Lời Nói Đầu

LỜI NÓI ĐẦU

 

1 – Y học Trung Quốc là một kho tàng quí báu vĩ đại, là tổng kết kinh nghiệm của nhân dân Trung-quốc đấu tranh với tật bệnh mấy nghìn năm lại đây, dưới sự chỉ đạo của hệ thống lý luận độc đáo đó, đã định ra được nguyên tắc chữa bệnh bằng “Biện chứng luận trị” ; về phương diện kỹ thuật chữa bệnh, ngoài việc dùng thuốc ra còn nhiều cách chữa đặc  biệt khác như châm cứu, khí công, xoa bóp , v.v…Ngoài ra các mặt có quan hệ đến việc quản lý y dược, việc giáo dục y học cũng đều đã hình thành được một chế độ tương đối đầy đủ. Vì thế y học Trung-quốc mấy nghìn năm nay đã luôn luôn bảo vệ được sức khỏe cho nhân dân Trung-quốc, đã có tác dụng rất trọng đại đối với sự phồn vinh của dân tộc, đồng thời cũng có sự cống hiến nhất định đối với sự phát triển khoa học về y dược của nước ngoài .

   Ở đây chỉ trình bày một cách khái quát những điểm quan trọng: Trước công nguyên từ tám đến ba thế kỉ (thời kỳ Xuân thu Chiến quốc) trên lịch sử Trung-quốc đã từng xuất hiện một cao trào văn hóa là “Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng”. Mọi tư tưởng học thuật đều đã đạt được cao độ nhất định. Chịu ảnh hương của những hoàn cảnh khách quan ấy, nhiều nhà y học xuất sắc đã tổng kết được những thành tựu y học của thời kỳ Xuân thu Chiến quốc và từ thời bấy giờ trở về trước soạn ra quyển Hoàng đế Nội kinh là pho sách thuốc đầu tiên của Trung y. Sách này lấy lý luận duy vật thô sơ là học thuyết âm dương ngũ hành làm hệ thống lý luận của y học, dùng lý thuyết ấy để giải thích quan hệ giữa người với giới tự nhiên, quan hệ lẫn nhau giữa những tạng phủ trong thân thể và theo nguyên tắc của quan niệm chỉnh thể đã phát minh được những vấn đề có quan hệ đến y học như bệnh lý, chẩn đoán, phòng bệnh, chữa bệnh ,v.v…, do đó mà định ra được cơ sở lý luận của y học.

Cũng thời ấy có danh y Biển Thước (Tần Việt nhân) giỏi về chẩn đoán và vận dụng những phương pháp bằng thuốc thang, châm cứu để chữa bệnh. Về mạch học ông cũng đã có thành tựu tương đối, cho nên sử ký có chép : “Trong thiên hạ ngày nay nói đến mạch là từ Biển Thước mà ra”. Ông cũng là một thầy thuốc giỏi, sở trường về các khoa nội, phụ, nhi, và ngũ quan, ông thường căn cứ tình hình bệnh phát nhiều ở các địa phương và sự cần thiết của quần chúng, rồi đi khắp các nước chữa bệnh cho nhân dân, nghề thuốc của ông đã nổi tiếng trong thiên hạ, đã cứu chữa được nhiều bệnh nguy hiểm, nhưng ông không bao giờ kiêu ngạo và tự mãn, tinh thần khiêm tốn của ông đã thành khuôn mẫu cho những người làm thuốc.

Nhà y học vĩ đại đời Hán là Trương-trọng-Cảnh, (thế kỉ thứ II-III sau C.N.) đã nghiên cứu những lời dạy của người xưa, lượm lặt rộng rãi nhiều phương thuốc, trên cở sở lý luận của Nội kinh, ông đã phát triển thêm phép tắc “Biện chứng luận trị” đã soạn ra quyển “Thương hàn tạp bệnh luận” (bao gồm cả hai bộ Thương hàn và Kim quĩ yếu lược, là bộ sách thứ nhất chuyên về Lâm sàng của Trung-quốc hiện vẫn còn, ngoài giá trị thực dụng ra, mặt khác sách ấy còn thay thế quyển ngoại kinh đã bỏ mất từ trước, (Ngoại kinh là một bộ sách về lâm sàng cùng tương đương với bộ Nội kinh là sách lý luận y học của thời xưa). Đó cũng là một sự cống hiến vĩ đại của Trương-trọng-Cảnh.

Đồng thời với Trương-trọng-Cảnh có danh y Hoa Đà. Ông tinh thông các khoa Nội, ngoại, phụ, nhi, châm cứu, đặc biệt là chữa bệnh ngoại khoa, ông đã có thành tựu vượt bậc. Hậu Hán thư chép chuyện Hoa Đà rằng : “Nếu bệnh vi kết lại ở trong dùng châm, dùng thuốc không được, thì trước tiên dùng Ma phi tán cho uống với rượu. Khi đã say không biết gì nữa thì mổ lưng và bụng ra, cắt chỗ tịch tụ ấy đi, nếu bệnh ở trường vị thì cắt ra và rửa sạch, trừ hết chất bẩn của bệnh rồi khâu lại và dán Thần cao vào, trong 4, 5 ngày chỗ cắt sẽ lành, khoảng một tháng thì sẽ bình phục như cũ”. Đó là lời ghi chép sớm nhất trên thế giới về việc đánh thuốc mê để mổ bụng.

   Vương-thúc-Hòa đời Tấn (210-285 sau C.N.) soạn ra quyển Mạch kinh, đã tập hợp tất cả những thành công về mạch học từ đời Tấn trở về trước, là bộ sách thứ nhất chuyên về mạch học. Đặc biệt là ông đề xuất ra cách “xem mạch” “nghe thanh âm”, “trông khí sắc”, “hỏi chứng bệnh” đều cần phải kết hợp với nhau và đều phải coi trọng cả thì mới có thể nối gót được các bậc hiền triết đời xưa”, đủ thấy ông là người có kiến thức vượt bậc. Cát-Hồng (278-339 sau C.N.) cũng là một nhà y học vĩ đại trong thực tiễn chữa bệnh và uống thuốc theo phép “Thiêu đan luyện hống”(1)     (1) Thiêu đan luyện hống : Thuật luyện đan do Cát-hồng phát minh, dùng Đan sa đun lâu thành Thủy ngân, để lâu lại trở thành Đan sa     .Ông đã xúc tiến phát triển việc chế thuốc hóa học và còn soạn ra quyển “Trửu hậu phương” vừa giản dị, vừa có công hiệu nhanh chóng, tiện cho việc sử dụng của quảng đại quần chúng nhân dân, trong đó có chép nhiều thứ bệnh truyền nhiễm, như về chứng hậu và đường lối truyền nhiễm của các bệnh đầu mùa, Mã tỷ thư, Sa sắt, đều có chép rất kỹ càng.

Y học thời kỳ Tùy Đường (589-709 sau C.N.) chẳng những đã kế thừa được học              thuyết của tiền nhân, mà còn có sự phát triển thêm nữa. Như Sào-nguyên-Phương (năm 610) soạn ra quyển “Chư bệnh nguyên hậu luận” chép 1720 bài bàn về triệu chứng các loại bệnh, trong đó đều có chép rõ ràng cách xem xét  phân biệt về bệnh lên đậu, bệnh sởi( thời kì phát ban) và về những bệnh thương hàn, ôn bệnh, phong hủi là bệnh có tính chất truyền nhiễm mà gây nên. Đó là một bộ sách sớm nhất chuyên về nguyên nhân và bệnh lý học hiện còn ở Trung-quốc.

Tôn-tư-Mạc (581-682) là một nhà đại y học ở đời Đường, ông nhận rằng : “Nhân mạng là rất trọng, quý hơn nghìn vàng, một phương thuốc mà cứu chữa được, còn quý hơn thế nữa”. Vì thế ông mới soạn ra sách “Thiên-kim yếu phương”, là một bộ sách có đầy đủ lý luận, phương dược và các cách chữa bệnh. Ông rất coi trọng Phụ khoa và Nhi khoa, đem những bệnh đàn bà trẻ con đặt vào đầu sách, dùng bệnh chứng của tạng phủ để phân loại cũng là do ông sáng tạo ra. Tiếp sau đó, Vương-Đạo (năm 752) soạn ra quyển “Ngoại đài bí yếu” , sách đó chia thành 1.104 môn, sưu tầm rất đầy đủ những trước tác từ đời Đường trở về trước của nhiều nhà y học nổi danh như Thâm-sư, Thôi-thị, Hứa-nhân-Tắc, Trương-văn-Trọng đã bị mất từ trước đời Nam-Tống, may nhờ quyển ấy mà bảo tồn được để lưu truyền về sau.

Đến đời Tống nghề in hoạt bản (typo) phát đạt, các sách thuốc nhờ đó mà được truyền bá rộng rãi như từ triều Nhân-tôn đến Anh-tôn  (1029-1067), nhà nước đã triệu tập các ông Cao-bảo-Hành, Lâm-Ức để làm việc sữa chữa và biên tập các sách thuộc cổ như Nôi-kinh, Thương hàn luận và nhiều sách thuốc từ đời Tùy, Đường trở về trước đều đã qua các ông này chỉnh lý, in và phát hành, đồng thời đã chính thức mở rộng việc giáo dục y học, cho nên các khoa học thuật về phương diện y học đều rất phát đạt, soạn những bộ sách lớn có lý luận, phương dược như bộ Thái bình thánh huệ phương, bộ Thanh tế tổng lục, và Bộ Thái bình hòa tễ cục phương do các danh y tập thể thực nghiệm và biên soạn, được nhà nước công nhận. Chuyên về “Nhi khoa” có bộ Tiểu nhi dược chứng trực quyết của Tiền-trọng-Dương : Chuyên về “Phụ khoa” có bộ Phụ nhân đại toàn lương phượngcủa Trần-tự-Minh, về Ngoại khoa thì có bộ Sang dương toàn thư của Đậu-hàn-Khanh. Ngoài ra còn có bộ Tẩy oan lục tập chứng của Tống-Từ là bộ sách pháp y đầu tiên của Trung-quốc.

Đến đời Kim, Nguyên thì y học phát triển đặc biệt, sự hình thành các phái học giả đã làm phong phú học thuật của Trung y như: Lưu-hoàn-Tố (1120-1200) giỏi về dùng thuốc mát, như quyển Tố vấn huyền cơ nguyên bệnh thức của ông, nhận rằng “Lục khí đều theo hỏa mà hóa”, do đó mà có lý luận “giáng tâm hỏa, ích thận thủy”, người sau gọi ông là phái hàn lương. Lý-đông-Viên (1180-1251) chữa bệnh chú trọng vào tỳ vị, nhận rằng “Thổ” là mẹ đẻ ra vạn vật, có soạn những quyển “Tỳ vị luận, Nội ngoại thương biện hoặc luận” và sáng lập ra những phương “Bổ trung ích khí”, “Thăng dương ích vị” nhân đó người đời sau gọi ông là phái bổ thổ. Trương-tử-Hòa (1156-1230) trong việc chữa bệnh giỏi về ba phép “Hãn”, “Thổ”, “Hạ”. Ông soạn ra quyển “Nho môn sự thân” rất chú trọng đến phép hạ, ông nhận rằng chữa bệnh trước hết phải coi trọng việc đuổi tà khí, tà khí hết thì chính khí yên, không thể sợ công phạt mà nuôi bệnh tà được, người sau nhân đó mà gọi ông là phái công hạ. Chu-đan-Khê (1281-1358) đặt ra thuyết Dương thường hữu dư, âm thường bất túc, vì thế mà chữa bệnh chú trọng về tư âm, người sau gọi ông là phái tư âm. Trên học thuật, bốn nhà ấy đều là những người kế thừa lý luận của Nội-kinh mà còn có sự phát thêm nữa. Vì hoàn cảnh xã hội, thời gian, địa điểm và đối tượng chữa bệnh của các ông ấy không giống nhau, nên mỗi người có một sở trường riêng, mỗi người đều đã phát biểu về chủ trương học thuật của mình, thành ra những học phái riêng biệt, đã làm phong phú cho nền y học Trung-quốc.

 

Đến đời Minh, y dược học đều có sự phát triển rất lớn. Bộ chuyên thư y học lớn như bộ “Phổ tế phương” có 168 quyển ( trong bản hiện hành Tứ khố làm 426 quyển) sưu tập trên 60.000 bài thuốc. Nhiều sách của các danh y từ đời Tống, Nguyên trở về sau mà đã bị thất lạc, phần nhiều nhờ sách ấy mà lưu truyền lại được. Về danh y thì có những ôngTrương-cảnh-Nhạc, Tiết-lập-Trai, Triệu-dưỡng-Quỳ có sở trường về ôn bổ. Về chẩn đoán học đã có nghiên cứu kỹ càng, chép bệnh lịch thì có các ông Ngô-hạc-Cao, Hàn-thiên-Tước. Tập hợp dược các khoa thì có Vương-khẳng-Đường soạn ra “Lục khoa chứng trị chuẩn thắng”.

Nhà y học lỗi lạc Lý-thời-Trân (1518-1593) cũng xuất hiện ở thời kỳ này. Ngoài việc đem hết sức lực để nghiên cứu dược học, soạn thành bộ “Bản thảo cương mục” là một bộ dược học của Trung-quốc nổi tiếng trên thế giới ra, ông còn soạn quyển “Tần hồ mạch học”, quyển “Kỳ kinh bát mạch” la những bộ sách thuốc thực dụng.

Y học đời nhà Thanh, về phương diện chỉnh lý sách vở thì thời kỳ Khang Hy (1723-1734) soạn ra bộ “Cổ kim đồ thư tập thành”. Trong đó về bộ phận y học có 250 quyển y bộ toàn lục, thu thập rất phong phú những sách vở y học của Trung-quốc từ thế kỉ 18 trở về trước. Đến niên hiệu Càn-Long (1722-1790) soạn thành bộ “Tứ khổ toàn thư”. Trong đó bao gồm 101 loại sách về y và dược. Về phương diện truyền bá y học, thời kì Càn-Long (1740-1742) ra sắc lệnh cho nhóm Ngô-Khiêm biên soạn bộ “Y tông kim giám” để làm sách giáo khoa, thầy theo đó mà dạy, trò theo đó mà học, thành bộ sách giáo khoa của Trung y do chính phủ ban hành. Các nhà đại y học đời Thanh cũng là những nhân tài đặc sắc, như nghiên cứu thương hàn có ông Dụ-gia-Ngôn, Kha-vận-Bá, Vưu-tài-Kinh, Từ-trung-Khả. Giỏi về phê bình tiền nhân, đã trọng kinh phương lại trọng thời phương có Từ-đại-Thung, còn có quyển “Trương thị y thông” của Trương-lộ-Ngọc “Y học tâm ngộ” của Trình-chung-Linh, quyển “Y thư thập lục chủng” của Trần-tu-Viên, những sách này đều có tác dụng rất tốt đối với người mới học.

Học thuật y học đời Thanh thành tựu lớn nhất là “Học thuyết ôn bệnh”. Học thuyết này là từ “Nội kinh”, “Thương hàn luận” và lý luận kinh nghiệm của y gia các thời đại mà phát triển ra. Diệp-thiên-Sĩ là nhân vật, là đại biểu cho thời bấy giờ, ông có thiên tư thông minh và khiêm tốn học tập trước sau đã từng học thuốc với 17 ông thầy, vì tập hợp được sở trường của nhiều người mà trở thành một nhà thuốc giỏi đối với lý luận và cách chữa về ôn bệnh, ông đã có một sự cống hiến rất lớn. Đồng thời với ông và sau ông có các ông Tiết-sinh-Bạch, Ngô-cúc-Thông, Vương-mạnh-Anh, người sau gọi là bốn nhà giỏi về ôn bệnh.

Do đó có thể thấy được một cách khái quát về nguồn gốc, về hình thành và phát triển của y học Trung-quốc, những sách thuốc và những nhà thuốc nổi tiếng qua các thời đại không thể tính được ? Những trước tác y học của Trung-quốc qua các thời đại nói về những sách còn lại trong toàn quốc đã có trên 8.000 loại, cộng lại hơn 10 vạn quyển sách, đó là một cái vốn rất lớn. Ngoài ra có quan hệ với tài liệu y học còn tản mác thấy ở các sách Kinh, Sử, Tử, Tập, Tiểu thuyết, Bút ký, Đạo tạng và Phật thư, đâu đâu cũng có. Vì có sách vở y học nhiều như thế cho nên ngoài việc nói rõ nội dung của y học Trung-quốc là cực kỳ rộng lớn ra, còn chứng minh rằng qua các thời đại, nhân dân lao động Trung-quốc đã có sự cống hiến rất lớn trong việc sáng tạo văn hóa.

Kho tàng quý báu về dược vật của Trung-quốc chẳng những rất là phong phú và có lịch sử từ lâu, đời xưa có truyền thuyết “Thần nông nếm 100 thứ cỏ, một ngày gặp 70 thứ độc” điều đó đã nói rõ nguồn gốc của dược vật và sinh hoạt của loài người là có sự liên hệ nhất định. Tri thức về dược vật của Trung-quốc có ước vào khoảng hai thế kỷ trước Công nguyên đến thế kỷ thứ II đã soạn thành sách chuyên về dược như “Thần nông bản thảo kinh”. Sách này ngoài việc chép 365 vị thuốc ra ( trong đó chép trùng 18 vị, thật ra chỉ có 347 vị) còn tổng kết và đã khẳng định được một số hiểu biết lý luận cơ bản về phương diện có quan hệ đến dược vật, nhân đó mà định được cơ sở về dược vật học của Trung-quốc. Đến thế kỉ thứ V và thứ VI, trên cơ sơ bản thảo kinh Đào-hoằng-Cảnh đời Lương, lại chỉnh lý và tổng kết được 365 vị mà từ đời Hán Tấn trở về sau đã tăng thêm, cộng lại có 730. Đến năm 659, chính phủ đời Đường đã ban hành quyển “Đường tân tu bản thảo” trong dó có 844 vị, 25 quyển Phụ đồ, việc phân loại các dược vật đã có tiến bộ hơn trước, thành ra bộ dược thư của nhà nước thời bấy giờ. Từ thế kỉ X đến XIII do việc ấn loát  đã tiến bộ, chính phủ nhà Tống đã từng mấy lần đính chính dược thư, quyển “Gia hữu bản thảo” số vị thuốc đã có đến 1082 loại. Niên hiệu Nguyên-Hựu (1086-1093), nhà danh y ở Tứ-xuyên là Đường-thận-Vi đã thu thập rộng rãi những tài liệu có quan hệ với dược vật, chép trong các phương thuốc bí truyền của các nhà thuốc và trong các Kinh, Sử, Truyện ký, Phật thư, Đạo tạng soạn thành bộ “Kinh sử chứng loại bị cấp bản thảo”, đã đưa số vị thuốc lên tới 1746 loại. Đến năm 1108 (Đại quan năm thứ 2), chính phủ nhà Tống mới đem sách ấy sửa lại gọi là bộ “Đại quan bản thảo” làm thành quyển dược thư do quốc gia biên soạn. Đến năm 1116 (Chính hòa thứ 6), lại đính chính lần nữa, đổi tên sách là “Chính hòa tân tu kinh sử chứng loại bị dụng bản thảo”. Đến năm 1578 nhà y học vĩ đại Lý-thời-Trân soạn thành bộ “Bản thảo cương mục”, có 1892 vị thuốc, đã đem dược vật của thời xưa khảo sát và nghiên cứu một cách thiết thực. Đến năm 1675, Triệu-học-Mẫn lại dựa trên cơ sở Bản thảo cương mục soạn thành bộ “Bản thảo cương mục thập di” bổ sung 716 vị thuốc. Đến lúc ấy, dược thư của Trung-quốc đã chép nhiều tới 2608 vị. Ngoài ra như bộ “Thực vật danh thực đồ khảo” 38 quyển và bộ “Trường biên” 22 quyển của Ngô-kỳ-Tuấn là thu thập ở kinh sử của các nhà, các địa chí thư có quan hệ đến việc dùng thuốc bằng thực vật mà biên chép cho thành, cộng tới 1714 loại. Về sách dược có tính cách địa phương thì những quyển như “Điền nam bản thảo”. Sự phát triển không ngừng của Trung dược học đã phản ánh đầy đủ được thành quả của nhân dân lao động Trung-quốc từ đời này qua đời khác, đã liên tiếp đấu tranh với tật bệnh.

Y học Trung-quốc phong phú nhiều mặt, về phương pháp chữa bệnh, ngoài việc dùng thuốc uống trong và thuốc dùng ngoài da, còn có những kỹ thuật chữa bệnh riêng biệt nổi bật lên như châm cứu, khí công, thoa bóp, cách chữa bằng châm cứu thì đầu tiên dùng phép biêm thạch, thạch châm, nói rõ phép này đã bắt đầu từ thời đại thạch khí. Các thiên trong sách Linh khu, thì ước chừng 3/4 đã bàn về châm cứu học. Đến thế kỷ thứ III trong Giáp-ất kinh đã tổng kết được lý luận và kỹ thuật về châm cứu. Do đó đủ thấy châm cứu chẳng những là một cách chũa bệnh mà đã thành một bộ phận trọng yếu trong y học Trung-quốc, cơ sở lập luận và cách chữa của nó dựa vào học thuyết Kinh lạc, đối với sự phát triển của toàn bộ y học cũng có sẵn quan hệ mật thiết. Đời Đường khoa châm cứu đặt thành chuyên khoa. Đến năm 1027 đời Bắc Tống, Vương-duy-Nhất làm chức Thượng dược phụng ngự đã đúc đồng thành tượng người châm cứu chiếu theo sự phân bố của kinh lạc, vẽ hình các huyệt vị của toàn thân, ở thời bấy giờ mà đã sáng tạo ra được công cụ để dạy về y học, như thế thật là đáng quý vô cùng. Do cách chữa bằng châm cứu giản tiện, hiệu quả, lại nhanh chóng, cho nên rất được quảng đại quần chúng nhân dân yêu chuộng. Gần đây trong giới vệ sinh y dược Trung-quốc số người học tập châm cứu ngày càng nhiều. Đặc biệt về phương diện nghiên cứu khoa học đã sáng chế được “máy dò kinh lạc” đối với việc nghiên cứu kinh lạc có sự phát triển mới. Trên quốc tế có rất nhiều nước (Liên-xô, Triều-tiên, Ấn-độ, Nhật-bản, Đức, Pháp, Ý) đều đương làm công tác nghiên cứu chữa bệnh bằng châm cứu, đặc biệt là những nước anh em như Liên-xô, Triều-tiên, Mông-cổ mấy năm nay đã phái chuyên gia y học đến Trung-quốc khảo sát và nghiên cứu. Hệ thống lý luận và kỹ thuật chữa bệnh đặc biệt này của y học Trung-quốc sẽ phóng ra những tia sáng rực rỡ chói lọi trong lĩnh vực y học thế giới. Còn như những phép chữa bằng khí công, thoa bóp cũng có một lịch sử lâu dài và hiệu quả đặc biệt. Những phương pháp chữa bệnh đặc biệt ấy đã nói lên một cách hùng biện sự phong phú của nội dung y học Trung-quốc.

Y học Trung-quốc từ thời đại nhà Chu đã xây dựng nên một chế độ y sư tương đối hoàn bị. Lúc bấy giờ dưới sự lệ thuộc của quan tể tướng có đặt ra các chức “Y sư” để quản lý công tác hành chính về vệ sinh y dược, dưới nữa có chức “Sĩ” để chuyên việc chữa bệnh, chức “Sứ” để phụ trách văn thư biên chép, chức “Phủ” để trông coi các tài liệu về y dược, chức “Đồ” làm công tác hộ lý về phụ trách những việc vặt. Về phương diện phân khoa tỏng y học cũng có chia ra bốn khoa là “Thực y” ( thầy thuốc trông coi việc dinh dưỡng), “Tật y” (thầy thuốc nội khoa), “Dương y” (thầy thuốc ngoại khoa), “Thú y” các khoa ấy đều có một phạm vi công tác nhất định. Ngoài ra lại qui định biện pháp hàng năm thì khảo xét về thành tích chữa bệnh ,tài liệu do y sư nắm cụ thể để làm căn cứ mà xác định sự đãi ngộ cho nhân viên chữa bệnh. Từ nhà Chu trở về sau, chế độ y vụ và phân khoa y học đều có phát triển theo sự tiến bộ của thời đại. Đến đời Tống Nguyên trở về sau đã có tên gọi 13 khoa như đời Tống có những khoa: Đại phương mạch, Tiểu phương mạch, Phong  khoa, Châm khoa, Khẩu xỉ, Yết hầu, Nhãn khoa, Sản khoa sang thũng kiêm chiết thương, kim sang kiêm thư cấm (vẽ bùa ấn quyết), đến đời Nguyên lại bổ sung thêm khoa chỉnh cốt và khoa chúc do. Đến đời Minh thì lại bổ sung thêm khoa Thương hàn và khoa Án ma. Khoa chúc do tuy có tác dụng chữa bệnh bằng tâm lý, nhưng xen lẫn vào rất nhiều phần mê tín, nên đến đời Thanh bị thủ tiêu.

Còn như tất cả các khoa thì đời nhà Đường đều có chuyên thư, về sau lại tiếp tục xuất hiện ra các chuyên thư của nhà nước và mọi mạt đều thu được thành quả rất lớn.

Việc thiết lập ra sự nghiệp giáo dục y học của Trung-quốc đã có rất sớm, ở thế kỷ thứ IV (Nam triều Lưu Tống) đã dùng hình thức giáo dục bằng trường học để bồi dưỡng cho thầy thuốc. Đến năm 624 đời nhà Đường thể theo chế độ đời Tùy lập ra Thái y thự đã phát triển thành quy mô tương đối rất lớn, tổ chức trường học về thuốc tương đối hoàn bị. Thái y thự thì có chức Lĩnh thừa phụ trách, dưới đó có các chức Bác sĩ, Trợ giáo, Y sư, Châm sư, Án ma sư, Chú cấm sư, dược viên sư, Y công, Y sinh, Dược viên sinh, toàn thể trên 300 người học. Thái y thự gồm có 2 bộ phận là y và dược, về bộ phận y thì đặt ra 4 khoa là: Y, Châm, Án ma, Chú cấm. Về khoa y lại chia ra những khoa: thể liệu, sang thủng, thiếu tiểu, nhĩ, mục, khẩu, xỉ, giác pháp, mỗi khoa đều có thời gian tu nghiệp khác nhau, và có biện pháp khảo thí thống nhất. Xét về trường y học do nhà nước tổ chức theo quy mô lớn như thế, trên lịch sử y học thế giới thì đó là 1 sáng chế đầu tiên.

Đương nhiên viêc giáo dục trong trường học của thời xưa là không thể phổ cập được. Sự truyền thụ y học từ đời này sang đời khác, chủ yếu dựa vào hình thức truyền miệng do đồ đệ mà kế thừa được học thuật của tiền nhân. Đó là đặc điểm truyền thống về giáo dục của Trung Y.

Y học Trung Quốc chẳng những đã có tác dụng rất lớn đối với sự nghiệp bảo vệ sức khỏe của nhân dân Trung Quốc từ đời này qua đời khác mà cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với y học thế giới. Đã có tinh thần sáng tạo độc lập tích cực, lại còn giỏi hấp thụ những sự vật tiền tiến ở ngoài đưa tới, cũng có thể đem giao lưu ra ngoài thành tựu y dược của mình. Y học Trung Quốc đã theo đó mà phát triển. Như trước CN 138 năm, Hán Vũ Đế sai Trương Khiên đi sứ rất lâu ở các nước Nhục Đê, Tây Vực, và Ba Tư, nhân đó đã mang về rất nhiều cây thuốc như Mục túc, Bồ đào thụ, Hồ ma, Á ma, Hồ đào, Ba lăng, v.v…; ở đời Tùy, các sách vở có chép các tăng đồ và thầy thuốc phiên dịch sách thuốc Ấn Độ có những phương như: <Long thụ bồ tát dược phương>, <Bà la môn chư tiên dược phương>, <Tây Vực danh y sở tập yếu phương>. Cũng có nhiều thứ thuốc từ Ba Tư và Tây Vực đưa vào như Hồ toán, Hồng hoa, Một thực tử, Ba đáng hạnh. Vua nước Đại –Tần (tức đế quốc La Mã gồm 1 số nước Bắc Phi, Nam Âu, Cận Đông) cũng nhiều lần sai sứ đến Trung Quốc hiến những quý vật và vị thuốc như năm 659 đã sai sứ đem vị thuốc Để-dả-gia sang hiến. Những viêc trên đều giúp cho nội dung bản thảo học của Trung Quốc được phong phú thêm. Về phương diện truyền ra nước ngoài, ở thời Đại Tần, Hán đã bắt đầu. Đến năm 562 trước C.N sách vở cổ điển về <Minh đường đồ> đã truyền sang Nhật Bản, làm thành sự chỉ đạo đầu tiên cho châm cứu học của Nhật Bản. Đặc biệt ở thời Tùy-Đường y học Trung Quốc đã trở thành trung tâm y dược của Á Châu, như từ năm 541-693, Triều Tiên đã đặt chức bác sĩ để dạy học về Trung Y; năm 608, Nhật Bản cho rất nhiều lưu học sinh đến Trung Quốc để học về y học, và mang về nước rất nhiều sách y dược của Trung Quốc. Đời Đường nhà sư Giám Chân được mời đến Nhật Bản truyền thụ về y dược của Trung Quốc, được người Nhật Bản tôn làm <Dược vương>. Đồng thời về phía Ả-Rập, vì phần nhiều là dùng y học Trung Quốc, làm cho y học của Ả-Rập ở khoảng trung thế kỷ đã có một sự tiến bộ rõ rệt, làm thành cơ sở cho y học Âu Châu phát đại sau này. Như ở thế kỷ 11, quyển <Y điển> nổi tiếng của bậc y thánh vùng Trung Đông là A-duy-sâm-nạp soạn ra, trong đó bộ phận mạch học và dược vật có rất nhiều nội dung về y dược của Trung Quốc. Đến thế kỷ thứ 16, Trung y đã phát minh được phương pháp để phòng bệnh đậu mùa, qua sự cải tiến dần dần phổ biến việc dùng đậu người để trồng đậu đã thu được thành tựu rất lớn, đến thế kỷ 17 thì truyền sang các nước Nga, Triều Tiên và Nhật Bản; về sau lại đến nước Thổ Nhĩ Kỳ và nước Anh. Thế kỷ thứ 16 đến thế kỷ thứ 17 Nhật Bản và các nước ở Âu Châu đem quyển bản thảo cương mục của Lý Thời Trân dịch thành chữ La-tinh và các chữ Nhật Bản, Pháp, Nga, Đức, Anh, đã được sự tôn sùng của các nhân sĩ nước ngoài. Gần đây Liên Xô lại đem gắn tượng đá Lý Thời Trân vào tường của trường đại học Mạc-tư khoa, tôn là 1 trong 4 nhà đại khoa học trên thế giới. Đồng thời Trung y được mời ra nước ngoài chữa bệnh, hoặc những người bạn quốc tế đến Trung Quốc chữa bệnh ngày càng nhiều. Tóm lại y học Trung Quốc đối với y học thết giới đã góp phần cống hiến lớn không thể xóa bỏ được.

Theo những tài liệu trên có thể thấy rằng y học Trung Quốc đã chiếm 1 địa vị trọng yếu trong lịch sử. Nhưng ở thời kỳ bán phong kiến bán thực dân của Trung Quốc cũ chẳng những đã không coi trọng, trái lại còn là đối tượng bị tiêu diệt, đã chịu sự coi rẻ, bài xích, đả kích bức hại của đế quốc chủ nghĩa và giai cấp mại bản tay sai của nước ngoài. Bọn phản động Quốc dân đảng năm 1929 đã ra lệnh thủ tiêu Trung Y-Trung dược, đó là 1 tội ác. Tuy nhiên trước sự phản kháng của quảng đại quần chúng nhân dân buộc chúng phải thủ tiêu mệnh lệnh. Nhưng chính quyền phản động Tưởng giới Thạch  không vì thế mà thay đổi âm mưu tiêu diệt Trung Y của chúng, sau cùng chúng đem việc thủ tiêu công khai chuyển thành sự tiêu diệt từng bước, dụng tâm của chúng là vô cùng độc ác. Vì thế đã trở ngại rất lớn cho sự phát triển của y học Trung Quốc.

Đảng cộng sản và Chính phủ nhân dân Trung Quốc vĩ đại từ trước đến nay luôn luôn coi trọng di sản văn hóa của Trung Quốc và lấy nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác-Lênin đánh giá được đúng đắn tính chất khoa học của Y học Trung Quốc và tác dụng vĩ đại của nó đối với sự nghiệp bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Mao chủ tịch từ năm 1944 đã ra chỉ thị đoàn kết Trung-Tây y. Từ ngày toàn quốc giải phóng tới nay do sự quan tâm và coi trọng của Đảng và Chính phủ nhân dân Trung Quốc, dưới ánh sáng của chính sách đoàn kết Trung-Tây y và kết thừa, phát huy y học Trung Quốc của Đảng đã đề cao địa vị chính trị của Trung y, đã cổ vũ mạnh mẽ tính tích cực của quảng đại Trung y, làm cho 50 vạn người trong hang ngũ Trung y chẳng những đã cống hiến một lực lượng rất lớn cho công tác chữa bệnh, mà trong sự nghiệp vệ sinh phòng bệnh cũng đều có tác dụng thúc đẩy tích cực. Đặc biệt là từ khi đã gây được cao trào học tập Trung y trong giới vệ sinh y dược toàn quốc hiện nay, công tác Trung y đã thu đượv thành tựu mà từ trước tới nay chưa từng có, làm cho bộ mặt của Trung Y về lý luận và  lâm sang đều được đổi mới. Trong việc chữa bệnh qua sự hợp tác trên lâm sang giữa Trung-Tây y, kinh nghiệm sơ bộ tổng kết được đã chứng minh, Trung y chẳng những có thể chữa được các bệnh mãn tính, mà đối với một số bệnh truyền nhiễm cấp tính mãn tính cũng có hiệu quả khá cao. Chứng minh rằng Trung y chỉ có dưới chế độ XHCN ưu việt mới có thể đạt được sự xán lạn, rực rỡ như ngày nay. Nhưng y học Trung Quốc vì điều kiện lịch sử hạn chế không có thể nắm vững được công cụ khoa học tự nhiên hiện đại, nên trong việc quan sát và phân tích không thể tránh khỏi có một vài chỗ không chính xác, vì thế quyết không thể tự mãn tự túc, cần phải dùng sự hiểu biết và phương pháp khoa học hiện đại để chỉnh lý và đề cao hơn nữa. Chúng ta kiên quyết tin tưởng dưới sự lãnh đạo cua Đảng, thông qua sự đoàn kết hợp tác chặt chẽ giữa cán bộ Trung-Tây y dược Trung Quốc, không bao lâu nữa nhất định có thể kế thừa được di sản quý báu của Trung y, và phát huy hơn nữa để sáng tạo thành một môn y dược học độc đáo của Trung Quốc.

2-Lý luận của Trung y có 1 hệ thống riêng biệt trong y học thế giới. Sự hình thành của hệ thống lý luận ấy là từ trong thực tiễn mà tổng kết phát triển ra, vì thế học tập Trung y trước tiên cần phải có sự nhận thức khái quát về hệ thống lý luận ấy mới có thể kết hợp với lâm sàng mà học tập và nghiên cứu thêm nữa. Nói tóm lại trong sự hiểu biết của Trung y chủ yếu là: về phương diện sinh lý thì có Tạng Tượng, Kinh Lạc; về phương diện nguyên nhân bệnh thì có Lục Dâm, Thất tình, ẩm thực, khởi cư; về biện chứng thì có Tam tiêu, lục kinh, Vệ khí, Dinh huyết; về phương diện chẩn đoán thì có Tứ chẩn, Bát cương; về phép chữa thì có nghịch-tòng-chính-phản, tiên bản, hoãn cấp và 8 phép: hãn, thổ, hạ , hỏa, ôn, thanh, tiêu, bổ; về tính năng của dược vật thì có tứ khí, ngũ vị, thăng-giáng, phù-trầm; về phương diện phối ngũ và tác dụng của bài thuốc thì có quân-thần-tá-sứ, thất phương, thập tễ. Những điểm trên đều là nội dung co bản xây dựng thành hệ thống lý luận của Trung y, đặc biệt là học thuyết âm-dương, ngũ hành, nó có đủ tác dụng liên hệ các phương diện để làm thành bộ phận trọng yếu trong hệ thống lý luận của Trung y.

Y học Trung Quốc từ lý luận đến lâm sang, từ phòng bệnh đến trị liệu; có 1 học thuyết cơ bản của nó trong đó bao gồm các vấn đề thiên thời, địa lý, hoàn cảnh. Những vấn đề ấy luôn luôn được nhận là 1 bộ phận rất trọng yếu. Những lý luận ấy xây dựng thành 1 hệ thống lý luận của Trung y. Sách này trong 2 chương Âm Dương Ngũ Hành (có phụ thêm vận khí) và <người và tự nhiên giới>, đối với khái niệm chung của những vấn đề trên và vấn đề có liên quan đến vận dụng thực tế, phân biệt thành trọng điểm mà thảo luận. Vì học thuyết này phạm vi khá rộng lớn và nội dung cũng tương đối phiền phức, muốn nắm vững được toàn diện, mong rằng người học trên cơ sở nội dung sách này, sẽ đào sâu nghiên cứu thêm nữa.

Hiện tượng sinh mệnh của cơ thể người ta là một quá trình hoạt động phức tạp có tính chất tổng hợp, trong thì tiêu hóa, tuần hoàn; ngoài thì xem xét, nghe ngóng, nói năng, hành động, đềi không phải là tiến hành cô lập. Ví như giữa nội tạng-nội tạng, nội tạng- tổ chức ngoài da chẳng những đã giữ gìn 1 số liên quan hữu cơ mà còn có quan hệ nương tựa lẫn nhau nữa. Sự liên quan ấy đã biểu hiện trong hoạt động sinh lý bình thường, mà cũng biểu hiện trong biến hóa bệnh lý khác thường. Cho nên những hoạt động trê cục bộ trên thực chất cũng là đại biểu cho sự hoạt động của toàn thân, hiểu biết được quan hệ lẫn nhau của cục bộ sẽ giúp đỡ cho việc hiểu biết về hoạt động và biến hóa của toàn thân. Chính vì vậy nên đối với y học, nếu như chỉ nói riêng về thực chất công năng của 1 tạng khí nào đó thì không thể nhận thức đầy đủ được tác dụng của toàn bộ thân thể người ta, vì thế không những phải nắm vững được cục bộ, mà còn phải nắm vững toàn bộ của nó nữa; vừa nắm vững được sự liên quan hữu cơ giữa bộ phận này với bộ phận khác, lại cần nắm vững sự liên quan hữu cơ giữ bộ phận với toàn thể và hoàn cảnh nữa. Trung y nhận thức về tạng phủ là xây dựng trên cơ sở ấy. Chương tạng tượng trong sách này là nói rõ về vấn đề ấy.

Kinh lạc là bộ phận lý luận trọng yếu của Trung y nói chung, ai cũng nhận rằng quan hệ giữa kinh lạc và châm cứu học rất mật thiết, trên thực tế thì đối với các khoa khác, khoa nào cũng có quan hệ với lý luận cơ sở này, bởi vì Kinh lạc với Ngũ tạng, lục phủ, đầu mình, tay chân, khớp xương, v.v… đều có liên quan với nhau, nếu không có sự hiểu biết này, thì không thể nhận thức cụ thể được sự liên hệ nội tại của thân thể người ta, tức là không thể xuất phát từ toàn bộ mà nhận rõ được bệnh tật. Vì vậy chương Kinh lạc trong sách này bàn chép khá rõ rang về 12 kinh lac, 8 mạch kỳ kinh, và còn phụ vào mấy chục bản đồ hình để tiện đối chiếu. Còn các kinh biệt, kinh cân và 15 lạc thì chỉ nói đại khái thôi, để có 1 khái niệm sơ bộ.

Nguyên nhân gây nên bệnh tuy rất phức tạp, nhưng không ra ngoài 3 nguyên nhân Nội nhân, Ngoại nhân và Bất nội ngoại nhân. Đó là sự quy nạp đại thể của người xưa. Trong chương <nguyên nhân bệnh> của sách này, về ngoại nhân thì lấy <Lục dâm> làm chủ yếu, thêm đến Dịch lệ và Phục khí; về Nội nhân thì lấy <thất tình> làm chủ yếu; ngoài ra như ăn uống, nhọc mệt, bị đâm chém, bị vấp ngã, bị trùng thú cắn, bị trúng độc thì liệt vào phạm vi của Bất nội ngoại nhân. Trên cơ bản là xét theo phương pháp phân loại về 3 nguyên nhân của Trần Vô Trạch mà phân loại ra.

Trung y phân loại về chứng hậu không ngoài 2 loại lớn là Ngoại cảm và Nội thương, nếu đem chia cụ thể ra nữa thì có sự khác nhau là Lục kinh, Tam tiêu, Dinh vệ, Khí huyết, Tạng phủ, Kinh lạc. Phương pháp phân loại này tuy mỗi loại có đặc điểm riêng, nhưng tinh thần chung là nhất trí, cũng là phương pháp biện chứng của lý luận âm, dương, biểu, lý, hàn, nhiệt, hư thực trong Bát cương chỉ đạo. Thực tiễn chứng minh trên lâm sàng về những phương pháp phân loại này, thường thường đều là tổng hợp mà ứng dụng, vì thế chúng ta trong khi học tập cần phải nắm được toàn diện thì khi gặp bệnh mới ứng phó dễ dàng. Chương <chứng hậu phân loại> trong sách này chủ yếu là nói rõ những vấn đề ấy.

Phương pháp chẩn đoán của Trung Y chủ yếu là Tứ chẩn: vọng, văn, vấn, thiết, thông qua tứ chẩn đã rút ra được kết luận tức là Bát cương: <âm, dương, biểu, lý, hư, thực, hàn, nhiệt>, nắm chắc được những thứ ấy thì mới có thể chẩn đoán chính xác. Cho nên chương <Chẩn pháp> trong sách này trước tiên đã phân tích về tinh thần cơ bản và sự biến hóa của <Bát cương>, sau mới giới thiệu về những phương pháp vận dụng tứ chẩn.

Về phương diện chữa bệnh của Trung y trước hết chú trọng nguyên tắc, sau đó chú trọng đến phương pháp, muốn nắm vững nguyên tắc cần phải có lý luận căn cứ. Sách Nội kinh nói <chữa bệnh cần tìm gốc bệnh> là bao hàm nghĩa rất sâu sắc. Vì thế trong việc tìm nguyên nhân bệnh phải thông qua việc biện chứng để chẩn đoán chính xác, đồng thời còn cần phải nắm vững quy luật và phương pháp chữa bệnh. Như thế mới có thể làm được việc <biện chứng luận trị>, mới có thể linh hoạt vận dụng đươc kinh nghiệm của người xưa, phát huy trí tuệ của mình. Nội dung của chương<trị liệu pháp tắc>  trong sách này đại thể chia làm 2 bộ phận: Nội trị và Ngoại trị, còn như những cách chữa bằng châm cứu, thoa bóp, nắn xương thì có chép ở những chương riêng. Về phương pháp chữa bệnh trong học thuật của Trung y là cực kì phong phú, cần phải có kế hoạch, có từng bước để tìm tòi, đặc biệt cần phải thống nhất thực tiễn và lý luận, trong khi đọc sách cần phải hiểu được nguyên tắc lý luận, khi gặp bệnh nắm vững nguyên tắc và vận dụng linh hoạt mới có thể đạt được mục đích <học để thực dụng>, <học và dụng là nhất trí>.

Về dược vật học cua Trung y đã có những thành tựu to lớn, chẳng những nó biểu hiện ở phương diện nhiều loại, nhiều thứ, công hiệu ưu việt mà ở việc thu hái, bào chế, cất giữ, cách dùng, v.v… cũng có 1 số kinh nghiệm rất đáng quý. Mà những kinh ngiệm ấy lại có quan hệ rất lớn với kết quả chữa bệnh. Hơn thế nữa đối với sự nhận thức về công năng tính vị của vị thuốc, việc nên dùng hay kiêng dùng trong khi phối ngũ, đã thể hiện đầy đủ hệ thống riêng biệt về dược vật học của Trung Quốc. Cho nên chương <dược vật> trong sách này, ngoài việc giới thiệu nội dung kể trên ra, còn phân loại và đưa ra tính vị chủ trị của hơn 200 vị thuốc thường dùng, để làm cơ sở mà nghiên cứu thêm nữa về Trung dược.

Phương tễ là sự phát triển thêm 1 bước của việc dùng thuốc chữa bệnh, sự phối ngũ và tổ chức trong đó có khuôn phép mực thước nhất định, người xưa trong khi chế phương dùng thuốc, điều cần thiết là phải tìm được <trong phương có pháp>,<trong pháp có phương>. Vì thế phép tắc và sự tổ chức có quan hệ đến sự sắp xếp thành 1 bài thuốc, sự thay đổi về phương diện vị thuốc, tễ thuốc và sự phân loại để vận dụng, đều là có quan hệ với sự hiểu biết về cơn bản của phương tễ học, hiểu được những điều ấy là có thể suy 1 biết 10, suy việc này biết được việc khác. Vì thế chương phương tễ trong sách này đã giới thiệu những trọng điểm về kiến thức cơ bản ấy.

Trong Nội kinh ghi chép về <chữa khi chưa bệnh>, điều đó đủ chứng minh đời xưa đã tương đối coi trọng việc phòng bệnh. Từ đời Hán trở về sau mới có tên gọi hai chữ <nhiếp sinh> danh từ này bao hàm ý nghĩa chủ yếu là chú trọng vào việc cá nhân luyện tập thân thể, tu dưỡng tinh thần và luôn luôn chú ý công tác phòng bệnh, tránh khỏi sự xâm nhập của ngoại tà. Chương phòng bệnh trong sách này, nội dung sắp xếp đã bao gồm phòng bệnh khi chưa bệnh, lại bao gồm cách ngăn ngừa khi đã có bệnh, đã bao quát vệ sinh cá nhân, lại bao quát vệ sinh hoàn cảnh. Chúng ta cảm thấy dùng 2 chữ dự phòng để khái quát nội dung nói trên là tương đối thích hợp. Đặc biệt cần đề xuất ra là: học thuyết phòng bệnh đời xưa cũng lấy quan niệm <người ta tương ứng với trời đất> làm tư tưởng chỉ đạo, vì thế phương pháp phònh bệnh nêu ra đây cũng đặc biệt chú trọng vào 2 phương diện: thích ứng với hoàn cảnh tự nhiên và tu dưỡng tinh thần đồng thời và nhấn mạnh câu: <chính khí mạnh thì tà khí không can phạm được>. Về điểm đó chúng ta cần nên coi trọng.

Sách này ngoài nội dung đã nói ở tập trên ra, tập dưới lại dựa vào những điều khái niệm về nối khoa, châm cứu khoa, phụ khoa, nhi khoa, ngoại khoa, thương khoa, nhãn khoa, hầu khoa, khí công, thao bóp và hộ lý. Trong đó lấy Nội khoa và Châm cứu làm trọng điểm. Nói tóm lại, tập trên là lý luận cơ bản, tập dưới là kiến thức về lâm sàng của Trung y.

Sách này đối với toàn bộ của Trung y học chỉ mới trình bày 1 cách khái quát để làm cái cầu cho những người mới học.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!