ĐIỀU TRỊ CÁC CĂN BỆNH DO SAI LỆCH VỊ TRÍ XƯƠNG SỐNG VÙNG NGỰC

 Các bệnh thường gặp do sai lệch vị trí xương sống vùng ngực:

1. Viêm khí quản, thở dốc

Viêm khí quản và thở dốc là các chứng bệnh về hô hấp thường gặp phải.

* Biểu hiện lâm sàng:

Biểu hiện lâm sàng của viêm khí quản là ho, ho đàm hoặc đi kèm với thở ngắn, thở gấp… bệnh nặng có thể sinh túi khí phổi… Bệnh này là hậu quả của nhiều nguyên nhân kéo dài như cảm nhiễm, kích thích lý hoá, quá mẫn cảm và thay đổi thời tiết.

Thở dốc thường phát tác vào ban đêm, khi phát tác bệnh nhân hô hấp khó khăn, tức ngực hoặc ho, trong phổi nghe tiếng kêu, có thể bệnh tự khỏi hoặc được trị khỏi. Khi kiểm tra cột sống, đa số bệnh nhân có đốt sống cổ thứ 2 đến đốt sống ngực số 8 bị lệch, cạnh cột sống có chỗ ấn đau, cơ hai bên cột sống vùng cổ hoặc ngực cương cứng. Khi phát bệnh thường đau cục bộ ở vùng đốt sống cổ, ngực.

* Phương pháp trị liệu:

– Trị viêm phế quản:

+ Trước tiên nhắm vào nguyên nhân của bệnh để trị, như sai đốt sống cổ, đốt sống ngực. Cần dùng thủ pháp điều trị phục vị, day ấn các tổ chức mềm xung quanh, giải trừ co giật, từng bước hồi phục chức năng của chúng.

+ Dùng kháng sinh thích hợp để trị ho, hoá đàm, trị cảm. Sử dụng thêm thuốc tiêu đàm, giảm ho, bình suyễn để khống chế ho.

+ Chú ý nghỉ ngơi, duy trì sự lưu thông không khí trong phòng, độ ẩm thích hợp, dinh dưỡng đầy đủ

+ Tập luyện thích hợp, hạn chế uống rượu, ít ăn những đồ ăn có tính kích thích, đề phòng cảm mạo, cảm nhiễm đường hô hấp.

– Thở dốc

Ngoài việc điều trị giống như viêm khí quản nói trên, cần lưu ý thêm:

+ Hết sức tránh những nguồn gây mẫn cảm (nếu không tránh được phải đeo khẩu trang), giảm thiểu những kích thích bất lợi cho đường hô hấp.

+ Nhanh chóng chữa trị cơ bắp của đốt sống cổ và ngực co giật, chỉnh lại vị trí sai lệch của thân xương và các khớp xương nhỏ, phục hồi sự cân bằng trong ngoài của cột sống, từ đó đạt được sự cân bằng chức năng thần kinh thực vật.

– Phương pháp điểm huyệt đặc hiệu:

+ Huyệt ngư tế: nằm ở trên đoạn xương thứ nhất, phía ngoài cẳng tay của ngón tay cái, trên đường rìa của vùng cơ đỏ và vùng cơ trắng, điểm ấn trong khoảng 3-5 phút.

+ Định suyễn: nằm ở bên cạnh, cách hõm dưới đốt sống 3,3 cm.

+ Thiên đột: nằm trong hõm phía ngoài của rìa trên chuôi xương ngực.

+ Hoa cái: nằm ở đốt xương ngực thứ nhất và xương ngực vùng cổ. Kiên trì day ấn huyệt này có thể trị được các chứng thở dốc, viêm khí quản, viêm phế quản, đau ngực… người bệnh có thể dùng ngón trỏ hoặc ngón giữa day ấn trực tiếp vào huyệt này, kiên trì day theo chiều kim đồng hồ 100 lần, mỗi ngày 2-3 lần. Nhìn chung làm từ 3-5 lần sẽ thấy hiệu quả tốt. Nghiêm cấm uống rượu hoặc ăn đồ ăn cay.

Kết hợp các huyệt Suyễn tức, Phế du, Hợp cốc, Nội quan, Nhân trung, Thiên trụ, Phong trì…

– Chăm sóc, điều dưỡng:

+ Mỗi ngày kiên trì rửa khoang mũi từ 2-3 lần, dùng nước mát, nước ấm hút nhẹ vào đường mũi, dùng tay day nhẹ hai bên mũi, sau đó thả cho nước thoát ra. Làm nhiều lần cho đến khi nước rửa sạch các chất bẩn trong mũi thì ngừng. Việc phòng ngừa không để cho các chất bụi bẩn, vi khuẩn và các chất gây mẫn cảm đi vào cơ thể qua đường hô hấp.

+ Sau khi rửa xong mũi, kiên trì day ấn cặp huyệt Nghinh hương, day nhiều lần, cho đến khi da nóng lên thì thôi, sau đó lần lượt ấn các huyệt Thái dương, Ế phong, Phong trì, Hợp cốc, Nội quan…

+ Ngày thường chú ý xoa bóp chăm sóc xương sống cổ và ngực, tránh những tư thế không ngay ngắn và những kích thích gây tổn thương mãn tính đề phòng di vị cột sống.

2. Bệnh động mạch vành:

Bệnh động mạch vành tim là bệnh lý về tim liên quan đến động mạch vành, là những chứng bệnh về tim do động mạch vành xơ cứng dẫn đến cơ tim thiếu máu và dưỡng khí. Bệnh động mạch vành do xương sống cổ, ngực gây ra gọi là bệnh động mạch vành cảnh (hung tính). Ở đây chỉ bàn đến bệnh động mạch vành do sai lệch vị trí đốt sống cổ, ngực.

 * Biểu hiện lâm sàng:

Chủ yếu người bệnh cảm thấy tim đau thắt (đau phía trước tim hoặc cảm giác tức ép), thường đi kèm tức ngực, thở gấp, cổ vướng đờm, trương mỏi, chóng mặt, não trương, mất ngủ, nhiều mồ hôi, dễ bị kích động…

Xương sống cổ hoạt động bị hạn chế, mỏm nhô xương cọ xát, có thể thấy đoạn cột sống cổ 1,2 lệch (hoặc qua trái hoặc qua phải), đoạn 3,4 mỏm nhô xương sau lệch nhẹ; mỏm nhô xương sau của đốt sống ngực 3,4 lệch nhẹ. Những bộ phận bị di vị ấn lên thấy đau.

* Phương pháp điều trị:

– Phương pháp điểm huyệt đặc hiệu:

+ Huyệt Thiện trung: ngay giao điểm của đường thẳng nối hai đầu vú và trung tuyến ngực.

+ Nội quan: nằm phía trong trên cánh tay trước, trên đường nối huyệt Khúc trạch và Đại lăng, phía trên đường gấp cổ tay khoảng 6,5cm, giữa gân dài bàn tay và gân giữa cổ tay.

+ Khích môn: nằm ở mặt trước cánh tay trước, trên trung điểm của đường thẳng nối khuỷu tay và điểm giữa cổ tay, khi ấn huyệt này thấy đau.

Phối hợp nắm, nâng, điểm ấn, day, ép, lăn, xoa các huyệt Phế du, Tâm du, Cách du, hai bên và vùng gáy sau cổ, đồng thời áp dụng thủ pháp cho vùng Đốc mạch (trung tuyến cột sống), vùng hai bên bàng quang kinh (dọc hai bên cột sống, cách ra 10cm), chú ý động tác chậm chạp, nhẹ nhàng, tuần tự để bệnh nhân có thời gian chuẩn bị.

– Rèn luyện và điều dưỡng:

+ Duy trì trạng thái tâm lý, tình cảm bình thường, tránh quá kích động.

+ Tránh làm việc gục đầu kéo dài để không tạo ra những tổn thương có tính tích luỹ.

+ Vận động cổ thích hợp, tránh những tổn thương cơ và dây chằng vùng cổ, vai lưng để không bị sai lệch vị trí xương sống.

3. Đau dạ dày

Đau khoang dạ dày thường gọi là “tâm khẩu thống”, là loại bệnh thường thấy với triệu chứng chính là đau bụng. Thường thấy ở những người có bệnh về dạ dày và tá tràng.

* Biểu hiện lâm sàng:

Thời kỳ đầu thấy khoang bụng không bình thường, căng tức gián cách, thậm chí quặn đau. Phạm vi đau khá rộng, xuất hiện ngược với hướng chạy của thần kinh giữa sườn, kèm theo nhức mỏi vùng ngực, lưng, ăn uống kém, ợ chua, buồn nôn. Lâu ngày có thể xuất hiện đau bụng cồn cào hoặc đau như đốt kéo dài. Bệnh nhân có thể bị tiêu chảy hoặc táo bón, số ít bệnh nhân đại tiện có phân đen như nhữa đường. Lúc này phải kịp thời nhập viện.

* Phương pháp trị liệu:

– Điểm huyệt:

+ Cách du, Can du, Tì du: lần lượt ở sau lưng, phía dưới xương bả vai, dưới mỏm nhô xương đốt sống ngực thứ 7, dưới, cách mỏm nhô xương đốt ngực thứ chín 5cm.

+ Túc tam lý: vị trí đã đề cập ở phần trên.

+ Lương khâu: nằm ở phía trước đùi trên, trên đường thẳng nối mỏm trên phía trước xương chậu với đầu ngoài xương bánh chè, cách xương bánh chè 6,5 cm.

+ Trung hoàn: nằm ở bụng trên, trên trung tuyến chính phía trước, phía trên, cách rốn 13cm. Ngoài ra, phối hợp điểm các huyệt uỷ trung, Khúc trì…

– Rèn luyện và điều dưỡng:

+ Chú ý chăm sóc xương sống cổ, ngực, đề phòng quá lao lực hoặc ngoại thương làm sai lệch vị trí thân xương và các khớp xương nhỏ.

+ Kiên trì xoa bụng, lấy rốn làm tâm, xoa tròn bụng thuận và nghịch chiều kim đồng hồ mỗi chiều 36 lần. Sau đó day ấn rốn trong 3-5 phút, mỗi ngày 1lần.

+ Kiên trì day ấn các huyệt Túc tam lý, Tam âm giao, Thượng hoàn, Trung hoàn…

4. Viêm túi mật mãn tính, sỏi mật:

Viêm túi mật, sỏi mật là những bệnh về hệ thống tiêu hoá thường gặp. Mật tắc không thông, bệnh nặng có thể lặp lại nhiều lần, dẫn đến quá trình trao đổi chất trong cơ thể bị trở ngại, mật bị nhiễm bẩn hoặc tắc, hình thành sỏi làm bụng dưới bên trái đau dữ dội, lúc này phải cần đến can thiệp bằng phẫu thuật.

* Biểu hiện lâm sàng:

Đau hoặc khó chịu ở bụng dưới bên trái, có lúc cảm thấy như lửa đốt, đồng thời phát tán đến vùng phía dưới vai trái. Thường thấy đau về đêm, đau đớn gia tăng rõ rệt sau khi ăn no với thức ăn nhiều dẫu mỡ, thậm chí thấy đau vặn xoắn. Một số người bệnh thấy buồn nôn ợ chua, tiêu hoá không tốt, đau, trương bụng v.v…

Đốt sống ngực thứ 6, 9  có thể chạm đến mỏm nhô xương phía sau hoặc bị di vị, đè đau rõ rệt.

* Phương pháp trị liệu:

– Điểm huyệt:

+ Can du: nằm sau lưng, phía dưới, cách mỏm nhô xương đốt sống ngực thứ chín 5cm.

+ Đảm nang: nằm ở chi dưới, phía dưới, cách Đại lăng tuyền 3-7cm, trong khu vực mẫn cảm.

+ Thái xung: nằm ở lưng bàn chân, ngay hõm giữa ngón chân cái và ngón kế nó.

+ Túc tam lý: vị trí đã nói ở phần trên.

– Rèn luyện và điều dưỡng:

+ Duy trì tinh thần lạc quan, tránh tổn thương cột sống, giảm thiểu khí gan tích tụ và mất cân bằng âm dương.

+ Chú ý dinh dưỡng, ăn nhiều rau, hoa quả, thịt nạc, các sản phẩm từ đậu, các thức ăn ít mỡ, giàu dinh dưỡng khác, ít ăn đồ ngọt, béo, cay.

5. Bệnh tiểu đường

Tiểu đường là bệnh thường thấy ở người già, trung niên, chủ yếu do lượng Insulin tiết ra không đủ, dẫn đến rối loạn đường huyết.

* Biểu hiện lâm sàng:

Triệu chứng điển hình của bệnh này là “3 nhiều 1 ít”, tức tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều và thể trọng giảm sút. Do tăng chức năng bài niệu nên thận căng trương, xuất hiện đau thắt lưng. Bệnh nhân nữ có thể thấy ngứa ngoài âm đạo, bệnh nhân nam có thể bị viêm đầu dương vật, đi tiểu đau… Một số bệnh nhân thấy hết sức mệt mỏi, nhiều mồ hôi, hoảng hốt, run, hạ đường huyết khi đói.

Đa số người bệnh bị cong một bên cột sống hoặc sai lệch vị trí, biểu hiện mỏm nhô xương xếp không đều, đè bên cạnh mỏm xương thấy đau rõ rệt; cơ chung quanh chỗ di vị xương cương cứng.

* Phương pháp trị liệu:

– Thủ pháp trị liệu: Chủ yếu sử dụng phương pháp điểm, ép, ấn day… để chỉnh sửa những bộ phận bị sai lệch vị trí, tập trung thao tác vùng hai bên từ đốt sống ngực thứ 4 đến thứ 8, vùng dọc theo bàng quan kinh, để giải trừ co giật cơ, hồi phục vị trí sai lệch.

– Điểm huyệt:

+ Huyệt Tích trung: nằm ở trung điểm của đường thẳng nối đỉnh các mỏm nhô xương đốt sống ngực thứ 11 và 12, tức khoảng chính giữa lưng.

+ Di du: bên cạnh, cách đốt sống ngực thứ tám 5cm.

Phối hợp điểm các huyệt Can du, Đảm du, Túc tam lý, Tam âm giao, mỗi huyệt ấn day khoảng 3-5 phút.

– Rèn luyện và điều dưỡng:

+ Thường ngày nên tự xoa bóp, tập trung các vùng hai bên cột sống, bụng trên, khu vực phản xạ tay, chân, Túc tam lý…

+ Tuân thủ chế độ ăn uống nghiêm ngặt, căn cứ sự thay đổi của lượng đường trong máu và nước tiểu để kịp thời điều chỉnh chế độ ăn uống và dùng thuốc hạ lượng đường.

+ Đề phòng cảm mạo, cảm nhiễm, giảm thiểu tối đa các triệu chứng phát ra cùng lúc.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!