Phụ Ngũ Vận Lúc Khí

PHỤ  NGŨ VẬN LỤC KHÍ


I ĐẠI CƯƠNG

   Ngũ vận lục khí nói tắc là “vận khí”. Học thuyết này trong Y học Trung quốc gọi là “học thuyết vận khí”, đó là một phương pháp lý luận của đời xưa giải thích sự biến hóa của khí hậu thời tiết trong tự nhiên giới và ảnh hưởng của khí hậu thời tiết biến hóa ấy đối với vạn vật trong vũ trụ, đặc biệt là đối với loài người. Học thuyết này lấy âm dương ngũ hành làm hạt nhân, dựa trên cơ sở của quan niệm chỉnh thể về thiên nhân tương ứng mà xây dựng nên.

  Ngũ vận tức là lấy kim, mộc, thủy, hỏa, thổ trong ngũ hành phối hợp với thiên can để tinh tuế vận của mỗi năm (năm nào thuộc về vận nào). Lục khí là chỉ vào sáu thứ khí: phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa, đem phối hợp với địa chi, để tinh tuế khí của mỗi năm (năm nào thuộc về khi nào). Kết hợp ngũ vận và lục khí lại, sẽ thành ra một công cụ lý luận đơn giản hóa dùng nó để thuyết minh mọi phương diện trong hoàn cảnh tự nhiên và mọi thứ quan hệ trong Y học.

   Học thuyết vận khí sở dĩ đem vận dụng vào Y học là vì người xưa nhận thức được sự quan hệ mật thiết giữa con người ta và tự nhiên giới, tất cả sinh hoạt của con người ta đều cần phải thích ứng với sự biến hóa của tự nhiên giới cho nên người xưa thường lấy con người và tự nhiên vạn vật so từng loại mà bàn. Nội dung của học thuyết vận khí là lấy ba thứ “Thiên, Địa, Nhân” kết hợp lại mà thảo luận. Mục đích nghiên cứu học thuyết bệnh lý trên y học, chủ yếu là ở chỗ nắm vững quy luật biến hóa của thời tiết khí hậu, để tiện cho việc nghiên cứu nhân tố nghiên cứu nhân tố gây bệnh của ngoại cảm lục dâm; và dùng để suy tính tình hình phát bệnh và khí hậu biến hóa của từng năm, làm chỗ tham khảo cho việc chẩn đoán và chữa bệnh.

  Học tập học thyết vận khí, trước tiên cần phải hiểu được hai vấn đề: một là nắm vững lý luận trung tâm của nó là học thuyết âm dương ngũ hành, trong đó lấy ngũ hành sinh khắc làm chủ yếu, hai là nắm vững những phù hiệu đại biểu là cách vận dụng can chi. Học thuyết âm dương ngũ hành đã giới thiệu ở đoạn trên, nên không nói nữa, ở đây chỉ nói về vấn đề vận dụng can chi.

   Can chi là nói tắt về thiên can và địa chi, thiên can có 10 thứ, túc là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, còn gọi là thập can. Địa chi có 12 thứ, tức là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Vị, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Cũng gọi là thập nhị chi. Can chi vận dụng trong học thuyết vận khí, đều là những phù hiệu đại biểu để tính toán sự biến hóa của ngũ vận, lục khí. Nay phân biệt mà nói rõ ra như dưới đây:

  1-Thuộc tính âm dương của can chi. Thiên can, Địa chi đều có thuộc tính khác nhau về âm dương, nói về can chi thì thiên can là dương, địa chí là âm, nếu đem tách rời can và chi ra mà nói, thì trong thiên can có âm dương, trong địa chi cũng có âm dương, tức là theo thứ tự sắp xếp của can chi mà đếm thì số lẻ là dương, số chẵn là âm. Ví dụ: như Giáp, bính, mậu, canh, nhâm trong thiên can là thuộc về dương can; ất, đinh, kỷ, tân, quý là thuộc về can âm. Tý, dần, thìn, ngọ, thân, tuất trong địa chi thuộc về dương chi; sửu, mão, tỵ, vị, dậu, hợi là thuộc về âm chi.

   2-Phép tắc vận dụng can chi. Can chi vận dụng trong học thuyết vận khí tóm lại là “Thiên can để tính vận, địa chi để tính khí”. Nói cụ thể ra nữa thì ngũ vận là đem thiên can phối hợp với ngũ hành để tính tuế vận; lục khí là lấy địa chi phối hợp với tam âm tam dương mà vận dụng để tính tuế khí (tam âm tam dương là danh từ thay thế của lục khí). Cách thức phối hợp thông thường hay áp dụng có ba lối dưới đây:

Ba cách phối hợp ở trên, về ý nghĩa vận dụng mỗi cách đều có khác nhau. Cách thứ nhất là để ứng dụng khi tính “đại vận”. Cách thứ hai là để ứng dụng khi tính về những năm “tuế hội”. Cách thứ ba là để ứng dụng khi tính về “khách khí”. Phương pháp ứng dụng cụ thể ở những đoạn dưới đây, mỗi đoạn đều có giới thiệu về nội dung trong đó.

   3-Cách kết hợp can chi để ghi từng năm-Phối hợp thiên can và địa chi từ thời Đông Hán trở về trước chỉ dùng để ghi ngày, từ thời Quang vũ Đế nhà Hán về sau mới bắt đầu dùng để ghi năm, tháng, ngày, giờ. Đến ngày nay âm lịch vẫn còn dùng phương pháp ấy, niên hiệu của mỗi năm đều có một chữ trong thiên can và một chữ trong địa chi hợp lại, như Giáp tý, Ất Sửu chẳng hạn, trong đó thì chữ giáp, chữ ất là thiên can, chữ tý, chữ sửu là địa chi. Từ năm Giáp tý tính theo thứ tự cho đến năm Quý hợi cộng lại được 60 lần; thì gọi là một Chu. Sau 60 năm (hết năm Quý hợi) lại tính bắt đầu từ Giáp tý. Cứ luân chuyển thay đổi như thế, trong 60 năm thì có 6 lần về thiên can (10 can x 6 lần= 60 năm), 5 lần là địa chi (12 chi x 5= 60 năm). Phương pháp tính ấy như biểu đồ dưới đây:

BẢNG KẾT HỢP CAN CHI ĐỂ GHI NĂM TRONG 60 NĂM

II- NGŨ VẬN

  Ngũ vận là nói chung về thổ vận, kim vận, thủy vận, mộc vận, hỏa vận. Vận có nghĩa là luân chuyển, vận động đi lại không ngừng, lấy ngũ hành phối hợp với thiên can để vận dụng để phân tích và thuyết minh sự biến hóa bình thường và khác thường của khí hậu từng năm từng mùa, cho nên gọi là Ngũ vận. Trong Ngũ vận lại chia ra ba thứ là Đại vận, Chủ vận, Khách vận.

 1.Đại vận- Đại vận cũng gọi là “Trung vận”, là làm chủ tất cả tuế vận của mỗi năm. Dùng nó để nói rõ sự biến hóa của khí hậu trong toàn năm, đồng thời nó cũng là cơ sở để tính khách vận.

  Phương pháp tính đại vận chính như trong thiên Thiên nguyên kỷ đại luận sách Tố-vấn nói: “Năm giáp năm kỷ thuộc về thổ vận, năm ất năm canh thuộc về kim vận, năm bính năm tân thuộc về thủy vận, năm đinh năm nhâm thuộc về mộc vận, năm mậu năm quý thuộc về hỏa vận”. Đó tức là quy luật cơ bản để tính đại vận của mỗi năm. Nói rõ niên hiệu của mỗi năm, hễ gặp đến năm thiên can là giáp và kỷ, thì bất luận địa chi là gì, đại vận của năm ấy cũng là thuộc thổ vận, ngoài ra năm ất và năm canh, năm bính năm tânv.v…đều có thể theo như thế mà suy ra. Cách tính này là lấy năm năm làm một vòng, trong năm năm mỗi vận làm chủ mỗi năm, thấy thứ tự tương sinh của ngũ hành mà sắp xếp tức là Thổ-Kim-thủy-Mộc-Hỏa-Thổ. Trong 30 năm gọi là một kỷ, mỗi kỷ mỗi vận làm chủ sáu năm. Trong 60 năm gọi là một chu thì mỗi vận làm chủ 12 năm.

   Đại vận làm chủ từng năm, có sự thái quá và bất cập khác nhau, nhưng năm giáp năm kỷ đều thuộc vào năm thổ vận làm chủ, mà năm giáp là năm thổ vận thái quá, năm kỷ là năm thổ vận bất cập, niên vận thái quá bất cập là căn cứ vào âm dương của thiên can để mà phân biệt, dương can là thái quá, âm can là bất cập.

  Theo vào thái quá và bất cập của niên vận, có thể tính ra được tình hình biến hóa của khí hậu, quy luật chung là năm dương (thái quá) thì bản khí lưu hành, trong thiên Khí giao biến đại luân sách Tố-vấn nói: “năm hỏa thái quá thì thử nhiệt lưu hành”, “năm hỏa bất cập thì hàn khí lưu hành”. Như năm Mậu là hỏa vận thái quá, đến năm ấy phần nhiều là nhiệt khí thắng, năm quý là năm hỏa vận bất cập thì thủy sẽ đến khắc hỏa, cho nên khí hậu năm ấy lại rét nhiều hơn, ngoài ra có thể theo đó mà biết.

  1. Chủ vận- Chủ vận là dùng để nói rõ quy luận thông thường của khí hậu biến hóa trong năm quý vận của mổi năm (mỗi năm chia làm năm giai đoạn) bởi vì thời gian của mỗi quý vận hàng năm là cố định không thay đổi, khí hậu biến hóa trong các quý vận đó, năm nào cũng như năm nào trên cơ bản là giống nhau, cho nên gọi là “Chủ vận”.

  a)Cách tính chủ vận. Cách tính chủ vận là bắt đầu từ ngày đại hàn cứ 73 ngày 5 khắc là một vận (quý vận) theo thứ tự tương sinh của ngũ hành mà chuyển dần lên. Tức như: mộc là sơ vận, hỏa là nhị vận, thổ là tam vận, kim là tứ vận, thủy là chung vận, đó là cố định không thay đổi, năm nào cũng như năm nào.

  1. b) Khí hậu thường quy của chủ vận. Chủ vận là nói rõ khí hậu theo quy luật thông thường của 5 quý vận trong một năm, lấy thuộc tinh của ngũ hành của lục khí là quy luật cơ bản, tức như sơ vận thuộc mộc chủ về phong, nhị vận thuộc hỏa chủ về thử nhiệt, tam vận thuộc thổ chủ về thấp, tứ vận thuộc kim chủ về táo, chung vận thuộc thủy chủ về hàn. Khí hậu sở chủ của mỗi quý vận, hàng năm là giống nhau.
  2. Khách vận-Khách vận là dùng để nói rõ khí hậu, biến hóa khác thường trong năm quý vận của một năm, vì mỗi năm khác vận có thay đổi, mỗi quý có khác nhau, như người khách đi lại, cho nên gọi là “khách vận”.

  a)Cách tính khách vận. Khách vận là theo niên can của đại vận trong năm đó mà tính ra tức là lấy niên can của đại vận làm sơ vận của khách vận, theo năm quý vận trong một năm rồi lấy năm bước mà suy tính ra. Như năm giáp, năm kỷ, đại vận là thổ, thế thì khách vận là bắt đầu từ thổ vận, lại theo thứ tự thuận của ngũ hành tương sinh mà tính chuyển đi, thì nhị vận là kim, tam vận là thủy, tứ vận là mộc, chung vận là hỏa. Cho nên khách vận chỉ giữ về sự biến hóa khác thường của khí hậu từng quý vận trong một năm. cách tính theo bản kê dưới đây.

  

BẢNG TÍNH KHÁCH VẬN TỪNG NĂM

  b)Sự thái quá và bất cập của khách vận. Sự thái quá bất cập của khách vận cho đến sự quan hệ với khí hậu biến hóa và quy luật của đại vận là nhất trí.

  Nói tóm lại, đại vận, chủ vận, khách vận đều là dùng thiên can phối hợp với ngũ hành để mà tính ra, mà cách tính theo thứ tự thuận đều là theo quy luật tương sinh của ngũ hành mà tính. Ba thứ ấy đều là dùng để nói rõ tính hình biến của khí hậu trong tự nhiên giới. Nhưng giữa những thứ ấy đều có đặc điểm khác nhau. Đại vận là tính khí tượng biến hóa của từng năm, cứ 10 năm thì luân chuyển một vòng thiên can, tức là có 5 năm thái quá và 5 năm bất cập, chủ vận là nói rõ sự biến hóa bình thường của khí tượng trong năm quý vận của một năm; khách vận là để tính sự biến hóa khác thường của khí tượng trong năm quý vận của mỗi năm.

  III-LỤC KHÍ

  Lục khí là nói chung về phong, nhiệt, hỏa, thấp, táo, hàn. Lục khí lại thường lấy tam âm, tam dương là đại biểu, rồi kết hợp với địa chi dùng để nói rõ sự biến hóa bình thường của khí hậu trong một năm, và sự biến hóa khác thường của khí hậu trong từng năm.

  Lục khí của mỗi năm chia làm hai thứ là chủ khí và khách khí. Chủ khí dùng để nói khi thường, khách khí dùng để tính khi biến. Đồng thời khách khí gia lên chủ khí, gọi là “khách chủ giá lâm” dùng để phân tích sâu hơn về sự biến hóa phức tạp của khí hậu.

  1.Chủ khí. Chủ khí tức là “khí làm chủ của từng mùa” dùng để nói rõ quy luật bình thường của khí hậu trong một năm, cũng như ý nghĩa của chủ vận bốn mùa. Bởi vì lục khí chủ về từng mùa là cố định không đổi, cho nên gọi là “chủ khí”.

 a)Cách tính chủ khí-Chủ khí chủ về từng mùa, chia làm sáu bước, 24 tiết khí của mỗi năm phân thuộc trong sáu bước đó, bắt đầu tính từ ngày đại hàn, hết bốn tiết khí thì chuyển sang bước khác. Thứ tự của nó thì sơ khí là huyết âm phong mộc, nhị khí là thiếu âm quân hỏa, tam khí là thiếu dương tướng hỏa, tứ khí là thái âm thấp thổ, ngũ khí là dương minh táo kim, chung khí là thái dương hàn thủy. Cũng là tính theo thứ tự thuận của ngũ hành tương sinh, giống với quy luật của chủ vận, chẳng qua trong đó chĩ khác là hỏa chia làm hai, quân hỏa thuộc thiếu âm, tướng hỏa thuộc thiếu dương, là vì khí có sáu mà vận chỉ có năm.

  Trong thiên Lục vi chỉ đại luận sách Tố-vấn nói: ”sau tiết Hiển minh” (Xuân phân) là vị trí của thiếu âm quân hỏa, sang một bước nữa về phía hữu của quân hỏa là vị trí chủ trị của thiếu dương tướng hỏa, lại sang một bước nữa là vị trí chủ trị của thái âm thấp thổ, lại sang một bước nữa là vị trí chủ trị của dương minh táo kim, lại sang một bước nữa là vị trí chủ trị của dương phong hàn thủy, lại sang một bước nữa là vị trí chủ trị của quyết âm phong mộc, lại sang một bước nữa là vị trí chủ trị của thiếu âm quân hỏa. Đó là chỉ rõ vị trí chủ trị từng thời kì của lục khí. “Hiển minh” là chỉ vào tiết xuân phân theo thứ tự đó mà tính lần xuống “phía hữu”, là chỉ vào hướng chuyển dần về phía hữu. “sang một bước nữa” tức là hướng về phía hữu một bước, “lại sang một bước nữa” tức là lại đi thêm một bước nữa. Tóm lại, đó là nói rõ về cách tính thời kỳ chủ trị của sáu tiết khí trong mỗi năm. (xem ở bảng kê sáu bước sáu khí và 24 tíết khí dưới đây)

   b)Khí hậu thường quy của chủ khí – Dùng chủ khí để nói rõ sự biến hóa bình thường của khí hậu trong một năm, mỗi khí là chủ 64 ngày và 87 khắc rưỡi, khí đó tuy cùng ý nghĩa như tứ thời và ngũ vận, nhưng về thời gian chủ trị thì khác. Còn như cách tính về lục khí thì càng tinh tế hơn, như về khí hậu bốn mùa thì nói chung là: mùa xuân ấm (phong), mùa hạ nóng (hỏa), mùa thu mát (táo), mùa đông lạnh và mùa trưởng hạ chủ về thấp. Mà phong, thử, hỏa, thấp. táo, hàn trong lục khí chia ra thuộc về sáu bước, thì lại càng cụ thể hơn. Xem ở bảng dưới đây:

  1. Khách khí. Khách khí là dùng để nói rõ sự biến hóa khác thường của khí hậu hàng năm, khách khí thì thay đổi không giống với chủ khí cố định, cũng như người khách đi lại bất thường, cho nên gọi là “khách khí”.

   a)Cách tính về khách khí-Khách khí di chuyển là lấy sự nhiều ít của khí âm khí dương làm thứ tự trước sau, như: Quyết âm (nhất âm)-Thiếu âm (nhị âm)-Thái âm (tam âm)-Thiếu dương (nhất dương)-Dương minh (nhị dương)-Thái dương (tam dương). Mỗi năm có một khí làm chủ, thay đổi từng năm luân chuyển không ngừng, đó là khách khí trong coi về từng năm. Cách tính khách khí làm chủ của từng năm (khí tư thiên) là lấy địa chi của năm đó làm cơ sở, nhưng trong thiên Thiên nguyên kỷ đại luận sách Tố-vấn nói: “năm Tý năm Ngọ thiếu âm tư thiên; năm Sửu năm Mùi thái âm tư thiên; năm Dần năm Thân thiếu dương tư thiên; năm Mão năm Dậu dương minh tư thiên; năm Thìn năm Tuất thái dương tư thiên; năm Tỵ năm Hợi quyết âm tư thiên”. Đó là nói địa chi của mỗi năm phàm năm Tý năm Ngọ thì bất luận thiên can là gì, khách khí cũng đều là thiếu âm tư thiên; năm Sửu năm Mùi là thái âm tư thiên; những năm khác cũng theo đó mà suy ra. Như thế là sáu năm hết một vòng của lục khí, 12 năm hết một vòng của địa chi, (sáu dương chi và sáu âm chi), hết vòng này sang vòng khác trong 60 năm địa chi chuyển vận 5 vòng, lục khí chuyển vận 10 vòng.

  b)Tư thiên tại tuyền, tả hữu gian khí: Tư thiên và tại tuyền, là một tên gọi riêng chỉ sự biến hóa của khách khí. Trong Nội-kinh nói: “nửa năm về trước, thiên khí làm chủ; nửa năm về sau, địa khí làm chủ”. Đó là nói khách khí thống suất khí hậu thượng bán niên, gọi là “tư thiên”. Khách khí thống suất khí hậu hạ bán niên gọi là “tại tuyền”. Đó là hai thứ khách khí, mỗi thứ làm chủ nửa năm.

  Cách tính về tư thiên tại tuyền, thì căn cứ phù hiệu địa chi của mỗi năm, theo quy luật địa chi phối hợp với tam âm tam dương nói ở trên mà quyết định. Sau khi theo niên chi, tính ra khí tư thiên rồi, thì có thể biết được khí tại tuyền, vì khí tư thiên của mỗi năm là cố định ở khí thứ ba của chủ khí, mà khí tại tuyền thì cùng đối với khí tư thiên ở chỗ chung khí. Mỗi năm có một lần thay đổi, như thế là trong sáu năm sẽ có sáu khí tư thiên tại tuyền khác nhau, xem bảng dưới đây:

QUY LUẬT NIÊN CHI VỚI TƯ THIÊN TẠI TUYỀN

Khí tư thiên tại tuyền trong một năm có thuộc tính âm dương khác nhau, nhưng dương tư thiên thì âm tại tuyền, âm tư thiên thì dương tại tuyền. Trong đó thiếu âm với dương minh, thái âm với thái dương quyết âm với thiếu dương lại là hợp với nhau mà luân chuyển. Như năm Mậu tuất, mậu là thái dương hàn thủy tư thiên, thái âm thấp thổ tại tuyền, thượng bán niên thuộc dương tư thiên, hạ bán niên thuộc âm tại tuyền. Lại như năm Kỷ hợi, thì quyết âm là tư thiên, thiếu dương là tại tuyền.

  Tả hữu gian khí tức là tả gian hữu gian ở hai bên của tư thiên, và tả hữu gian ở hai bên của tại tuyền, cộng là bốn bước của khách khí. Đó là đem khách khí

trong một năm chia làm sáu giai đoạn (tức là sáu bước). Tư thiên tại tuyền mỗi khí làm chủ một bước ngoài ra tức là bốn bước của gian khí, mỗi khi làm chủ ở bốn quý tiết bốn bước gian khí cần phải sau khi đã cố định được khí tư thiên tại tuyền rồi mới có thể biết được, bởi vì nhửng khí này là theo sự luân chuyển của khí tư thiên và tại tuyền mà luân chuyển.

     Cũng là phương hướng đông hoặc tây, vì sao một bên là tả gian, một bên lại là hữu gian? Đó là vì khi xem bản đồ tư thiên tại tuyền, thì phương hướng ngoảnh mặt đến có khác. Như trong tiên Ngũ vận hành đại luận sách Tố-vấn nói: “ngoảnh mặt về phía bắc là định vị trí”, tức là hướng ngoảnh mặt để xem tư thiên. Vì tại tuyền định vị ở phương bắc cho nên xem tư thiên cần phải ngoảnh mặt về tại tuyền, sau khi đã xác định được phương hướng ấy rồi, thì biết được gian khí ở hai bên của tư thiên. Đông là hữu gian, tây là tả gian. Thiên Ngũ vận hành đại luận lại nói: “ngoảnh mặt về phía nam là định vị trí”, đó là hướng ngoảnh mặt để xem tại tuyền. Vì tư thiên định vị ở phía nam, cho nên xem tại tuyền cần phải hướng mặt về tư thiên, nhân đó mà gian khí ở hai bên của tại tuyền, phía đông là tả gian, phía tây là hữu gian.

Trên đây đã nói, bốn bước gian khí là theo sự chuyển di của tư thiên tại tuyền ở từng năm mà chuyển đi. Ví dụ như năm Thìn năm Tuất là Thái dương hàn thủy tư thiên, Thái âm thấp thổ tại tuyền, gian khí ở hai bên “Tư thiên” thì Dương minh là Hữu gian, Quyết âm là Tả gian; gian khí ở hai bên tại tuyền thì Thiếu âm là Hữu gian, Thiếu dương là Tả gian

Đến năm Tỵ năm Hợi, là Quyết âm phong mộc tư thiên, Thiếu dương tướng hỏa tại tuyền. Bởi vì khí tư thiên tại tuyền đã chuyển sang phía trước một bước, bốn bước gian khí tất nhiên cũng chyển sang một bước, thì hữu gian của Tư thiên là Thái dương, tả gian lả Thiếu âm; hữu gian của Tại tuyền là Thái âm, tả gian là Dương minh.

  Bốn bước gian khí tùy theo sự di chuyển Tư thiên tại tuyền còn bao hàm lẽ thăng giáng của âm dương nữa, tức là âm thăng thì dương giáng, dương thăng thì âm giáng, như Thái dương tư thiên chuyển sang Quyết âm tư thiên, thì Thiếu âm nguyên là hữu gian của tại tuyền lại chuyển lên thành tả gian của tư thiên mà Dương minh nguyên là hữu gian của tư thiên lại xuống thành tả gian của tại tuyền. Tức là thành âm thăng dương giáng, Những năm khác cũng theo đó mà suy ra.

   c)Quy luật khí hóa của khách khí- Khí hóa của khác khí tức là chỉ vào khí hậu biến hóa. Quan hện giữa phong, nhiệt, hỏa, thấp, táo, hàn, sáu khí hậu biến hóa, với tam âm tam dương thì chính như trong thiên Chí chân yếu đại luận sách Tố-vấn nói: “Quyết âm tư thiên thì khí theo phong hỏa; Thiếu âm tư thiên thì khí theo nhiệt hỏa, Thái âm tư thiên thì khí theo thấp hỏa; Thiếu dương tư thiên thì khí theo hỏa hóa, Dương minh tư thiên thì khí theo táo hóa; Thái dương tư thiên thì khí theo hàn hóa”. Đó tức là quy luật khí hóa của khách khí tư thiên. Vì khí tam âm tam dương mỗi năm một khí tư thiên khác nhau, nhân đó mới sinh ra các thứ khí hậu không giống nhau, tức là nói: “khí tư thiên của tam âm tam dương là đại biểu cho sáu thứ khí hậu. Không phải chỉ riêng khí tư thiên như thế, đồng thời đã đề ra Địa hóa, gian khí cũng như thế” (trong thiên Chí chân yếu đại luận). Đó là nói quy luật khí hóa của Taị tuyền và bốn bước gian khí là nhất trí với khí tư thiên.

   Tuy quy luật hóa khí của khí Tư thiên tại tuyền với khí Tả gian Hữu gian là nhất trí, nhưng khi khí hóa làm chủ về sáu bước này trên thời gian có chỗ khác nhau. Thiên Chí chân yếu đại luận sách Tố-vấn nói: “Khí tư thiên tại tuyền chủ việc khí hóa một năm, khí gian khí chủ việc khí hóa trong một bước” (60 ngày). Đó là nói rõ chủ về thời gian khác nhau của khí tư thiên tại tuyền cùng gian khí. Khi tư thiên lấy Địa chi của mỗi năm mà nói thì chủ việc khí hóa trong một năm; đối với tại tuyền mà nói thì mỗi khí chủ việc khí hóa nửa năm, tứ là khí tư thiên chủ thượng bán niên của năm về trước, khí tại tuyền chủ hạ bán niên, khí tư thiên tại tuyền và khí tả gian hữu gian chia thành sáu bước, thì mỗi bước đều chủ về khí hóa của bốn tiết tức là thời gian 60 ngày 87 khắc rưỡi.

  1. d) Sự biến hóa thắng phục của khách khí: thắng là chủ động mạnh mẽ mà thắng, phục là bị động là phục thù lại. Khí thắng phục tức là thượng bán niên có khí thắng khác thường thì hạ bán niên nhân đó mà phát sinh phục khí để phản lại. Như thượng bán niên nhiệt khí thắng quá thì hạ bán niên hàn khí đến phục thù, v.v… Đó là thuộc về sự biến hóa khác thường trong việc khí hóa của khách khí.

   Thiên Chí chân yếu đại luận sách Tố-vấn chép: “Hoàng đế hỏi: sự vận động của thắng khí phục khí có thời gian nhất định không? Thời gian đến có phải nhất định có thắng khí phục khí không?- Kỳ Bá nói: “Bốn mùa thì có vị trí cố định, nhưng có thắng khí phục khí hay không thì không hoàn toàn nhất định. Hoàng đế hỏi: “đó là vì lẽ gì?” Kỳ Bá nói: “từ sơ khí đến hết tam khí thì thiên khí làm chủ là lúc mà thường thấy thắng khí; từ tứ khí đến hết chung khí thì địa khí làm chủ, là lúc mà thường thấy phục khí, có thắng khí thì mới có phục khí, không có thắng khí thì không có phục khí. Hoàng đế nói: “Đúng! Phục khí hết rồi mà lại có thắng khí phát sinh, là thế nào?” Kỳ Bá nói: “Có thắng khí thì phải có phục khí, không có hạn số nhất định. Khi khí suy giảm rồi mới không phát sinh nữa, vì thế sau phục khí lại có thắng khí phát sinh, nếu không có sự phát sinh tương ứng của phục khí thì sẽ có sự tổn hại, đó là hại đến sinh mạng”. Đoạn kinh văn này đã nói rõ về bốn vấn đề như sau:

  1-Khí thắng, phục trong thứ tự từng mùa mà có quy luật nhất định, từ sơ khí đến hết tam khí là khí tư nhiên làm chủ về thượng bán niên, nếu có phát sinh khí hậu quá lúc thường thì gọi là thắng khí, từ tứ khí đến hết chung khí là khí Tả tại tuyền làm chủ về hạ bán niên, phát sinh khí hậu phản lại với khí thượng bán niên thì gọi là phục khí.

  2-Mỗi năm có thắng khí phục khí hay không, là không có quy luật nhất định, nhưng thượng bán niên có thắng khí thì hạ bán niên mới có phục khí, nếu không có thắng khí thì không có phục khí.

   3-Nếu có thắng khí mà không có phục khí thì sẽ sinh ra tai hại.

   4-Sau phục khí lại có thắng khí, hoàn toàn không phải như sự tuần hoàn không thay đổi vì thắng khí không phải chỉ là một thứ nó tùy theo tình hình cụ thể của khí hậu biến hóa mà quyết định.

  đ)Sự không thiên chính (1), không thoái vị (2) của khách khí: tư thiên tại tuyền của khách khí, tuy mỗi năm thay đổi một lần, nhưng cũng có khi khí hậu trái thường không theo quy luật chung mà di chuyển. Đó là thuộc về tính trạng đặc biệt, tức như trong thiên Thích pháp sách Tố-vấn đã nói đến những vấn đề: “không thiên chính”, “không thoái vị”, “thắng không lên”, “giáng không xuống”.

   “Không thoái vị” ví như năm nay đúng là Thái dương hàn thủy tư thiên, nhưng nếu khí tư thiên năm ngoái là Dương minh táo kim hữu dư thì lại cứ giữ quyền cả năm nay nữa, lưu lại không đi (không chịu thoái vị) nhân đó mà ảnh hưởng đến Thái dương hàn thủy năm nay không thiên chính lên vị trí tư

(1)Thiên chính: năm trước tư thiên ở tả gian, năm nay đổi cho tư thiên chủ quản, hoặc năm trước tại tuyền ở tả gian mà năm nay đổi lại tại tuyền chủ quản.

(2)Thoái vị: năm trước tư thiên chủ quản, năm nay tư thiên lui xuống ở hữu gian hoặc năm trước tại tuyền chủ quản mà năm nay tại tuyền lui xuống ở hữu gian.

thiên được, (khí tai truyền cũng giống như thế). Do đó cũng ảnh hưởng đến sự thăng giáng của khí ở tả gian hữu gian” thăng không lên”, “giáng không xuống”  cho nên “không thoái vị “ cũng có thể nói đó là “sự đến mà không đi” của khí tư thiên và tại tuyền trong năm ấy, “ không thiên chính” cũng có thể nói là sự “ nên đến mà không đến mà không đến” của khí tư thiên hoặc tại tuyền trong năm ấy.

3 khách chủ gia lâm – khách khí luân chuyển hằng năm gia lên trên chủ khí cố định thì gọi là  “khách chủ gia lâm”

Kết hợp hai thứ khách khí và chủ khí lại, chủ yếu là để tiện cho việc xem xét thường hay biến của khí hậu. Đó tức là trên bản đồ ngũ vận lục khí trong quyển “ Phổ tế phương” (quyển 6 ) nói “ lấy khách khí gia lên chủ khí để tính sự biến của khí hậu”

  1. a) Cách tính về khách chủ gia lâm : vì  sáu bước của chủ khí là hằng năm cố định không thay đổi mà sáu bước của khách khí mỗi năm lại theo thứ tự mà đổi dời, cho nên trong sáu năm thì quy luật của sáu bước khách khí gia lên sau bước chủ khí đều không giống nhau. Khách khí mỗi năm dời đổi một lần, sáu năm hết 1 vòng, (xem hình 7)

thuyết minh :

1)      Hình này là chỉ Quyết âm tư thiên, Thiếu dương tại tuyền.

2)      Hai vòng trong chỉ sáu bước của chủ khí, hằng năm cố định không thay đổi .

3)      Hai vòng ngoài chỉ sáu bước của khách khí, và vị trí tư thiên tại tuyền cùng với khí ở tả gian hữu gian.

Mũi tên chỉ sự luân chuyển hằng năm của khách khí.

  1. b) Chủ khách thuận nghịch : khách khí gia lên trên chủ khí có thể thấy được khách chủ gia lâm thuận nghịch của khí hóa , đó là căn cứ vào hai nguyên tắc mà quyết định.

–         Căn cứ vào lẽ sinh khắc của ngũ hành – nếu khách khí sinh hoặc khắc chủ khí là thuận , trái lại là nghịch. Tức như trong thiên Chí chân yếu đại luận sách Tố Vấn nói :” chủ thắng là nghịch, khách thắng là thuận”.

–         Căn cứ vào vị trí vua tôi, như khách khí là thiếu âm quân hỏa gia lên chủ khí là thiếu dương tương hỏa, hai thứ khí đó đều thuộc về hỏa không có quan hệ sinh khắc, mà dùng vị trí vua tôi để phân biệt. Thiên Lục vi chỉ đại luận sách Tố Vấn nói :” vua gia lên tôi là thuận, tôi gia lên vua là nghịch”. Nay quân hỏa gia lên trên tướng hỏa tức là vua gia lên tôi đó là thuận, trái như thế là nghịch.

–          Tóm lại sự thuận nghịch của khí hóa, tuy có hai cách tính ở trên nhưng hai cách ấy có một điểm giông nhau tức là lấy khách khí làm chủ. Sức của khách khí mà thắng được chủ khí là thuận, như khách khắc chủ, khách sinh chủ, vua gia lên tôi, ba trường hợp ấy đều là thuận. trái lại nếu sức của chủ khí thắng được khách khí thì là nghịch. Như chủ khắc khách, chủ sinh khách, tôi gia lên vua, ba trường hợp ấy đều là nghịch.

Ngoài ra, còn có “đồng khí”, như khách khí là Thiếu dương tướng hỏa gia lên chủ khí cũng là Thiếu dương tướng hỏa hoặc Quyết âm phong mộc gia lên Quyết âm phong mộc… đã không có sinh khắc, lại không có khác nhau về quân thần, hai tính chất giống nhau thì gọi là “đồng khí” (xem biểu đồ 8)

 

BIỂU ĐỒ THUẬN NGHỊCH ĐỒNG KHÍ CỦA TƯ THIÊN TRONG SÁU NĂM VỚI CHỦ KHÍ LÀ THIẾU DƯƠNG TƯƠNG HỎA

  1. c) Quan hệ giữa chủ khách thuận nghịch với khí hậu biến hóa :

Trên đã nói qua khách chủ gia lâm là đem chủ khí và khách khí kết hợp lại, dùng để phân tích sự thường và biến của khí hậu, lại cần phải theo tình hình thuận hay nghịch của “chủ khách gia lâm “ để quyết định, nói chung “thuận” thì đại biểu cho sự biện hỏa khác thường của khí hậu trong bốn mùa (6 bước) nhưng không lớn lắm, “nghịch” thì biến hóa khác thường lớn hơn. “đồng “ thì khí hậu khác thường tột bực (mạnh dữ lắm).

            Như biểu đồ trên đã chỉ, khí Tư thiên là Quyết âm phong mộc gia lên khí thứ ba của chủ khí là Thiếu dương tướng hỏa, là khách sinh chủ (mộc sinh hỏa) thế là thuận. Nói về khí hậu biến hóa thì khí thứ ba làm chủ trong bốn tiết khí  từ tiểu mãn đến tiểu thử, tuy có phong khí lưu hành nhưng không mạnh lắm. lại như khách khí là Thái âm thấp thổ gia lên chủ khí là Thiếu dương tướng hỏa chủ sinh được khách ( hỏa sinh thổ), thế là nghịch, thì trong bốn tiết khí ở thời gian ấy sẽ mưa dầm ẩm thấp khá nhiều. lại như khách khí là Thiếu dương tướng hỏa, tướng hỏa gia lên trên Thiếu dương tướng hỏa đối với tướng hỏa thế là đồng khí, thì trong thời gian ấy khí hậu nóng lên dữ dội. những tiết khí khác cũng theo như thế mà suy ra.

IV – VẬN VÀ KHÍ KÉT HỢP VỚI NHAU

Ngũ vận và lục khí vận dụng kết hợp lại với nhau, mà đó cũng là một khâu trọng yếu trong học thuyết vận khí. Cách kết hợp ấy là lấy can chi làm cơ sở. Đoạn trên đã nói : “thiên can để tìm vận, địa chi để tìm khí”, cho nên thiên can phối hợp với địa chi, đó là đã đại biểu cho sự kết hợp giữa vận và khí, niên hiệu của mỗi năm đều do một thiên can và địa chi kết hợp lại, muốn suy lường được tình hình vận khí trong một năm thì cần phải đem hai thứ ấy kết hợp lại, mà tổng hợp phân tích cả toàn diện.

            Cách kết hợp can và chi để ghi lại từng năm, trong đoạn khái thuật ở trên đã nói qua, chữ thứ nhất của Thiên can là Giáp, chữ thứ nhất của Địa chi là Tý , Thiên can đặt trên, Địa chi đặt dưới, kết hợp can chi rồi bắt đầu từ giáp tý mà tính đi. Thiên lục vi chí đại luận sách Tố Vấn nói :”Thiên khí bắt đầu ở giáp, địa khí bắt đầu ở tý – tý và giáp hợp lại gọi là “Tuế lập”.  Một vòng tuần hoàn của giáp tý là 60 năm, bởi vì mười thiên can chuyển hết sáu vòng, 12 địa chi chuyển hết 5 vòng, cho nên trong thiên Thiên nguyên kỷ đại luận sách Tố Vấn có nói : “về thiên can thì dùng số “6 “về địa chi thì dùng số ‘5” .

  1. Sự thịnh suy của khí và vận gặp nhau – Đem can chi kết hợp lại căn cứ quan hệ sinh khắc của vận và khí , để suy tính tình hình thịnh suy của sự gặp nhau ấy, rồi theo đó mà có thể nói rõ hơn nữa sự biên hóa phức tạp của khí hậu. Sự thịnh suy của vận và khí  gặp nhau là lấy quan hệ sinh khắc theo thuộc tính ngũ hành cuả ngũ vận và lục khí để thuyết minh. Cộng có năm tên gọi  khác nhau như dưới  đây :

1) Thuận hóa – khí sinh vận                                           4) Bất hòa – vận khắc khí

2) Thiên hinh – khí  khắc vận                                         5) Thiên phù –   vận khí đồng nhau

3) Tiểu nghịch – vận sinh khí  

Hình 9 : bảng kê thịnh suy giữa vận và khí gặp nhau trong 60 năm

Năm tên gọi ở trên cũng tức là căn cứ tình hình vận và khí gặp nhau mà chia ra năm loại lớn, trong 60 năm thì mỗi loại đều có 12 năm. (xem biểu đồ trên).

Sở dĩ trong 60 năm cần phải phân ra năm thứ niên phận, như thuận hóa thiên hình… chủ yếu là khi tính sự biên hóa của khí hậu mỗi năm, trong hai phương pháp bàn về ngũ luận với lục khí ở trên, thì làm thế nào để dựa vào chỗ thịnh suy mà phân biệt được chủ và thứ để nắm vững mà vận dụng. như năm thuận hóa, năm thiên hình, bởi vì khí sinh vận và khí khắc vận, là thuộc về khí thịnh vận suy, cho nên khi tính sự biến hóa của khí hậu năm ấy thì lấy lục khí làm chủ yếu mà ngũ vận là chỉ để tham khảo. Mà như năm tiểu nghịch năm bất hòa bởi vì vận sinh khí và vận khắc khí , là thuộc về vận thịnh khí suy, cho nên khi tính thì lấy ngũ vận làm chủ yếu và lục khí thì chỉ để tham khảo. Như gặp năm thiên phù, là thuộc về năm khí vận đồng nhau, thì kết hợp cả hai mà vận dụng.

Như năm Mậu tuất, thiên can “mậu” thuộc hỏa (vận), địa chi “tuất” là Thái dương hàn thủy tư thiên (khí), thủy có thể khắc được hỏa, tức là khí khắc vận, cho nên năm ấy gọi là năm “thiên hình”, về khí hậu biến hóa thì lấy lục khí làm chủ. Như năm “ất hợi”, thiên can “ất” thuộc kim (vận), địa chi “hợi” là Quyết âm phong mộc tư thiên (khí) kim có thể khắc được mộc, thế là vận khắc được khí, cho nên năm ấy gọi là năm “bất hòa”, về khí hậu biến hóa thì lấy ngũ vận làm chủ. Lại như năm bính thìn, thiên can “bính” thuộc thủy (vận), địa chi “thìn” là Thái dương hàn thủy tư thiên (khí), vận với khí tư thiên đều thuộc thủy, cho nên gọi là năm “thiên phù”, vận với khí đều thuộc về hàn thủy cho nên kết hợp lại mà vận dụng, khí hậu biến hóa trong năm đó so với những năm khác là mạnh dữ hơn.

  1. Thiên phù tuế hội : Căn cứ vào tình hình khác nhau, khi kết hợp với vận khí mà chia ra năm thứ niên phận khác nhau là Thiên phù, Tuế hội, Thái ất thiên phù, Đồng thiên phù, Đồng tuế hội. Thiên phù nói ở đây cùng một dạng với “Thiên phù” ở năm mà vận với khí đồng nhau nói trên, mà bốn thứ niên phận như Tuế hội..  thì bao quát riêng cả bốn thứ niên phận như thuận hóa, thiên hình, v.v… nói ở trên; nhưng ý nghĩa phân loại về hai thứ này thì căn bản khác nhau. Thuận hóa, thiên hình v.v… là vấn đề chủ hay thứ khi tính khí hậu biến hóa trong mỗi năm, phân biệt như thế nào về hai phương pháp luận thuật ấy, còn năm thứ niên phận Tuế hội, Thái ất thiên phù, v.v… là dùng để nói rõ tình hình chung mạnh hay yếu của khí hậu biến hóa trong những năm ấy. Nói chung lại thì năm “Thiên phù” khí hậu biến hóa nhanh và mạnh, năm “Đồng thiên phù” cũng thế, khí hậu biến hóa trong năm “Tuế hội” thì trì hoãn mà không mãnh liệt, năm “Đồng tuế hội” cũng giống như thế, năm “Thái ất thiên phù” thì khí hậu biến hóa rất khác thường. Về tình hình cụ thể đương nhiên còn cần phải kết hợp sự thịnh suy của vận và khí gặp nhau, căn cứ vào vận hoặc khí của mỗi năm mà phân tích rõ hơn nữa.
  2. a) Thiên phù: Phàm những năm mà khí Tuế vận với khí Tư thiên gặp nhau, thì gọi là “Thiên phù”. Thiên Lục vi chỉ đại luận sách Tố Vấn nói “ Hoàng đế hỏi năm thuộc thổ vận mà khí tư thiên là Thái âm, năm thuộc hỏa vận mà khí tư thiên là Thiếu dương hoặc Thiếu âm, năm thuộc kim vận mà khí tư thiên là Dương minh, năm thuộc mộc vận mà khí tư thiên là Quyết âm, năm thuộc thủy vận mà khí tư thiên là Thái dương thì những niên phận ấy như thế nào? Kỳ Bá nói: “đó là khí tư thiên và ngũ vận hội với nhau, cho nên trong sách Thiên nguyên gọi đó là năm Thiên phù”. Năm thuộc vận gì thì chỉ đó là đại vận, trên thấy khí gì thì chỉ đó là tư thiên. Như năm đại vận là thổ gặp khí tư thiên là Thái âm thấp thổ, vận và khí tư thiên đều thuộc thổ, năm ấy gọi là năm “Thiên phù”. Trong một vòng giáp tý 60 năm có 12 năm là năm “Thiên phù”. (Xem ở bảng dưới đây)

  1. b) Tuế hội: Phàm tuế vận giống với thuộc tính Ngũ hành của niên chi thì gọi là “Tuế hội”.

            Thiên Lục vi chỉ đại luận sách Tố Vấn nói: “Mộc vận gặp năm mão, hỏa vận gặp năm ngọ, thổ vận gặp những năm thìn, tuất, sửu, mùi; kim vận gặp năm dậu, thủy vận gặp năm tý, những năm ấy gọi là “tuế hội”, tức là bình khí”. Tuế vận đương nhiên là lấy ngũ hành phối hợp với thiên can để thuyết minh, mà thuyết minh về 12 địa chi của lục khí trong mỗi năm cũng có thuộc tính ngũ hành của nó, tức là bảng địa chi phối hợp với ngũ hành nói trong đoạn khái thuật ở trên. Đoạn kinh văn này nói như mộc vận gặp năm mão v.v… là nói tuế vận năm ấy là mộc, nên chi mão cũng thuộc mộc, vì thuộc tính ngũ hành là giống nhau, nên gọi là năm “tuế hội”, mà trong có những năm kỷ sửu, kỷ mùi, ất dậu, mậu ngọ, lại cũng giống với “thiên phù”, nên kỳ thực thì chỉ có bốn năm. (Xem bảng dưới đây)

            c) Thái ất thiên phù: Phàm năm đã gặp “Thiên phù” lại là tuế hội nữa, thì gọi là năm: “Thái ất thiên phù”. Thiên Thiên nguyên kỷ đại luận sách Tố Vấn nói: “năm mà vận khí tư thiên và niên chi ba thứ cùng một khí với nhau thì gọi là tam hợp. Thiên Lục vi chỉ đại luận lại gọi là “Thái ất thiên phù”. Như năm kỷ sửu, kỷ là thổ vận, sửu là Thái âm thấp thổ tư thiên, đó là thiên phù, đồng thời thuộc tính Ngũ hành của niên chi sửu cũng là thổ, cùng giống với thuộc tính ngũ hành của vận, nên gọi là tuế hội. Bởi vì 3 thứ ấy (vận, khí tư thiên, niên chi) đều thuộc thổ, cho nên gọi là năm “Thái ất thiên phù”. Trong 60 năm thì gặp bốn năm Thái ất thiên phù tức là bốn năm tuế hội giống với thiên phù nói ở trên. (Xem bảng dưới đây)

  d) Đồng thiên phù: Phàm năm niên can và niên chi đều thuộc dương (thái quá), đồng thời tuế vận lại giống với thuộc tính ngũ hành của khí tại tuyền, tức là năm “đồng thiên phù”. Thiên Lục nguyên chính kỷ đại luận sách Tố Vấn nói: “Thái quá mà gia lên Đồng thiên phù”. Như năm giáp thìn, giáp thuộc dương, là thổ vận thái quá. Niên chi thìn cũng thuộc dương. Năm thìn là Thái dương hàn thủy tư thiên, Thái âm thấp thổ tại tuyền, khí tại tuyền là thổ cũng giống với vận là thổ, cho nên gọi là năm “đồng thiên phù”. Trong 60 năm gặp sáu năm là đồng thiên phù trong đó 2 năm giáp thìn, giáp tuất đã giống với năm Tuế hội, kỳ thực chỉ có bốn năm. (Xem bảng dưới đây)

  1. e) Đồng tuế hội: Phàm năm niên can và niên chi đều thuộc âm (bất cặp), đồng thời tuế vạn lại giống với thuộc tính của khí tại tuyền thì gọi là “đồng tuế hội” tức là trong thiên Lục nguyên chính kỷ đại luận sách Tố Vấn nói: “Bất cập mà gia lên đồng tuế hội”. Như năm Tân sửu, tân thuộc âm, là tuế vận bất cập, niên chi sửu cũng thuộc âm. Năm sửu là thái âm thấp thổ tư thiên, thái dương hàn thủy tại tuyền, khí tại tuyền là thủy, cũng giống với vận là thủy, cho nên gọi là năm “đồng tuế hội”. Trong 60 năm, gặp sáu năm là đồng tuế hội. (Xem bảng dưới đây)

Nói tóm lại Thiên phù, Tuế hội, v.v… là dùng để phân biệt niên phận khác nhau của khí kết hợp với vận mà tiến lên một bước để phân tích sự thường biến của khí hậu. Trong 60 năm tính ra có 12 năm Thiên phù, 8 năm Tuế hội, 4 năm Thái ất thiên phù, 6 năm Đồng thiên phù, 6 năm Đồng tuế hội, cộng là 36 năm, trừ 10 năm trùng với nhau ra, kỳ thực chỉ có 26 năm.

  1. Bình khí: là chỉ vào khí không thái quá không bất cập. Đoạn trên nói ngũ hành phối hợp với thập can, chia ra hai loại âm và dương, tức là đem ngũ vận chia ra năm thái quá và năm bất cập, hoàn toàn không nói đến Bình khí. Bình khí nói ở đây là sau khi đã đem kết hợp vận với khí (can và chi) rồi, theo vào sự thái quá hay bất cập của tuế vận, với lục khí tư thiên, và quan hệ phương vị về thuộc tính ngũ hành của địa chi để xác định. Cho nên thiên vận khí trong sách Trương thị loại kinh nói: “Vận thái quá mà bị ức chế vận bất cập mà được phù trợ”. Nhân đó mà sinh ra bình khí. Như năm Mậu thìn, mậu là hỏa vận thái quá, năm thìn là thái dương hàn thủy tư thiên. Mậu hỏa thái quá, bị khí tư thiên là hàn thủy ức chế mà trở nên bình khí. Lại như năm tân hợi, tân là thủy vận bất cập, niên chi hợi là thuộc thủy ở phương bắc, thủy vận tuy bất cập, nhưng được sự phù trợ của niên chi là phương bắc thủy, nên cũng trở thành bình khí.

            Năm bình khí cũng thuộc vào những năm thiên hình, thiên phù nói trên, hoàn toàn không phải là ở ngoài năm loại niên phận do sự thịnh suy của vận và khí, gặp nhau mà chia ra. Nó nói lên sự biến hóa bình thường của khí hậu, nếu như có sự biến hóa khác thường thì cũng là nhẹ hơn. Trong một vòng giáp tý 60 năm, gặp năm vận thái quá mà bị ức chế, thì có sáu năm tức là mậu thìn, mậu tuất, canh tý, canh ngọ, canh dần, canh thân, gặp năm vận bất cập nhưng được phù trợ mà trở thành bình khí cũng có sáu năm tức là ất dậu, đinh mão, kỷ sửu, kỷ vị, tân hợi, quý tỵ.

V – VẬN DỤNG HỌC THUYẾT VẬN KHÍ VÀO Y HỌC

 

            Học thuyết vận khí là phương pháp luận lý của đời xưa dùng để giải thích và suy tính sự biến hóa của khí hậu. Vận dụng học thuyết này vào y học, trước tiên là nói rõ ảnh hưởng của khí hậu biến hóa ở ngoài đối với thân thể người ta, trong đó chủ yếu là đề ra nhân tố gây bệnh của lục dâm căn cứ tính chất khác nhau của nguyên nhân bệnh, rồi vận dụng học thuyết âm dương ngũ hành để thuyết minh một cách khái quát về tình hình phát bệnh trong thân thể người ta, và theo vào chứng trạng khác nhau sau khi thân thể đã phát bệnh mà tổng hợp quy nạp, rút ra quy luật cơ bản, của lục dâm gây nên bệnh, để giúp cho việc chẩn đoán và để tham khảo khi xác định nguyên tắc chữa bệnh.

            Căn cứ vào thiên Khí giao biến đại luận và thiên Chí chân yếu đại luận trong Nội Kinh có chép, bất luận ngũ vận biến hóa hay lục khí biến hóa, đều có thể gây bệnh cho người ta, nhưng đem quan hệ giữa khí hậu biến hóa với bệnh tật mà xét thì quy luật cơ bản là nhất trí, chủ yếu là nói những bệnh tật vì khí hậu khắc với tạng khí mà gây nên, thứ hai là nói những bệnh vì khí hậu ảnh hưởng đến tạng thuộc với khí ấy mà phát ra, thứ ba nữa còn có ảnh hưởng kinh mạch và quan hệ biểu lý giữa các tạng phủ mà phát bệnh v.v… Tóm lại, vì thuộc tính của nguyên nhân bệnh không giống nhau và thể chất của người ta cũng khác nhau, nên tạng phủ bị bệnh và chứng trạng hiện ra cũng khác nhau. Nay đem sự bất cập thái quá của ngũ vận, và khí hậu biến hóa khác nhau về tư thiên tại tuyền trong lục khí đã gây nên tình trạng bệnh tật cho người ta đưa ra ví dụ nói rõ như dưới đây:

            Như năm đinh năm nhâm đều thuộc mộc vận, đinh là mộc vận bất cập, nhâm là mộc vận thái quá. Mộc bất cập thì táo khí lưu hành, (vượng thịnh), mộc thái quá thì phong khí lưu hành (vượng thịnh), vì thế tính chất ảnh hưởng đến con người khi phát bệnh đều có khác nhau. Thiên Khí giao biến đại luận sách Tố Vấn nói: “Năm mộc khí bất cập, thì táo khí sẽ vượng thịnh, người ta phần nhiều bị chứng trung khí hư hàn, sườn và sườn cụt đau nhức, bụng dưới đau, trong bụng sôi, đại tiện nhão sột sệt… nóng rét… ho mà tịt mũi”. Những chứng trạng chép trong đó là có liên quan đến ba tạng, như các chứng trung khí hư hàn, sôi bụng, nhão sột sệt là thuộc tỳ; sườn và sườn cụt đau, bụng dưới đau là thuộc can; nóng rét, ho, tịt mũi là thuộc phế. Lại nói: “Năm mộc thái quá, phong khí sẽ vượng thịnh… người ta bị đại tiện sống phân (tả vì tiêu hóa không tốt), ăn uống giảm sút, chân tay mình mẩy nặng nề yếu đuối, phiền muộn uất ức, sôi bụng, bụng đầy trướng… nặng thời hay giận dữ, sinh các bệnh ở đầu, như đầu choáng mắt hoa… sườn đau nhức, nôn mửa không chỉ”. Trong đó, các chứng tiết tả, ăn kém, mình nặng, phiền muộn, sôi ruột, bụng đầy; mửa nhiều là bệnh thuộc tỳ vị, các chứng nóng nảy giận dữ chóng mặt choáng đầu đau cạnh sườn là bệnh thuộc can.

            Lại như năm tý năm ngọ, là Thiếu âm quân hỏa tư thiên, dương minh táo kim tại tuyền, khí tư thiên chủ về thượng bán niên khí tại tuyền chủ về hạ bán niên. Vì khí hậu khác nhau cho nên tình hình phát bệnh trong một năm cũng đều khác nhau. Như trong thiên Chí chân yếu đại luận sách Tố Vấn nói: “Năm thiếu âm tư thiên, nhiệt tà vượng thịnh… người ta phần nhiều bị các chứng trong ngực phiền nóng, cổ khô, sườn bên mặt đầy tức, ngoài da đau nhức, nóng rét ho suyễn nhổ ra huyết, ỉa ra huyết, chảy máu cam… Những bệnh chứng kể trong đó là có liên quan đến những tạng tâm, phế, can. Lại nói năm dương minh tại tuyền, thì táo khí vượng thịnh. Người ta thường bị các chứng mửa khan, mửa ra đắng, hay thở dài, tim, sườn đau không trở tráo được, nặng hơn thì cổ khô mặt bẩn, người không tươi nhuận; ngoài bàn chân nóng”. Những bệnh chứng kể trong đó là có liên quan đến các tạng phế can.

            Tóm lại, trong việc chẩn đoán trị liệu, kết hợp nguyên tắc ứng dụng học thuyết vận khí, chủ yếu là căn cứ vào tính chất của ngoại nhân và đặc điểm chứng trạng sau khi phát bệnh đồng thời nắm vững công hiệu của khí vị trong vị thuốc, theo đó mà xác định việc chẩn đoán và xử phương. Học thuyết vận khí là theo trên quan hệ khí hậu biến hóa với sự phát bệnh của người ta mà cung cấp tài liệu, có lợi cho việc biện chứng khi lâm sàng, theo trên cơ sở biện chứng rõ ràng đúng đắn, nhằm đúng kết quả của việc biện chứng, mà lập pháp và chế phương dược chính xác. Cho nên về nguyên tắc trị liệu, thì căn cứ nội dung bàn ở các thiên vận khí trong Nội Kinh và nguyên tắc chữa bệnh vận dụng trên lâm sàng là hoàn toàn nhất trí. Như phép tắc chữa bệnh vì khí tư thiên tại tuyền gây ra chép trong thiên Chí chân yếu đại luận: “Phàm khí tại tuyền là phong khí thái quá mà xâm vào thân thể người ta thì chữa bằng thuốc tân lương” “Do khí tư thiên thắng quá mà gây nên bệnh, nếu là phong tà xâm vào thì chữa bằng thuốc tân lương”, tinh thần cơ bản của nó là phong thì dùng thuốc phát tán khử phong, hỏa, nhiệt thì dùng thuốc thông hạ và nhuận táo, hàn thì dùng thuốc ôn nhiệt, đó là căn cứ vào tính chất của lục khí mà định ra phép tắc chữa bệnh. Lẽ đương nhiên, tuy thuộc một khí làm ra bệnh, nhưng chứng trạng của bệnh phát ra thường tùy ở thể chất con người và chỗ bệnh phát có khác nhau, cho nên trong việc lập phương dùng thuốc lại cần phải linh hoạt mà vận dụng.

 

VI CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN GIỚI

 

            Con người là một sinh vật trong tự nhiên giới, luôn luôn tiếp xúc với hoàn cảnh tự nhiên, vì thế không thể tách rời quan hệ giữa người với tự nhiên được.

            Quan hệ giữa người với tự nhiên trong thiên Tà khách sách Linh Khu nói: “Con người tương ứng với trời đất”. “Trời” và “đất” là đại biểu cho tự nhiên giới. “tương ứng” là chỉ vào khi sự biến hóa của tự nhiên giới ảnh hưởng đến thân thể người ta thì thân thể người ta tất nhiên có sự phản ứng với nhau. Lý luận quan hệ giữa người với tự nhiên trong những thiên Tứ khí điều thần đại luận, Sinh khí thông thiên luận, Âm dương ứng tượng đại luận, Trước chí giáo luận, Dị pháp phương nghi luận và Tạng khí pháp thời luận ở sách Tố Vấn đều có bàn chép, trong đó như thiên Trước chi giáo luận nói: “Trên biết thiên văn, dưới biết địa lý, giữa biết nhân sự, thì có thể tồn tại được lâu dài” và trong thiên âm dương ứng tượng đại luận có nói: “Điều dưỡng thân thể mà không theo vào lẽ tự nhiên thì tật bệnh sẽ phát sinh”, điều đó càng thể hiện sự coi trọng về vấn đề này.

            Khi bàn về quan hệ giữa người với tự nhiên giới, trước tiên cần phải nói đến hiện tượng của tự nhiên giới và sự biến hóa của hiện tượng ấy. Về điểm này, trong Nội Kinh đã nhận thức rằng quả đất không lúc nào là không vận động và biến hóa. Sinh ra biến hóa thì khí trời luôn luôn giáng xuống, khí đất thì luôn luôn đưa lên, một khí ở trên, một khí ở dưới, hấp dẫn lẫn nhau, một khí đưa lên, một khí đưa xuống, tác dụng lẫn nhau. Đồng thời có động tất có tĩnh, một bên động, một bên tĩnh cũng có thể ảnh hưởng lẫn nhau mà sinh ra sự biến hóa. Ví như trong thiên Lục vi chỉ đại luận sách Tố Vấn nói: “Khí trời giáng xuống thì sẽ thấu xuống đất. Khí đất đưa lên thì sẽ bốc lên trời, vì trời đất có tác dụng trên dưới hút nhau, một khí đưa lên, một khí giáng xuống, làm nhân quả lẫn nhau mà sinh ra biến hóa”.

            Thiên Thiên nguyên kỷ đại luận sách Tố Vấn nói: “động tĩnh hút nhau, trên dưới ảnh hưởng lẫn nhau, âm dương xen lẫn, phối hợp với nhau thì sinh ra sự biến hóa”. Chính vì khí âm dương của thiên địa không phải là yên tĩnh, mà là trên dưới lên xuống vận động không ngừng cho nên mới sinh ra sự biến hóa, có biến hóa mới có thể sinh ra vạn vật. Còn người ta thì như thế nào? Căn cứ lý luận Nội Kinh thì khí trời đưa xuống, khí đất bốc lên, sự phối hợp giữa khí đưa lên và khí đưa xuống gọi là “khí giao”, người ta sinh tồn ở trong khoảng khí giao, hay nói cách khác người ta sinh hoạt trong sự vận động biến hóa của khí âm dương trong trời đất.

            Sự biến hóa của khí âm dương trong trời đất không phải là trừu tượng mà có đủ cơ sở vật chất nhất định. Thiên Thiên nguyên kỷ đại luận sách Tố Vấn nói: “Ở trời là phong, ở đất là mộc, ở trời là nhiệt, ở đất là hỏa, ở trời là thấp, ở đất là thổ, ở trời là táo, ở đất là kim, ở trời là hàn, ở đất là thủy, cho nên ở trời là khí, ở đất thành hình, hình và khí cảm ứng với nhau mà hóa sinh ra vạn vật”. Lại nói: “Hàn, thử, táo, thấp, phong, hỏa là âm dương của trời, ba khí âm, ba khí dương ứng với sáu khí ấy, Mộc, hỏa, thổ, kim, thủy (hỏa) là âm dương của đất, sự biến hóa, sinh, trưởng, hóa, thu, tàng ứng với khí ấy”. Tức là nói trời có khí hàn, thử, táo, thấp, phong; đất có hình mộc, hỏa, thổ, kim, thủy trong tình trạng hình với khí cảm ứng lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau mà phát sinh ra sự biến hóa, do sự biến hóa mà phát sinh ra vạn vật. Đồng thời sau khi vạn vật sinh sản, cũng không phải là nhất định không biến hóa nữa, mà nó có một qua trình phát sinh phát triển, tức là sinh -> trưởng -> hóa -> thu -> tàng. Mà sự chuyển biến trong quá trình ấy luôn luôn tương quan với sự biến hóa của âm dương trời đất. Theo đó có thể hiểu được sự biến hóa của tự nhiên giới và sự biến hóa phát sinh phát triển của vạn vật là không tách rời được sự biến hóa mâu thuẫn thống nhất của âm dương.

            Nói tóm lại, sự sinh tồn và phát triển của sinh vật, đều trực tiếp chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh khách quan. Người ta cũng không ra ngoài cái quy luật ấy, người với tự nhiên giới là có sẵn quan hệ mật thiết, không thể tách rời ra được Thiên Bảo mạng toàn hình luận sách Tố Vấn nói: “Trong khoảng trời đất có đầy đủ vạn vật không gì quý bằng người, người nhờ vào khí của trời đất và tinh khí của đồ ăn thức uống mà sinh tồn, theo vào quy luật sinh, trưởng, thu, tàng của bồn mùa mà trưởng thành”. Đó là có ý nói: Tự nhiên giới tuy có vạn sự vạn

   Đến năm Tỵ năm Hợi, là Quyết âm phong mộc tư thiên, Thiếu dương tướng hỏa tại tuyền. Bởi vì khí tư thiên tại tuyền đã chuyển sang phía trước một bước, bốn bước gian khí tất nhiên cũng chyển sang một bước, thì hữu gian của Tư thiên là Thái dương, tả gian lả Thiếu âm; hữu gian của Tại tuyền là Thái âm, tả gian là Dương minh.

  Bốn bước gian khí tùy theo sự di chuyển Tư thiên tại tuyền còn bao hàm lẽ thăng giáng của âm dương nữa, tức là âm thăng thì dương giáng, dương thăng thì âm giáng, như Thái dương tư thiên chuyển sang Quyết âm tư thiên, thì Thiếu âm nguyên là hữu gian của tại tuyền lại chuyển lên thành tả gian của tư thiên mà Dương minh nguyên là hữu gian của tư thiên lại xuống thành tả gian của tại tuyền. Tức là thành âm thăng dương giáng, Những năm khác cũng theo đó mà suy ra.

   c)Quy luật khí hóa của khách khí- Khí hóa của khác khí tức là chỉ vào khí hậu biến hóa. Quan hện giữa phong, nhiệt, hỏa, thấp, táo, hàn, sáu khí hậu biến hóa, với tam âm tam dương thì chính như trong thiên Chí chân yếu đại luận sách Tố-vấn nói: “Quyết âm tư thiên thì khí theo phong hỏa; Thiếu âm tư thiên thì khí theo nhiệt hỏa, Thái âm tư thiên thì khí theo thấp hỏa; Thiếu dương tư thiên thì khí theo hỏa hóa, Dương minh tư thiên thì khí theo táo hóa; Thái dương tư thiên thì khí theo hàn hóa”. Đó tức là quy luật khí hóa của khách khí tư thiên. Vì khí tam âm tam dương mỗi năm một khí tư thiên khác nhau, nhân đó mới sinh ra các thứ khí hậu không giống nhau, tức là nói: “khí tư thiên của tam âm tam dương là đại biểu cho sáu thứ khí hậu. Không phải chỉ riêng khí tư thiên như thế, đồng thời đã đề ra Địa hóa, gian khí cũng như thế” (trong thiên Chí chân yếu đại luận). Đó là nói quy luật khí hóa của Taị tuyền và bốn bước gian khí là nhất trí với khí tư thiên.

   Tuy quy luật hóa khí của khí Tư thiên tại tuyền với khí Tả gian Hữu gian là nhất trí, nhưng khi khí hóa làm chủ về sáu bước này trên thời gian có chỗ khác nhau. Thiên Chí chân yếu đại luận sách Tố-vấn nói: “Khí tư thiên tại tuyền chủ việc khí hóa một năm, khí gian khí chủ việc khí hóa trong một bước” (60 ngày). Đó là nói rõ chủ về thời gian khác nhau của khí tư thiên tại tuyền cùng gian khí. Khi tư thiên lấy Địa chi của mỗi năm mà nói thì chủ việc khí hóa trong một năm; đối với tại tuyền mà nói thì mỗi khí chủ việc khí hóa nửa năm, tứ là khí tư thiên chủ thượng bán niên của năm về trước, khí tại tuyền chủ hạ bán niên, khí tư thiên tại tuyền và khí tả gian hữu gian chia thành sáu bước, thì mỗi bước đều chủ về khí hóa của bốn tiết tức là thời gian 60 ngày 87 khắc rưỡi.

  1. d) Sự biến hóa thắng phục của khách khí: thắng là chủ động mạnh mẽ mà thắng, phục là bị động là phục thù lại. Khí thắng phục tức là thượng bán niên có khí thắng khác thường thì hạ bán niên nhân đó mà phát sinh phục khí để phản lại. Như thượng bán niên nhiệt khí thắng quá thì hạ bán niên hàn khí đến phục thù, v.v… Đó là thuộc về sự biến hóa khác thường trong việc khí hóa của khách khí.

   Thiên Chí chân yếu đại luận sách Tố-vấn chép: “Hoàng đế hỏi: sự vận động của thắng khí phục khí có thời gian nhất định không? Thời gian đến có phải nhất định có thắng khí phục khí không?- Kỳ Bá nói: “Bốn mùa thì có vị trí cố định, nhưng có thắng khí phục khí hay không thì không hoàn toàn nhất định. Hoàng đế hỏi: “đó là vì lẽ gì?” Kỳ Bá nói: “từ sơ khí đến hết tam khí thì thiên khí làm chủ là lúc mà thường thấy thắng khí; từ tứ khí đến hết chung khí thì địa khí làm chủ, là lúc mà thường thấy phục khí, có thắng khí thì mới có phục khí, không có thắng khí thì không có phục khí. Hoàng đế nói: “Đúng! Phục khí hết rồi mà lại có thắng khí phát sinh, là thế nào?” Kỳ Bá nói: “Có thắng khí thì phải có phục khí, không có hạn số nhất định. Khi khí suy giảm rồi mới không phát sinh nữa, vì thế sau phục khí lại có thắng khí phát sinh, nếu không có sự phát sinh tương ứng của phục khí thì sẽ có sự tổn hại, đó là hại đến sinh mạng”. Đoạn kinh văn này đã nói rõ về bốn vấn đề như sau:

  1-Khí thắng, phục trong thứ tự từng mùa mà có quy luật nhất định, từ sơ khí đến hết tam khí là khí tư nhiên làm chủ về thượng bán niên, nếu có phát sinh khí hậu quá lúc thường thì gọi là thắng khí, từ tứ khí đến hết chung khí là khí Tả tại tuyền làm chủ về hạ bán niên, phát sinh khí hậu phản lại với khí thượng bán niên thì gọi là phục khí.

  2-Mỗi năm có thắng khí phục khí hay không, là không có quy luật nhất định, nhưng thượng bán niên có thắng khí thì hạ bán niên mới có phục khí, nếu không có thắng khí thì không có phục khí.

   3-Nếu có thắng khí mà không có phục khí thì sẽ sinh ra tai hại.

   4-Sau phục khí lại có thắng khí, hoàn toàn không phải như sự tuần hoàn không thay đổi vì thắng khí không phải chỉ là một thứ nó tùy theo tình hình cụ thể của khí hậu biến hóa mà quyết định.

  đ)Sự không thiên chính (1), không thoái vị (2) của khách khí: tư thiên tại tuyền của khách khí, tuy mỗi năm thay đổi một lần, nhưng cũng có khi khí hậu trái thường không theo quy luật chung mà di chuyển. Đó là thuộc về tính trạng đặc biệt, tức như trong thiên Thích pháp sách Tố-vấn đã nói đến những vấn đề: “không thiên chính”, “không thoái vị”, “thắng không lên”, “giáng không xuống”.

   “Không thoái vị” ví như năm nay đúng là Thái dương hàn thủy tư thiên, nhưng nếu khí tư thiên năm ngoái là Dương minh táo kim hữu dư thì lại cứ giữ quyền cả năm nay nữa, lưu lại không đi (không chịu thoái vị) nhân đó mà ảnh hưởng đến Thái dương hàn thủy năm nay không thiên chính lên vị trí tư

(1)Thiên chính: năm trước tư thiên ở tả gian, năm nay đổi cho tư thiên chủ quản, hoặc năm trước tại tuyền ở tả gian mà năm nay đổi lại tại tuyền chủ quản.

(2)Thoái vị: năm trước tư thiên chủ quản, năm nay tư thiên lui xuống ở hữu gian hoặc năm trước tại tuyền chủ quản mà năm nay tại tuyền lui xuống ở hữu gian.

 

 

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!