ĐIỀU TRỊ CÁC CĂN BỆNH DO SAI LỆCH ĐỐT SỐNG CỔ

Cột sống và xương chậu bị sai lệch vị trí dẫn đến nhiều loại bệnh tật, nguyên nhân là do phần sai lệch đó chèn ép lên huyết quản, thần kinh, kinh lạc khiến cho các phần mềm tương quan như cơ, dây chằng bị biến tính và làm biến đổi chức năng của các cơ quan tạng phủ tương ứng, từ đó gây ra một bội chứng tổng hợp.

I. Các bệnh liên quan đến cột sống cổ:

Bệnh liên quan đến cột sống cổ là hội chứng của một loạt những chứng bệnh lâm sàng gây ra bởi sự thoái hoá đĩa đệm hoặc tăng sinh đốt sống cổ. Các bệnh liên quan đến cột sống cổ có thể phân thành bệnh về dây thần kinh, bệnh liên quan tuỷ sống, bệnh liên quan động mạch chuỳ, bệnh liên quan thần kinh giao cảm và bệnh hỗn hợp… Chúng có thể xảy ra ở hầu hết lứa tuổi, tuy nhiên thường gặp nhiều ở những người từ 40 tuổi trở lên.

1. Biểu hiện lâm sàng:

* Loại bệnh liên quan dây thần kinh

Đây là loại bệnh thường gặp liên quan đốt sống cổ. Biểu hiện đau đớn mang tính chất định vị và khuếch tán ở vùng đầu, vai, chi trên…; các khớp xương cổ và chi trên hoạt động hạn chế, cơ bắp co giật, tê hoặc teo lại, thường gặp ở vùng lưng hoặc chi trên; phản xạ của cánh tay bị giảm sút hoặc tê liệt. Trên vai và cổ có chỗ ấn thấy đau.

*Bệnh liên quan đến tuỷ sống:

Tuỷ sống chịu sức ép hoặc trở ngại tuần hoàn máu, dẫn đến trở ngại trong sự vận động và cảm giác của chi trên và chi dưới. Biểu hiện thời kỳ đầu là chi dưới mất hết sức lực, tê, dáng đi cứng, run rẩy, dần dần phát triển thành cơ bắp co rút, dễ té ngã, thời kỳ cuối bại liệt. Người bệnh còn có biểu hiện rối loạn chức năng thần kinh thực vật và cơ vòng, như tứ chi lạnh, phù thủng, trở ngại tiểu, đại tiện…

* Bệnh liên quan động mạch chuỳ:

Chóng mặt, đau đầu, buồn nôn, khi quay đầu gấp hoặc vươn cổ dài ra thấy hoa mắt; tai ù, điếc, thị giác và lưỡi hoạt động khó khăn; huyết áp khác thường; thiếu máu kéo dài.

* Bệnh liên quan đến thần kinh giao cảm:

Nhìn vật mờ, đồng tử giãn to, nhãn cầu trương đau; nhịp tim hỗn loạn, đánh trống ngực, huyết áp thất thường, trở ngại xuất mồ hôi (như đầu, mặt, vai quá nhiều hoặc không có mồ hôi), tứ chi phát lạnh, cổ họng có cảm giác như có dị vật, mất ngủ kéo dài, sốt…

2. Phương pháp điều trị

*Day ấn huyệt vị:

Thích hợp cho chứng viêm phần mềm. Chọn điểm đè đau hoặc huyệt vị tương ứng, như chỗ thắt nút thần kinh hình sao, huyệt Phong trì, Khúc trì, Hợp cốc… dùng lòng ngón tay cái day ấn, từ nhẹ đến mạnh cho đến khi cung cấp đủ lượng máu cục bộ.

*Cấm kỵ:

– Những bệnh tổn thương đốt sống cổ (như u xương, xương kết hạch, di vị do ngoại thương, gãy xương…) không được áp dụng.

– Người có đốt sống cổ trượt về phía trước, xương tăng sinh nối thành cầu cẩn thận trong khi áp dụng.

* Rèn luyện chức năng đốt sống cổ:

– Đọc sách, lên mạng cần ngồi với tư thế ngay ngắn, tránh những nhân tố không tốt kích thích.

– Kiên trì tự rèn luyện: thực hiện các chuyển đông vươn, gập, xoay tròn cổ, trước tiên làm động tác cúi về trước, ngẫng về sau 36 lần; tiếp theo nhắm mắt xoay đầu thuận chiều kim đồng hồ 36 lần, cuối cùng lại xoay ngược chiều kim đồng hồ 36 lần (tốt nhất nên ngồi tập để khỏi bị ngã; nguòi cao huyết áp, bệnh tim cẩn thẩn khi áp dụng), xoay xong chải đầu bằng các ngón tay 36 lần.

II. Các bệnh thường gặp khác do sai lệch vị trí đốt sống cổ:

1. Đau đầu

Đau đầu là loại bệnh thường gặp nhất và phổ biến nhất. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến chứng bệnh này, cho dù là nguyên nhân gì đi nữa (trừ nguyên nhân do ngoại thương, phẫu thuật) đều có liên quan đến sai lệch đốt sống cổ.

* Biểu hiện lâm sàng:

Người bị đau đầu có cảm giác không bình thường ở vùng cổ (mỏi tê, trương, đau, nặng cổ, căng…), đốt sống và khớp xương nhỏ di vị, khu vực quanh đốt sống có chỗ đè đau. Chỗ đau thường nằm ở hậu chẩm và lan đến vùng trán hoặc mắt cùng bên. Kiểu đau giống như có lực kéo, mài, chích và thường đi kèm cảm giác mơ màng, chóng mặt, dáng đi không ổn định, ù tai, thính lực, thị lực giảm sút,… bệnh nặng còn có thể kèm theo đau hoặc tê liệt chi trên cùng bên.

* Phương pháp điều trị:

– Phương pháp điểm huyệt đặc hiệu

Điểm ấn huyệt Bách hội, Phong trì, Thiên trụ, Kiên tỉnh mỗi huyệt 50-100 lần, tiếp theo kết hợp day ấn các huyệt Hợp cốc, Nội quan, ấn đường, Thái dương, Đầu và duy trì cho đến khi đạt hiệu quả giải trừ bệnh.

– Phương pháp Thông kinh hoạt lạc

Đối với đau đầu trước (phần nhiều do sai lệch khớp xương ở các đốt sống cổ từ 1-4), khi trị liệu, trước tiên cần điểm và day ấn các bộ phận này, chờ đến khi cơ đã được nới lỏng, dùng lực ngón tay cái đẩy ngược hướng sai lệch của thân xương hoặc khớp xương, làm giảm kích thích lên thần kinh chạc 3.

2. Đau thần kinh chạc 3:

Thần kinh chạc 3 là thần kinh hỗn hợp, bộ phần chủ yếu là những dây thần kinh cảm giác, một phần nhỏ là những dây thần kinh vận động. Thần kinh bán nguyệt từ não đi ra chia thành 3 nhánh: 1-Thần kinh mắt: chi phối vùng đỉnh trán, mí mắt trên, mũi, nhãn cầu, tuyến lệ, màng kết hợp và niêm mạc khoang mũi; 2-Thần kinh hàm trên: phân bố ở màng não cứng trong khoang sọ, răng và lợi của hàm trên, khoang hàm trên và niêm mạc mũi. 3-Thần kinh hàm dưới: là phân nhánh có kích thước lớn nhất trong 3 loại nói trên, phân bố ở răng và lợi của hàm dưới, 2/3 đầu lưỡi trước và niêm mạc khoang miệng dưới, thậm chí còn phân bố ở màng não dưới và trên đỉnh hộp sọ. Đau thần kinh chạc 3 chỉ những cơn đau lặp đi lặp lại trên vùng mặt nơi có sự phân bố của thần kinh chạc 3.

*Biểu hiện lâm sàng:

Đặc trung của nó là người bệnh có những cơn đau dữ dội bột phát mà thường là không có dấu hiệu báo trước. Cơn đau như cắt, như xé, hoặc đau như điện giật, lúc nặng có thể kèm theo cơ vùng mặt co rút, đỏ mặt, kết mạc xung huyết, chảy nước mắt. Cơn đau thường đến vào ban ngày, mỗi cơn kéo dài từ vài giây đến vài phút, giữa hai cơn đau không thấy triệu chứng gì, qua một lúc cơn đau lại bạo phát. Cơn đau có lúc liên quan đến mùa trong năm.

*Kiểm tra chẩn đoán:

Người bị đau thần kinh chạc 3 thường có bệnh về đốt sống cổ, sai lệch thân xương các đốt sống 2,3,4, vùng lân cận các đốt sống đè đau, đầu mỏm nhô xương lệch, kết thành vòm hoặc dải. Phim X-quang có thể cho thấy thân xương di vị hoặc các đường cong xương sống cổ biến đổi (thời kỳ đầu khó thấy). Khu vực thứ nhất thuộc sự chi phối của thần kinh chạc 3 có chỗ ấn đau. Căn cứ những điều nêu trên có thể chẩn doán chính xác.

*Phương pháp điều trị:

– Phương pháp điểm huyệt đặc hiệu

+ Tinh minh và Toàn trúc: Khi ấn nhẹ huyệt Tinh minh (nằm ở khoé trong mắt, cách mũi 3mm) thấy đau dữ dội tức nhánh thứ nhất (thần kinh mắt) mỏi mệt. Điểm ấn kích thích Tinh minh, Toàn trúc, phối hợp Hợp cốc, Nội quan… cơn đau sẽ lập tức giảm nhẹ.

+ Tứ bạch và Cự liêu: khi ấn nhẹ huyệt Tứ bạch (ở dưới đồng tử 3cm) thấy đau là nhánh thứ hai (thần kinh hàm trên) bị mỏi mệt. Chỉ cần điểm day ấn huyệt Tứ bạch và huyệt Cự liêu (nằm phìa ngoài cánh mũi khoảng 2-3cm) sẽ chữa khỏi.

+ Hạ quan và Đại nghinh: Phía trước tai vùng mặt, nơi gò má và hàm dưới tạo thành hõm chính là huyệt Hạ quan. Khi ấn nhẹ Hạ quan thấy đau dữ dội tức nhánh thứ 3 (thần kinh hàm dưới) mỏi mệt. Chỉ cần kích thích Hạ quan, Đại nghinh, kết hợp với các huyệt Hợp cốc, Thái dương, Thượng quan, Giáp xa… có thể thấy ngay hiệu quả tốt.

3. Các bệnh khúc xạ mắt:

Các bệnh khúc xạ mắt như cận thị, viễn thị, loạn thị…

* Biểu hiện lâm sàng:

Đặc trung của nó là người bệnh có những cơn đau dữ dội bộc phát mà không có dấu hiệu gì báo trước. Cơn đau như cắt, như xé, hoặc đau như điện giật, lúc nặng có thể kèm theo cơ vùng mặt co rút, đỏ mặt, kết mạc xung huyết, chảy nước mắt, nước dãi. Cơn đau thường đến vào ban ngày, mỗi cơn kéo dài từ vài giây đến vài phút, giữa hai cơn đau không thấy triệu chứng gì, qua một lúc cơn đau lại bạo phát. Cơn đau có lúc liên quan đến mùa trong năm.

Kiểm tra bằng X-quang có thể phát hiện đường cong xương sống cổ biến đổi, mỏm nhô xương lệch dị dạng, khớp không đối xứng…

* Phương pháp điều trị

– Phương pháp điểm huyệt đặc hiệu

+ Tứ bạch: kích thích hai huyệt Tứ bạch đối xứng hai bên.

+ Tinh minh: vị trí đã nói ở trên.

+ Toàn trúc: phía bên trên huyệt Tinh minh.

+ Đồng tử liêu: nằm ngoài đuôi mắt, cách khoản 1cm.

Lần lượt điểm ấn các huyệt nói trên, mỗi huyệt từ 1-2 phút.

* Phương pháp xoa bóp trị liệu

Trước tiên cần điểm day ấn hai đầu điểm đau để vỗ về cơ bị co giật, giúp tuần hoàn máu, tiêu trừ các chứng viêm phần mềm không do vi khuẩn gây ra, sau đó dùng phương pháp nắm đẩy hoặc kéo, trị liệu sai lệch đốt sống cổ (do bác sĩ có chuyên môn thực hiện). Đây là phương pháp được áp dụng dựa trên kết luận được đưa ra từ cách tiếp xúc chẩn đoán, hoặc dựa trên thông tin từ phim chụp X-quang để xác định khớp và hướng sai lệch của nó, từ đó áp dụng những phương pháp trị liệu khác nhau. Đối với người có đốt sống bị trượt khỏi vị trí, nhô đĩa đệm hoặc đĩa đệm biến tính ghép vào đốt xương móc câu, đa phần áp dụng phương pháp lắc, kéo (một phương pháp điều chỉnh phục vị). Đồng thời phối hợp với phương pháp nắm kéo các bộ phận đầu, cổ, vai và lưng, có thể giải trừ co giật, tiêu đau, đả thông kinh lạc, giãn gân thông máu… phục hồi chức năng các cơ quan.

* Các phương pháp điều trị khác (liệu pháp chọn trị bộ phận)

Phương pháp này cần bác sĩ có chuyên môn thực hiện. Thông qua chọn trị các bộ phận chung quanh cột sống, không những có thể phục hồi thị lực, mà còn có thể giúp thanh thiếu niên trưởng thành phát dục, có tác dụng tăng cường miễn dịch cho cơ thể, là một phương pháp hữu hiệu trong liệu pháp trị bệnh cổ truyền dân tộc Trung Hoa.

4. Chóng mặt

Chóng mặt là một loại cảm giác sai lầm về vận động gây ra bởi mật chức năng cân bằng và không gian định hướng trong cơ thể. Do đốt sống cổ di vị chèn lên động mạch chuỳ, làm động mạch não cung cấp máu không đủ gây ra chóng mặt, gọi là chóng mặt cảnh tính hay hội chứng chèn ép động mạch chuỳ. Người bệnh cảm thấy cảnh vật chung quanh chuyển động theo một hướng nhất định hoặc thấy trời xoay đất quay, buồn nôn, đầu nặng chân nhẹ…

* Biểu hiện lâm sàng:

Thay đổi tư thế và hoạt động của đầu khiến cảm giác chóng mặt gia tăng là một đặc điểm của bệnh này. Ngoài ra, do động mạch chân cột sống thiếu máu cũng có thể dẫn đến đau đầu (thường đau ở gáy, đỉnh đầu hoặc thái dương, vị trí nằm sâu).

Cổ hoạt động bị giới hạn, cơ bắp căng trương cục bộ, ép đau, có thể phát hiện sai lệch của mỏm nhô xương và nhánh xương ngang, khi quay đầu nghe tiếng ma sát, thấy chóng mặt dữ dội.

* Phương pháp trị liệu:

– Phương pháp điểm huyệt đặc hiệu:

+ Ngoại quan: nằm ở mặt ngoài của cánh tay trước, giữa xương cẳng tay và trụ cẳng tay, phía trên, cách đường gấp cổ tay 2 thốn (Trung y xem độ rộng của đường gấp chia đôi ngón tay cái của người bệnh là 1 thốn).

+ Túc lâm khấp: nằm trên lưng bàn chân, giữa ngón thứ tư và ngón thứ 5, đặt ngón tay lên và chuyển động theo hướng đi lên, điểm dừng lại một cách tự nhiên chính là huyệt vị.

+ Trung lịch đoài: nằm ở ngón chân thứ 2, ngay chính giữa đường viền móng chân phía trong.

– Thủ pháp trị liệu:

Đòi hỏi bác sĩ chuyên môn thao tác. Phương pháp này có hiệu quả khá tốt, thường chỉ tiến hành một lần là có thể chữa khỏi bệnh. Chỉ cần giải trừ kích thích hoặc sự chèn ép lên động mạch chuỳ và thần kinh giao cảm thì triệu chứng bệnh sẽ biến mất. Tuy nhiên, đòi hỏi ngón tay cái tiếp xúc chẩn đoán phải chính xác, không nhầm lẫn, phục vị triệt để mới có thể đạt được kết quả mỹ mãn.

– Rèn luyện và chăm sóc:

+ Xoa bóp đốt sống cổ: tay phải ấn bên trái các đốt sống cổ, tay trái làm ngược lại, mỗi lần ấn từ 5-10 phút.

+ Tự điểm huyệt: các cặp huyệt Phong trì, Thái dương, ế phong, Thính cung, Thính hội, Nội quan, Hợp cốc…

+ Tập xoay đầu, gập trước vươn sau 9 lần, ngồi nhắm mắt quay đầu xuôi chiều kim đồng hồ 9 lần, ngược chiều 9 lần, dùng các ngón tay chải đầu 9 lần, mỗi ngày kiền trì làm từ 1-2 lần, chắc chắn đạt kết quả tốt.

5. Mất ngủ

Mất ngủ phần nhiều do nguyên nhân sai lệch vị trí đốt sống cổ, kích thích thần kinh giao cảm, dẫn đến tính hưng phấn của vỏ đại não tăng cao, gây khó ngủ hoặc thời gian ngủ không đủ. Thần kinh giao cảm bị kích thích, thường do sự thay đổi vị trí của các đốt sống cổ (ngoại thương, tư thế không ngay ngắn gây tổn thương cơ và dây chằng), khiến các khớp nhỏ của đốt sống cổ di vị, gây mất ổn định giữa các đốt sống, cơ cổ co giật, hoặc viêm, từ đó dẫn đến mất ngủ.

* Biểu hiện lâm sàng:

Người mắc bệnh thường thấy mất ngủ, mơ nhiều, tâm tình phiên não, dễ xung động… Một số người bệnh có cổ hoạt động bị trở ngại, đau cục bộ, chóng mặt nặng đầu, tinh thần mệt mỏi. Chụp X-quang kiểm tra thấy đoạn xương đốt sống cổ tăng sinh, nhô đĩa đệm hoặc biến tính, dây chằng bị vôi hoặc xương hoá, đường cong đốt sống cổ biến dạng…

* Phương pháp điều trị:

– Thủ pháp trị liệu (Phương pháp định vị xoay  tròn phục vị)

Đòi hỏi bác sĩ có chuyên môn thao tác, thường đạt hiệu quả cao. Nói chung trước tiên hoá giải co giật cơ, phục vị các mỏm nhô xương bị lệch, gỡ bỏ lực ép, hồi phục sự cân bằng trong ngoài của cột sống và chức năng sinh lý của thần kinh và huyết quản là điều kiện hàng đầu của phương pháp này.

– Phương pháp điểm huyệt đặc hiệu:

+ Hoàn cốt: nằm sau tai phía dưới nhũ đột, cách khoảng 1cm.

+ Thiên trụ: nằm phía sau cổ, mé ngoài cơ sau cổ (trên đường chân tóc phía sau, cách trung tâm 1,3 thốn).

+ Thần môn: nằm ở hõm trước, mặt ngoài khớp xương cổ tay.

+ Túc tam lý: nằm ở mặt ngoài xương cẳng chân, dưới đầu gối khoảng 5-6cm.

– Rèn luyện và chăm sóc:

+ Xoa bóp đốt sống cổ: tay phải ấn bên trái các đốt sống cổ, tay trái làm ngược lại, mỗi lần ấn từ 5-10 phút.

+ Kịp thời chữa trị ngoại thương vùng cổ, tránh để sai lệch mỏm nhô xương và đốt sống cổ.

+ Tăng cường hoạt động thể dục thể thao, các khớp vận động thích hợp, tăng cường các tố chất cho cơ thể.

+ Chú ý điều tiết, duy trì cân bằng dinh dưỡng, ăn nhiều chất bổ như hồ đào, khoai lang, đậu đen, vừng đen,… chất bổ khí huyết như đu đủ, đương quy, đảng sâm… để giúp cho việc cải thiện giấc ngủ và phòng bệnh về đốt sống cổ.

+ Duy trì tinh thần lạc quan, tầm thái bình hoà, không nóng vội, khoan dung độ lượng, tu thân dưỡng tính có tác dụng cực kỳ quan trọng trong phòng và trị chứng mất ngủ.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!