấy cứng, to mà đi gấp.
Biểu hiện mạch của Can bị tuyệt.

 

Nhóm mạch lạ (Quái Mạch) này, có biểu hiện khác thường, hay gặp nơi những người bệnh có biểu hiện sắp chết, vì thế còn được gọi là Mạch Chết (Tử Mạch).

 

Tuy các mạch trên đây (Thất Quái hoặc Thập Quái Mạch), theo kinh nghiệm của người xưa đều là các mạch chết (tử mạch) tuy nhiên hiện nay, với sự phát triển của y học và khoa học kỹ thuật hiện đại, với những trang thiết bị cấp cứu tốt, phối hợp thêm sự kết hợp Đông – Tây y, nếu được tích cực cứu chữa đúng mức, có thể lướt được qua 1 số bệnh hiểm nghèo (dù đã và đang gặp các loại mạch tử trên), vì vậy, không nên cho rằng gặp những loại mạch trên là chắc chắn phải chết rồi không tích cực lo cứu chữa cho người bệnh, dẫn đến diễn biến xấu.

 

神农本草经
THẦN NÔNG BẢN THẢO KINH
.

VUA THẦN NÔNG – Người soạn ra THẦN NÔNG BẢN THẢO KINH
Trị vì : 2737 TCN – 2698 TCN
là một trong TAM HOÀNG:
• -Phục Hy
• -Nữ Oa
• -Viêm Đế (Thần Nông)

 

《神农本草经》的内容与成就 
《神农本草经》是我国现存最早的药物学专著,它较全面地记录了我国东汉以前的药物学成就。其主要内容有:

 
1、 提出了三品分类法  全书共收药物365种,其中植物药252种,动物药67种,矿物药46种,大多是临床常用药物,概以上、中、下三品分类。据森立之所辑《神农本草经·序录》云:“上药120种为君,主养命以应天,无毒,多服久服不伤人,欲轻身益气不老延年者,本上经。中药120种为臣,主养性以应人,无毒有毒斟酌其宜,欲遏病补虚羸者,本中经。下药125种为佐使,主治病以应发,多毒,不可久服,欲除寒热邪气破积聚愈疾者,本下经”。这表明上品药一般是无毒或毒性很小,多属补养类药物;中品有的有毒,有的无毒,多系补养而兼能攻病的药物;下品药多为除寒热、破积聚的攻病药物,有毒者居多,不可久服。
《 thần nông bổn thảo kinh 》 đích nội dung dữ thành tựu
《 thần nông bổn thảo kinh 》 thị ngã quốc hiện tồn tối tảo đích dược vật học chuyên trứ , tha giác toàn diện địa kí lục liễu ngã quốc đông hán dĩ tiền đích dược vật học thành tựu 。 kì chủ yếu nội dung hữu :
1、đề xuất liễu tam phẩm phân loại pháp    toàn thư cộng thu dược vật 365 chủng , kì trung thực vật dược 252 chủng , động vật dược 67 chủng , quáng vật dược 46 chủng , đại đa thị lâm sàng thường dụng dược vật , khái dĩ thượng 、 trung 、 hạ tam phẩm phân loại 。 cư sâm lập chi sở tập 《 thần nông bổn thảo kinh · tự lục 》 vân :“ thượng dược 120 chủng vi quân , chủ dưỡng mệnh dĩ ứng thiên , vô độc , đa phục cửu phục bất thương nhân , dục khinh thân ích khí bất lão duyên niên giả , bổn thượng kinh 。 trungdược 120 chủng vi thần , chủ dưỡng tính dĩ ứng nhân , vô độc hữu độc châm chước kì nghi , dục át bệnh bổ hư luy giả , bổn trung kinh 。 hạ dược 125 chủng vi tá sử , chủtrì bệnh dĩ ứng phát , đa độc , bất khả cửu phục , dục trừ hàn nhiệt tà khí phá tích tụ dũ tật giả , bổn hạ kinh ”。 giá biểu minh thượng phẩm dược nhất bàn thị vô độc hoặc độc tính ngận tiểu , đa chúc bổ dưỡng loại dược vật ; trung phẩm hữu đích hữu độc , hữu đích vô độc , đa hệ bổ dưỡng nhi kiêm năng công bệnh đích dược vật ; hạ phẩm dược đa vi trừ hàn nhiệt 、 phá tích tụ đích công bệnh dược vật , hữu độc giả cư đa , bất khả cửu phục 。

 

Dưới đây là một số sách do Y Dược Sư – Võ Sư Nguyễn Viết Xô tổng hợp, nghiên cứu, biên soạn, dùng làm tư liệu giảng dạy cho các sinh viên học sinh, học viên y học cổ truyền Đông Phương từ các chương trình sơ cấp, trung cấp, đại học và chuyên sâu, tại trung tâm đào tạo Tâm Y Võ: