Mười ba chuyên khoa của y học cổ đại Trung Quốc

Mười ba chuyên khoa của y học cổ đại Trung Quốc


Y học cổ đại Trung Quốc quan sát cơ thể con người theo các huyệt mạch. Các bác sĩ Trung Quốc cổ đại đã có thể quan sát bản đồ của các kênh năng lượng, hoặc “kinh lạc.”

Y học cổ đại Trung Quốc được phân thành 13 chuyên khoa riêng biệt. Sự phân loại lâu đời nhất được tìm thấy vào khoảng năm 1076, là thời kỳ thịnh vượng của triều đại Bắc Tống (960- 1127). Thời đó, 13 chuyên khoa gồm: đại phương mạch, phong khoa, tiểu phương mạch, châm, cứu (liệu pháp chữa bệnh bằng ngải cứu – moxibustion), răng miệng, yết hầu, mắt, tai, sang thũng, thương chiết, kim sang và sách cấm.

Một cải cách dưới thời Hoàng đế Nguyên Phong (1078-1085) sắp xếp thành 9 chuyên khoa mới, dựa trên 9 phương pháp trị bệnh của thời Gia Hựu (1056–1063). Như vậy việc phân thành 13 chuyên khoa của y học Trung Quốc chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn trong triều đại Bắc Tống.

Ở hầu hết các triều đại, từ triều nhà Nguyên (1234-1368) đến thời nhà Minh (1368-1644), tất cả các ngự y đều quay lại phân loại y học thành 13 chuyên khoa. Mười ba chuyên khoa trong thời nhà Nguyên gồm: đại phương mạch, tạp y, tiểu phương mạch, phong, sản, nhãn, răng miệng, yết hầu, chính cốt, kim sang thũng, châm cứu, chúc do (chữa bệnh bằng thần chú) và khoa sách cấm.

Quy tắc không ngoại lệ là một thầy thuốc không thể thực hành tại một chuyên khoa mà không có kiến thức của tất cả các chuyên khoa khác.

Mười ba chuyên khoa của y học thời nhà Minh là: đại phương mạch, tiểu phương mạch, phụ nhân, sang dương, châm cứu, nhãn khoa, răng miệng, yết hầu, tiếp cốt, thương hàn, kim thốc, án ma (xoa bóp) và chúc do (chữa bệnh bằng thần chú).

Thời nhà Thanh (1571), mười ba chuyên khoa được cải tổ còn 11 khoa.


CÁC CHUYÊN KHOA CỦA Y HỌC CỔ ĐẠI TRUNG QUỐC


Một thầy thuốc Trung Quốc điều trị bằng ngải cứu (moxibustion), gồm sử dụng một moxa (điếu xì gà bằng ngải cứu) để làm nóng các kinh mạch và thúc đẩy lưu thông máu và khí.

Khoa chữa bệnh liên quan đến các mạch lớn (đại phương mạch) chuyên điều trị các bệnh về nội khoa ở người lớn; nó tương đương của chuyên khoa nội ngày nay.

Tiểu phương mạch, còn được gọi là khoa cho trẻ em, chuyên điều trị các bệnh cho trẻ em. Tương đương với khoa nhi hiện nay. Chuyên khoa này bắt đầu từ triều đại nhà Đường. Dưới thời nhà Tống, nó được gọi là tiểu phương mạch. Thời nhà Nguyên, nhà Minh và nhà Thanh không có khoa này.

Khoa cho phụ nữ điều trị bệnh ở cơ quan sinh dục nữ, tương đương với phụ khoa ngày nay.

Khoa các bệnh do gió gồm tất cả các loại bệnh do “gió bệnh” hay “gió ác” gây ra, gồm các bệnh như đau cơ, đau lưng, đau thần kinh tọa, cúm, đau bắp. Dưới thời nhà Tống, chuyên khoa này đứng hàng quan trọng thứ 2, sau khoa bệnh liên quan đến các mạch lớn.

Khoa chính cốt là khoa chuyên điều trị gãy xương. Nó cũng được gọi là khoa tổn thương chi hoặc khoa tổn thương xương. Với các cách điều trị thủ công, như đập, kéo, ấn bóp, bó, ép… Nó sử dụng một lực bên ngoài để điều trị xương, khớp và dây chằng, nhưng ngoài ra còn điều trị các cơ quan nội tạng bị thương vì chúng có cùng nguyên nhân. Nó tương đương với khoa nắn cột sống, vật lý trị liệu và chỉnh hình hiện đại.

Khoa kim thốc điều trị các vết thương do vũ khí sắc bén gây ra, điều trị vết thương do các loại vũ khí như kiếm, giáo, mũi tên gây ra…

Khoa kim sang chuyên điều trị vết thương chiến tranh do dao, rìu, kiếm, và các vũ khí khác gây ra.

Khoa điều trị cho phụ nữ mang thai, chuyên chăm sóc trước khi sinh và sau khi sinh. Chuyên khoa này ngày nay gọi là sản khoa.

Khoa mắt điều trị các bệnh về mắt và các bệnh truyền nhiễm và lây nhiễm về mắt, tương đương với nhãn khoa ngày nay.

Khoa răng miệng điều trị chủ yếu là răng, từ lợi hàm tới xương hàm, tương đương với khoa răng hàm mặt ngày nay.

Khoa thương chiết điều trị các bệnh trên bề mặt da như vết thương do bị cắt, bị côn trùng cắn…tương đương với chuyên khoa da liễu

Khoa sang thũng điều trị các vết lở loét, áp xe, hoại tử, sưng và phù nề không rõ nguyên nhân.

Khoa chúc do từ thời cổ đại là một phương pháp huyền bí, sử dụng thần chú để chữa bệnh. “Chúc” có nghĩa là niệm, cầu nguyện; “do” đề cập đến nguyên nhân của căn bệnh. Khi thực hành chúc, sẽ gọi một linh hồn, một con ma hoặc một cái gì đó và yêu cầu nó loại bỏ tai họa hoặc khó nạn. Nó giúp loại bỏ sự đau đớn của bệnh nhân. Phương pháp này còn được gọi là “khoa chú cấm”, cũng bao gồm việc sử dụng các loại thảo dược, bùa hộ mệnh, các biểu tượng được vẽ như là công cụ để xua đuổi tà ma. Ngày nay, nó bị gọi là lang băm.

Khoa sách cấm chủ yếu để điều trị hoặc loại bỏ sự không may mắn, đuổi ma, tẩy trừ nước ăn, thu nhỏ hay chặn bệnh lại. Ngày nay cách điều trị này được gọi là trừ tà, và thuộc lĩnh vực huyền bí.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!