HỆ TỪ THƯỢNG TRUYỆN (P2)

HỆ TỪ THƯỢNG TRUYỆN (P2)

CHƯƠNG THỨ TƯ
(Chương này chia làm bốn tiết)


TIẾT THỨ NHẤT


Dịch, dữ thiên địa chuẩn, cố năng di luân thiên địa chi đạo.
, 譽天地準, 估故能彌綸天地之道.
Mấy chương trên đã phát minh nguyên lý làm ra Dịch, đến chương này mới nói hết nội dung của Dịch.
Nhân vì thiên địa tức là Dịch, Dịch tức là thiên địa, nên thông chương có bốn tiết, tiết nào cũng có góp
cả thiên địa với Dịch.
Tiết thứ nhất là thống quái nói nghĩa toàn bộ Dịch, những đạo lý ở trong quái từ hào từ cân tày với đạo
trời đất
(Chuẩn nghĩa là một mực thước, một khuôn khổ in như trời đất), vì thế, cho nên di luân được
đạo của trời đất
(di nghĩa là khắp; luân nghĩa là sắp đặt sửa sang, nói cho kỹ thời như cách dệt tơ, chia
cho ra sợi ngang, sợi dọc, lại góp đường ngang, đường dọc đi theo nhau).
Đạo trời thời phần nhiều thuộc về dương, đạo đất thời phần nhiều thuộc về âm. Dịch thời thống quát cả
âm dương, mà khiến cho chung nhau thành công dụng. Thế là đạo trời đất vì có Dịch mới sửa sang
chỉnh đốn được tất thảy, nên nói rằng:
Di luân thiên địa chi đạo.


TIẾT THỨ HAI


Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý, thị cố tri u minh chi cố; nguyên thỉ phản chung, cố tri
tử sanh chi thuyết: tinh khí vi vật, du hồn vi biến, thị cố tri quỷ thần chi tình trạng.
仰以觀於天文, 俯以察於地理, 是故知幽明之故; 原始反終, 故知死生之說, 精氣爲物, 遊魂爲
, 是故知鬼神之情狀.
Thích nghĩa là tiết này phải chia làm ba đoạn. Nói tóm lại, chỉ cốt cho cùng lý.
Đoạn thứ nhất, cùng cứu nguyên lý u minh ở trong vũ trụ.
Trong vũ trụ nguyên có hai phần lý, một phần thuộc về u, một phần thuộc về minh: u thời kín đáo, lờ
mờ mà không trông thấy, minh thời rõ ràng sáng láng mà dễ trông thấy.
Nhưng cớ vì sao mà u, vì sao mà minh? thời chứng nghiệm vào đâu mà biết được?
Thánh nhân ở trước khi làm Dịch, ngửa lên trên mà xem ở thiên văn, cúi xuống dưới mà xét ở địa lý,
thời biết rằng: Bao nhiêu tác dụng về phần khí, thời không hình tích rõ ràng mà thành ra u; bao nhiêu
tác dụng về phần hình thời có thực tích chứng nghiệm được mà thành ra minh. Những cái gì vì dương
cương phần nhiều mà phát hiện ra, là cớ sở dĩ minh; những cái gì vì âm nhu phần nhiều mà thu lượm
lại, là cớ sở dĩ u.
Đoạn thứ hai, là cùng cứu nguyên lý thuộc về phận sự.
Thuộc về nhân sự rất khó phân giải là thuyết tử sinh.
Sinh ở đâu mà lại, tử ở đâu mà mất, chứng nghiệm vào gì mà biết được?
Nguyên lai, người ta sở dĩ sinh là vì ở lúc đầu có âm dương nhị khí hòa hợp, khí tụ mà hình thành, mới
có sinh. Đến lúc cuối cùng, dương tiêu, âm kiệt, nên khí tán mà hình cũng tán, mới có tử.
Bây giờ ta suy nguyên cho đến từ khởi thủy thời biết được chung cùng thế thôi.
Lí thỉ tức là lý sinh, lý chung tức là lý tử.

Tử sinh chỉ là chung thỉ tuần hoàn mà thôi. Vậy nên, nguyên thỉ phản chung mà biết được tử sinh chi
thuyết.
Đoạn thứ ba, đến như lý thuộc về quỷ thần.
Quỷ thần có hay không? Tình trạng của quỷ thần có hay không? Vẫn khó nói quyết được.
Nhưng theo về Dịch lý, âm dương chi biến, thiên địa chi đạo, thời quỷ thần vẫn có, quỷ thần chi tình
trạng vẫn có. Tuy nhiên, bảo rằng có, thời chứng nghiệm vào đâu mà biết được?
Theo như Dịch lý, âm tinh, dương khí ngưng tụ lại mà thành ra chất hoạt động. Như thế là tình trạng
thuộc về thần.
Hồn tan mà lên ở chốn không, phách tiêu mà biến làm chất khác. Đó là tình trạng thuộc về quỷ.
Chữ quỷ thần ở đây khác hẳn chữ quỷ thần mà người thường hay nói. Thần nghĩa là có trí năng hoạt
động, cái đó nhờ tinh khí ngưng kết mà thành, nên tinh khí vi vật gọi bằng thần. quỷ nghĩa là nhất khối
từ vật, không trí năng hoạt động, khi linh hồn tiêu tán rồi thời như thế, nên du hồn vi biến, gọi bằng quỷ
(chữ
cố dưới chữ u minh nghĩa là lý do sở dĩ nhiên; thuyết chỉ là lời nói giải thích).


TIẾT THỨ BA


Dữ thiên địa tương tự cố bất vi; trí chu hồ vạn vật nhi đạo tế thiên hạ, cố bất quá; bàng hành nhi bất
lưu, lạc thiên tri mệnh, cố bất ưu; an thổ đôn hồ nhân, cố năng ái.
譽天地相似, 故不違; 知周乎萬物而道濟天下, 故不過; 旁行而不流, 樂知天命, 故不憂; 安土敦
乎仁
, 故能愛.
Tiết trên là nói về việc cùng lý, tiết này lại nói về việc tận tính.
Cùng lý thuộc về phần trí, tận tính thuộc về phần hành. Trên ấy nói dữ thiên địa chuẩn là nói về Dịch,
đây lại nói về thánh nhân. Thánh nhân in giống như trời đất, trời đất với thánh nhân nhất nhi nhị, nhị
nhi nhất. Vậy nên thánh nhân không việc gì trái với trời đất, mà trời đất cũng không cãi thánh nhân.
Nên nói rằng
Dữ thiên địa tương tự, cố bất vi (Chữ tự cũng như nghĩa chữ chuẩn).
Một câu ấy là trùm bọc cả mấy câu dưới này. Bây giờ mới lấy đức trí, đức nhân mà nói cho tường
việc tận tính.
Đức trí của thánh nhân soi xét khắp cả vạn vật, in như đức trí của trời đất; đạo nhân của thánh nhân yêu
giúp được cả thiên hạ in như đạo nhân của trời đất.
Vì đức trí đã dầy đủ mà đạo nhân lại hoàn toàn, nên việc gì cũng đúng với đạo trung. Đức trí của thánh
nhân chẳng những thuộc về phần kinh mà thôi lại hay đến cả phần quyền. Ngộ việc gì nên hành quyền,
tuy là đi thiên về một phía cốt để ứng biến cho thông, nhưng hành quyền mà không mất chính, chẳng
bao giờ lưu đãng vong phản. Câu ấy là thuộc về phần trí, mà bao bọc cả phần nhân.
Đạo nhân của thánh nhân, chẳng những thấy ở lúc thường mà còn chứng được ở lúc biến, dầu gặp biến
cố bất kì, người thường thời vẫn hay lo sợ, thánh nhân chỉ thuận lý theo đạo, xử biến cùng in như
thường, vui thích vì đạo trời, thông thấu được mệnh trời, vì thế mà trong lòng không gì lo ngại.
Chữ
lạc thiên ở đây tức là nhân giả bất ưu; chữ trí mệnh ở đây tức là chữ tri thiên mệnh ở sách
Luận Ngữ (Câu ấy là thuộc về phần nhân mà bao bọc cả phần trí).
Đức Trí với đạo nhân, hai bên tương thành, trí càng thâm thời nhân càng dày, chẳng vào đâu mà chẳng
tự đắc, tùy ngộ nhi an, đạo nhân không bao giờ gián đoạn, vì vậy nên tấm lòng tế nhân lợi vật đạt ở
cực điểm mà thực hành được nghĩa chữ bác ái.
Tiết này chuyên nói về việc tận tính của thánh nhân, nhưng tóm tắt lại chỉ có hai chữ
trí, nhân. Trí cực
kì minh, nên giống được đức trí của trời đất; nhân cực kì hậu nên giống được đạo nhân của trời đất.

TIẾT THỨ TƯ


Phạm vi thiên địa chi hóa nhi bất quá; khúc thành vạn vật nhi bất di; thông hồ trú dạ chi đạo nhi tri; cố
thần vô phương, nhi dịch vô thể.
範圍天下之化而不過; 曲成萬物而不遗; 通乎晝夜之道而知, 故神旡方, 而易旡體.
Trên ấy đã nói vể sự cùng lý tận tính, đây lại nói về việc chí mệnh của thánh nhân. Công việc tạo hóa
của thiên địa, vì rộng lớn không chừng, nên thường hay có chốn quá.
Tỉ như: Mùa đông thời quá ở hàn, mùa hạ thời quá ở nóng, núi có lúc quá ở cao, sông có lúc quá ở
sâu, như những loài ấy, v.v. thường hay làm trở ngại cho đường sinh hoạt của người; thánh nhân mới có
khuôn phép, để tài thành phụ tướng công hóa của thiên địa, bao nhiêu công dụng của tạo hóa thu nạp
vào trong khuôn khổ của thánh nhân mà không việc gì đến nỗi thái quá. Thế là
phạm vi thiên địa chi
hóa nhi bất quá
.
(Chữ
phạm tượng như đúc thành cái khuôn, không ra khỏi ngoài khuôn là gọi bằng phạm; vỉ tượng như
vây bọc được tròn khít, không ra được khỏi ngoài vòng, gọi bằng
vi).
Loài vạn vật ở trong trời đất nhiều không biết chừng nào, muốn cho vật nào thành vật nấy, hình thành
được hình, sắc thành được sắc, khí thành được khí, dụng thành được dụng, thiệt rất khó.
thánh nhân vì có trí cách vật, có nhân nuôi vật, có lượng dung vật, có tài tạo vật, nên ủy khúc thành tựu
được vạn vật mà không sót một vật gì. Thế là:
Khúc thành vạn vật nhi bất di.
(Khúc thành
nghĩa là tùy phận lượng tính chất của nó mà vắt nắn sửa sang cho nó, dụng công uốn nắn
mà không phải thẳng tay gọi bằng
khúc).
Việc người đã xong, còn có việc quỷ thần; việc sinh đã xong, còn có việc tử hóa. Nhân với sinh tức là
trú, quỷ với tử tức là dạ. Thánh nhân vì có trí thông minh thánh triết, thông thấu lý do thuộc về trú dạ,
mà cái đạo nhân, quỷ sinh, tử, những gì là tự nhiên, những gì là đương nhiên, thảy biết hết. Thế là:
Thông hồ trú dạ chi đạo nhi tri. Công việc chí mệnh của thánh nhân đã như trên nói thời biết được.
Tri bằng cách huyền bí thần diệu như thế nên không biết phương hướng mà tìm. Hành bằng cách biến
dịch bất trắc như thế nên không hình thể gì hạn lượng được.
Câu
Thần vô phương, nhi dịch vô thể, là tổng kết cả mấy tiết, ngó lại câu Dịch dữ thiên địa chuẩn
đầu chương thấy được thánh nhân tức thiên địa, thiên địa tức thánh nhân.
Chữ Thần, chữ Dịch ở câu cuối nghĩa khác chữ Thần, chữ Dịch ở câu tiết trên.
Thần nghĩa là tinh diệu; Dịch nghĩa là biến hóa.


CHƯƠNG THỨ NĂM
(Chương này chia làm tám tiết)


TIẾT THỨ NHẤT


Nhất âm nhất dương chi vị đạo.
一陰一陽之謂道.
Lưu hành ở trong vũ trụ, chỉ có âm dương mà thôi.
Tỉ như, trong một ngày, thời trú là dương, dạ là âm; trong một tháng, nửa tháng trước là dương, nửa
tháng sau là âm; trong một năm, Xuân, Hạ là dương, Thu, Đông là âm. Lớn đến một vận hội thời thịnh
thái là dương, suy bĩ là âm; nhỏ cho đến trong một thân, thời khí là dương, huyết là âm. Khi mắt trương
là dương, nhắm lại là âm. Lại nhỏ cho đến một giống vật, khi động tác là dương, khi nấp nép là âm; khi

đương sống là dương, khi đã chết là âm.
Bao quát hết trong vũ trụ, tất thảy cả không gian cho đến thì gian, không một chốn nào là không âm
dương, lại không phút nào là không âm dương, chỉ thấy nhất âm nhất dương đắp đổi nhau mà thôi.
Những âm dương thuộc về phần khí và thuộc về phần hình vẫn chưa gọi bằng đạo được, nhưng sở dĩ
có khí, có hình mà thấy ra được nhất âm nhất dương. Đó là cái gì? Chỉ là lý tự nhiên. Vì lý tự nhiên,
mà nảy ra sự đương nhiên, đó tức là đạo, nên nói rằng
Nhất âm, nhất dương chi vị đạo.
Bôn chữ nhất âm, nhất dương có hai nghĩa: Một nghĩa là âm dương tương đốì là kể ngang, một nghĩa là
âm dương đắp đổi nhau là kể dọc. Kể ngang thời phía này là nhất âm, phía kia là nhất dương, như thế
là âm dương tương đối; kể dọc thời nhất âm rồi có nhất dương, nhất dương rồi có nhất âm, như thế là
âm dương đắp đổi vận hành. Đủ hai nghĩa ấy mới giảng đến ba chữ
chi vị đạo. Câu này diệu tại hai
chữ nhất, nếu chỉ có âm hay chỉ có dương mà thôi thời không phải là đạo. Vì dùng hai chữ nhất cặp
nhau mới thành ra nghĩa đối nhau và đắp đổi nhau, mới thấy được nhất âm, nhất dương gọi bầng đạo.
Chữ đạo đây theo Dịch lý thời đạo là thái cực, tức là sở dĩ làm ra nhất âm nhất dương.


TIẾT THỨ HAI


Kế chi giả thiện dã, thành chi giả, tính dã.
繼之者善也, 成之者性也.
Vì lý nhất âm nhất dương đó, trời phú cho người ta, mà người ta thừa tiếp lấy, nguyên đầu chỉ là lành
mà thôi (Chữ
chi là thay chữ đạo; chữ giả là thay chữ nhân).
Câu này chỉ nói về phần tiên thiên, chính là lúc bắt đầu phú dữ nguyên lý cho mình, nên mới nói được
chữ
thiện. Đến lúc người ta đã thừa thụ nguyên lý ấy mà thành ra khí với hình mới sinh ra người, lúc
bấy giờ là gọi bằng
tính.
Câu ấy nói cả tiên thiên hậu thiên, khi trước lúc chưa sinh là tiên thiên, khi sau lúc đã sinh là hậu
thiên, gồm đủ cả tiên thiên, hậu thiên thành ra tính.
Chữ
tính lại dính với chữ thiện, chữ kế dính với chữ đạo, Kế lấy đạo nên gọi bằng thiện, thành được
thiện nên gọi bằng tính.
Sách
Trung Dung có câu: Thiên mệnh chi vị tính 天命之謂性, chữ kế đây là kế với thiên mệnh, mà
thiên mệnh thời căn bản ở nhất âm, nhất dương mà sinh ra; đạo là mẹ, tính là con.
Xưa nay bàn đến chữ tính, Mạnh Tử chủ trương tính thiện, Tuân Tử thời lại chủ trương tính ác, thầy
Đổng Trọng Thư thời nói tính hữu tam phẩm, đến Dương Hùng lại nói tính thiện ác hỗn, chúng ta chiết
trung bằng Dịch lý, thời như lời thầy Mạnh Tử có lẽ vô tệ.


TIẾT THỨ BA


Nhân giả kiến chi vị chi nhân, tri giả kiến chi vị chi trí, bách tính nhật dụng nhi bất tri, cố quân tử chi
đạo, tiển hĩ.
仁者見之謂之仁, 知者見之謂之知, 百姓日用而不知, 故君子之道, 鮮矣.
Trên ấy nói đạo với tính, tính chỉ là một phần tử ở trong đạo, toàn thể đạo bao bọc rất lớn mà công
dụng đạo lại tinh vi rất mực, nên người ta biết hết được đạo là rất khó, chỉ duy tùy ở nơi bẩm thụ, ai
bẩm thụ về phần dương dộng nhiều thời làm người nhân giả, ai bẩm thụ về phần âm tĩnh nhiều thời làm
người trí giả.

Vì bẩm thụ có khác nhau, nên óc nghĩ mắt thấy cũng không in nhau, nhân giả thấy là nhân, thời gọi đạo
bằng nhân, tri giả thấy là trí, thời gọi đạo bằng trí.
Lại còn một hạng kém hơn nữa, vì bẩm thụ thuộc về khí chất, phần nhiều nói về nhân họ cùng chẳng
thấy ra nhân, nói về trí họ cũng chẳng thấy ra trí.
Vì vậy cho nên đạo của quân tử, thiệt ít người thể nhận cho được đó vậy.
Quản tử chi đạo tức là nhất âm nhất dương, đạo vô phân âm dương, mà lại đủ cả âm dương. Bách tính
bất tri đã đành, nhưng nhân giả vì thiên về phần dương nhiều mà chỉ thấy được nhân, trí giả vì thiên về
phần âm nhiều mà chỉ thấy được trí. Thế thời người biết được toàn thể đạo là ít, nên nói rằng tiễn hĩ.


TIẾT THỨ TƯ


Hiển chư nhân, tàng chư dụng, cổ vạn vật, nhi bất dữ thánh nhân đồng ưu, thịnh đức đại nghiệp chí hĩ
tai.
顯諸仁, 藏諸用, 鼓萬物, 而不與聖人同憂, 盛德大業至矣哉.
Trên ấy đã nói đạo, bây giờ lại lấy thánh nhân với thiên địa so đọ nhau, xem ở nơi sinh dục bởi những
phần đức phát hiện ra, là gọi bằng nhân, mà ai cũng thấy được. Đó là hiển chư nhân.
Dò không được cơ biến hóa, lường không được ý mầu nhiệm, muốn suy nghĩ những sự nghiệp ấy, mà
không biết tìm vào đâu. Thế là tàng chư dụng.
Nhân là đức ở trong, mà phát hiện ra ngoài, nên gọi bằng hiển; dụng là nghiệp ở ngoài mà thu liễm vào
trong, nên gọi bằng tàng. Hai câu ấy là thiên địa, thánh nhân in nhau.
Duy thiên địa thời tự nhiên vô tâm mà cổ động được vạn vật, thánh nhân thời cốt vô vi mà thôi, nhưng
phải có lòng ưu thì mẫn thế, không thể vô tâm như thiên địa, chỉ chốn ấy là thiên địa có khác với thánh
nhân, nên nói rằng:
Cổ vạn vật nhi bất dữ thánh nhân đồng ưu. Chữ ưu đây có ý như “đại bi” của nhà
Phật, thiên địa cổ vạn vật là xuất ở vô tâm, nên không đồng ưu với thánh nhân.
Tuy nhiên, một phía thời vô tâm mà thành hóa, một phía thời vô vi mà thành công. Tổng chi, đức thịnh
nghiệp lớn đều đạt ở cực điểm, nên lại hợp tán rằng: Thịnh đức đại nghiệp chí hĩ tai.


TIẾT THỨ NÁM


Phú hữu chi vị đại nghiệp, nhật tân chi vị thịnh đức.
富有之謂大業, 日新之謂盛德.
Trên ấy nói thiên địa thánh nhân, đây nói gộp cả Dịch lý với thiên địa thánh nhân, rộng lớn mà không
gì trật ra ngoài được, thế là
phú hữu biết chừng nào; nên gọi bằng đại nghiệp.
Càng ngày càng biến hóa nảy nở, lâu dài mà không bao giờ cùng, thế là
nhật tân biết chừng nào, nên
gọi bằng
thịnh đức.
Nói trái lại, không phải phú hữu thời không gọi được đại nghiệp; không phải nhật tân thời không gọi
được thịnh đức.
Nói tóm lại, vì có phú hữu mới có vốn mà nhật tân được, vì có nhật tân mới có lời mà phú hữu được.
Đại nghiệp thịnh đức vẫn tiếp tục tương sinh; đức có thịnh thời nghiệp mới đại, nghiệp đã đại thời đức
lại thịnh thêm, ý nghĩa hai câu vẫn nhất quán.


TIẾT THỨ SÁU

Sinh sinh chi vị Dịch
生生之謂易.
Trên ấy đã nói Dịch lý, bây giờ lại nói gộp cả Dịch lý với Dịch thư.
Vì sao mà gọi bằng Dịch? Vì xem ở trong vũ trụ, với ở trong quái hào tượng biến, thấy dương sinh âm,
thấy âm sinh dương, cương sinh nhu, nhu sinh cương, đắp đổi nảy nở hoài, không chốn nào cùng, cũng
không chốn nào chết, có như thế mới gọi bằng Dịch.
Hai chữ sinh sinh ý nghĩa rất nhiều, sinh có nghĩa phản đốì với tử, nói rằng sinh sinh là không bao giờ
tử.
Sinh lại có nghĩa liên tiếp với chữ hóa, nói rằng sinh sinh là hóa mãi mà không cùng; Sinh lại có nghĩa
như chữ sản, nói rằng sinh sinh là sản xuất mãi mà không cùng.
Ông Lão Tử có nói rằng:
Nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật 一生二,二生三, 三生萬物,
cũng một lẽ sinh sinh chi vị Dịch.
Hai chữ sinh sinh rất đúng với lý Dịch, mà cũng vì có Dịch mới hay sinh sinh.
Nếu chỉ có một mà thôi, mà không biến dịch thời lấy gì mà sinh. Nếu chỉ một lần sinh, mà không tiếp
tục sinh nữa, thời cũng có đâu mà biến dịch. Vậy nên chỉ năm chữ ấy, bao bọc hết thảy diệu lý vũ trụ
với Dịch.


TIẾT THỨ BẢY


Thành tượng chi vị Càn, hiệu pháp chi vị Khôn.
成象之謂乾, 效法之謂坤.
Dịch vẫn bao bọc hết lý tạo hóa, nhưng ở trong lý tạo hóa lại bao bọc vào trong Càn, Khôn. Thế nào
là gọi bằng Càn? Là lúc bắt đầu chưa có vạn vật, mà khí Càn chủ động gây nên tượng. Thế là gọi bằng
Càn. Lại thế nào là gọi bằng Khôn? Khi vạn vật đã thành tượng rồi nhưng mà chưa thành được hình,
Khôn mới thừa thuận lấy Càn, mà hiển trình ra các thức khuôn mẫu, làm cho vật nào vật nấy tất thảy
thành hình. Thế là gọi bằng Khôn.
Xem ở thành tượng thời biết đó là Càn, suy ở hiệu pháp thời biết đó là Khôn.
Nên nói rằng:
Thành tượng chi vị Càn, hiệu pháp chi vị Khôn.
Tượng
nghĩa là đương mơ màng phảng phất tưởng tượng mà thôi, tỉ như đứa con đương ở lúc phôi
thai, gọi bằng tượng.
Pháp nghĩa là hình thức đầy đủ, khuôn khổ đã nhất định, tỉ như đứa con đã dầy thai thành hình, mà
xuất sản, gọi bằng pháp.
Thành nghĩa là mới gây tạo ra, không phải như nghĩa chữ thành công.
Hiệu nghĩa là trình bày cho người ta thấy, cũng in như nghĩa chữ hiệu lực.


TIẾT THỨ TÁM


Âm dương bất trắc, chi vị thần.
陰陽不測之謂神.
Diệu dụng ở trong Dịch tức là thần, nhưng làm sao thời bảo rằng thần? Trên đã nói rằng:
Thần vô

phương là vì nhất âm, nhất dương biến hóa tác dụng, ở trong âm mà vẫn có dương, ở trong dương mà
vẫn có âm, âm dương không nhất định về phương hướng nào. Thế là âm dương bất trắc. Vì vậy mà gọi
bằng thần.

CHƯƠNG THỨ SÁU
(Khuyết)

CHƯƠNG THỨ BẢY
(Chương này chia làm hai tiết)


TIẾT THỨ NHẤT


Tử viết: Dịch kì chí hĩ hồ, phù Dịch, thánh nhân sở dĩ sùng đức nhi quảng nghiệp dã, trí sùng lễ ti,
sùng hiệu thiên, ti pháp địa.
子曰: 易其至矣乎, 夫易聖人所以崇德而廣業也, 知崇禮卑, 崇效天, 卑法地.
Dịch thiệt cực điểm tinh diệu đó mà.
Nguyên lai, Dịch lý là thánh nhân sở dĩ sùng cao được đức mà rộng lớn được nghiệp đó vậy.
Trí đức thời rất cao, lễ nghi thời khiêm hạ, về phần cao đó là bắt chước theo trời, về phần ti đó là bắt
chước theo đất.


TIẾT THỨ HAI


Thiên địa thiết vị, nhi Dịch hành hồ kì trung hĩ; thành tính tồn tồn, đạo nghĩa chi môn.
天地設位, 而易行乎其中矣; 成性存存, 道義之門.
Thiên sùng địa ti, thiết ra vị ở trên dưới, mà Dịch tức khắc có tác dụng ở trong ấy rồi.
Bỏi vì thiên địa chỉ là âm dương, mà âm dương biến hóa tức là Dịch. Dịch lưu hành ở giữa khoảng
trời đất, người ta bẩm thụ được lý ấy mà thành tính người, thành được tính rồi, lại in như Dịch lý mà
sinh sinh bất tức, như thế là thành tính tồn tồn. Vì có sinh sinh mới hay tồn tồn; vì tồn tồn mãi mà tính
người thành ra một cái cửa cho đạo nghĩa.
Đạo theo đó mà ra, nghĩa theo đó mà vào, nên nói rằng:
Đạo nghĩa chi môn 導義之門. Đạo là lý vô
hình; nghĩa là việc hữu hình. Lí ở trong mà việc ở ngoài, đem lý ra mà làm việc, nạp việc vào trong lý,
tất phải ở chốn cửa, mà của tức là nơi thành tính.


CHƯƠNG THỨ TÁM
(Chỉ lược dịch bốn tiết 3, 4, 5, 6)


TIẾT THỨ BA


Ngôn thiên hạ chi chí trách nhi bất khả ố dã; ngôn thiên hạ chi chí động, nhi bất khả loạn dã.
言天下之至賾而不可惡也; 言天下之至動而不可亂也.
Trên ấy chỉ nói về Dịch lý, đây lại nói vể sách Dịch, tức là chỉ vào tượng, quái, hào ở trong Dịch.
Trong từ Dịch vẫn nói hết thảy những việc rất tạp loạn ở trong thiên hạ, nhưng những việc tạp loạn đó
thảy thâu nạp vào trong Dịch lý, Dịch không thể ghét bỏ mà không nói.
(Trách nghĩa là tạp loạn). Và
lại quái từ, hào từ ở trong Dịch nói hết thảy những việc rất biến động ở trong thiên hạ, cái việc biến
động đó vẫn mỗi việc có mỗi đạo lý rất rõ ràng.
Trên dưới, trước sau, sắp đặt thảy có thứ tự. Dịch chẳng bao giờ sắp bày hỗn loạn, thế là
ngôn thiên
hạ chi chí động, nhi bất khả loạn dã.

Tòng lai, việc trong thiên hạ, hễ nói đến việc rất tạp loạn thường xui cho người ta sinh chán ghét, duy
Dịch thời nói
chí trách nhi bất khả ố. Hễ những việc rất biến động, thời thường khiến người ta phải
rối lộn, duy Dịch thời nói
chí động nhi bất khả loạn.
Dịch từ tinh diệu đến như thế, chúng ta học Dịch thời nên thế nào? Thời nên như ba câu ở tiết dưới.


TIẾT THỨ TƯ


Nghỉ chi nhi hậu ngôn, nghị chi nhi hậu động, nghỉ nghị dĩ thành kì biến hóa.
擬之而後 言,議之而後動, 擬議以成其變化.
Chúng ta học Dịch đã thấy được Lời Dịch nói, thời hễ một lời nói của chúng ta tất trước phải cân nhắc
ở lời Dịch mà sau sẽ nói, thời lời mình nói không sai với Dịch lý.
Chúng ta thấy được hào động của Dịch, thời trước khi ta toan động làm việc phải bàn bạc nghiên cứu
về cách động của Dịch mà sau sẽ động, thời việc mình động không sai với Dịch lý.
Nghĩ nghị như thế, nhất ngôn mà tất có nghĩ bằng Dịch, nhất động mà tất có nghị bằng Dịch, là cốt để
cho thành những công việc biến hóa của đời mình (chữ
nghĩ: so sánh; chữ nghị: bàn xét).
Tổng chi là bắt chước theo Dịch. Chữ biến hóa ở mấy chương trên là biến hóa thuộc về phần Dịch.
Chữ biến hóa ở đây, là biến hóa thuộc về phần ở người học Dịch. Vậy nên trích cử ra lệ bảy hào như
sau này.


TIẾT THỨ NĂM


Cửu Nhị quẻ Trung Phu đã phụ trên hào từ rồi. Duy Cửu Ngũ quẻ Đồng Nhân dịch riêng ra đây, để cho
hiểu một cách nghĩ nghị là như thế.


TIẾT THỨ SÁU


Đồng nhân, tiên hào đào nhi hậu tiếu. Tử viết: Quân tử chi đạo, hoặc xuất, hoặc xử, hoặc mặc, hoặc
ngữ, nhị nhân đồng tâm, kì lợi đoạn kim, đồng tâm chi ngôn, kì xú như lan.
同人, 先號咷而後笑. 子曰: 君子之道, 或出, 或處, 或默, 或語. 二人同心, 其利斷金, 同心之言,
其臭如籣.
Nguyên Cửu Ngũ quẻ Đồng Nhân, hào từ nói rằng:
Đồng nhân, tiên hào đào nhi hậu tiếu.
Nguyên nghĩa là chỉ Cửu Ngũ với Lục Nhị trước bị trở cách mà sau lại ngộ hợp. Nhưng ở đây Đức
Khổng thích nghĩa lại lấy một nghĩa khác mà nói rằng: Cũng là đạo quân tử thảy, nhưng đạo lại cốt ở
nơi tâm, mà không cần ở nơi tích. Tâm là tinh thần, mà tích là hình thức, tích đồng mà tâm dị, thế
không phải là đạo quân tử; tích dị mà tâm đồng mới là đạo quân tử. Vậy nên có kẻ ra làm việc đời, có
kẻ ở an một chốn, có kẻ nín lặng mà làm thinh, cố kẻ chuông mõ cảnh tỉnh người.
Theo phần hình thức mà nói thời xuất với xử, mặc với ngữ, văn thảy khác nhau, nhưng cách khác nhau
đó chỉ vì thì với vị có khác nhau mà thôi, còn đến như tâm sự của hai người in như nhau một hệt. Nêu
đổi thay thì với vị của hai người, thời người kia tất cũng như người này, bởi vì hai người vẫn đồng một
lòng.
Lòng đã đồng rồi, thời xuất, xử, mặc, ngữ khác nhau mặc dầu, nhưng lợi ích về đồng tâm mà được đó,
kiên quyết không biết đến chừng nào, dầu có cả đoạn sắt chen ngăn cũng có thể cắt đứt được, vả lại,

những lời lẽ của người đồng tâm nhả ra mùi thơm tho đậm đà, thấm thìa, dầu như bông lan cũng chỉ thế
mà thôi.
Đoạn kim, xú lan là nói hiệu quả của đồng tâm. Đồng tâm là lợi khí rất gớm ghê, dầu sự thế đến thế
nào cũng không có thể ngăn đón được mà lại mùi lời nói của người đồng tâm chẳng ngọt ngào mà
không bao giờ chán, chẳng não nùng mà người càng say. Nếu thiệt như thế, lẽ nào có trước hào đào mà
sau mới tiếu rư?
Thích nghĩa hào như hệ từ đây là kì diệu tuyệt, hào từ chỉ có chữ hào đào, chữ tiếu, tình hình có khác
nhau. Thánh nhân nhân đó mà phát sinh ra nghĩa xuất, xử, mặc, ngữ khác nhau, quy kết lấy đồng tâm để
giải thích chữ đồng nhân, khiến cho chúng ta biết: Muốn làm sự nghiệp đồng tâm, nếu chỉ việc đồng
mà tâm bất đồng thời sự nghiệp đồng nhân chẳng bao giờ tới, e chỉ nghe hào đào mà không bao giờ
tiếu.
Thánh nhân học Dịch theo lời cũ mà phát minh nghĩa mới là như thế. Nếu chúng ta chỉ keo gắn vào mặt
chữ mà không nảy ra được nghĩa mới, thời không phải là óc học Dịch.
Còn năm hào Sơ Lục quẻ Đại Quá, cửu tam quẻ Khiêm, Thượng Cửu quẻ Càn, Sơ Cửu quẻ Tiết, Lục
Tam quẻ Giải thảy đã phụ dịch vào trên Kinh văn rồi.

CHƯƠNG THỨ CHÍN
(Khuyết)


CHƯƠNG THỨ MƯỜI
(Lược dịch hai tiết)


TIẾT THỨ NĂM


Phù Dịch, thánh nhân chi sở dĩ cực thâm nhi nghiên cơ dã.
夫易, 聖人之所以極深而研幾也.


TIẾT THỨ SÁU


Duy thâm dã, cố năng thông thiên hạ chi chí; duy cơ dã, cố năng thành thiên hạ chi vụ; duy thần dã, cố
bất tật nhi tốc, bất hành nhi chí.
唯深也, 故能通天下之志; 唯幾也, 故能成天下之務; 唯神也, 故不疾而速, 不行而至.
Hai tiết này tổng cộng bốn câu dài, nhưng cốt yếu chỉ có hai chữ
thâm cơ, nên nói rằng: Dịch là để
làm gì? Là một thứ tài liệu của thánh nhân sở dĩ cực thâm mà nghiên cơ (
thâm là diệu lý rất sâu kín,
phản đối với chữ
thiển).
Đạo lý trong thiên hạ có tinh, có thô, hễ tinh thời thâm, hễ thô thời thiển. Nêu không cực đến thâm mà
chỉ xem ở nơi thô thiển, thời nhân tình thế thái, hiếm hóc hơn sơn xuyên, biển huyện hơn mây gió, chỉ
những thô thiển, làm sao thấu được tình ý của thiên hạ rư? Vậy nên nói rằng:
Duy thâm dã, cố năng
thông thiên hạ chi chí
. Thánh nhân có khi chân không ra khỏi cửa, ngẫm nghĩ trong một phút đồng hồ
mà thông thấu hết cả tình trạng của nhân gian, khai thông được việc bế tắc cho thiên hạ, chỉ vì cực
thâm mà thôi.
Chúng ta xem câu ấy thời biết được những hạng người thô thiển, chẳng làm sao thông được chí của
thiên hạ. Đó là nói về phần cực thâm.
Đây lại nói về phần nghiên cơ, việc ở trong thiên hạ mênh mông như bể, tán loạn như mù, nhưng mà
đắc, thất, cát, hung, mỗi một việc gì tất có một trẩm triệu của việc ấy, khi đắc, thất, cát, hung chưa dò
ra mối, thời trẩm triệu lại rất lờ mờ, đó là gọi bằng cơ.
Nghiên cho ra được cơ, thời đắc, thất, cát, hung có thể biết trước. Đâ biết trước, thời việc gì cát với
đắc thời ta làm, việc gì hung với thất thời ta tránh. Như thế, thời việc thiên hạ có gì thất bại nữa rư?
Nên nói rằng:
Duy cơ dã, cố năng thành thiên hạ chi vụ.
Bởi vì, khi cơ hoạ chưa lộ, mà ta đã ngừa trước, cơ phúc chưa trình, mà ta đã rước trước, thành được
vụ của thiên hạ chính là hiệu quả của hai chữ
nghiên cơ.
Chúng ta xem câu ấy thời biết được: Muốn làm một việc gì mà chờ đến lúc việc đã thấy rồi, thời việc
đó chắc không thành.
Vậy nên,
Cực thâm nghiên cơ thực là diệu dụng của thánh nhân mà cũng là diệu dụng của Dịch
Nhưng Dịch vì sao mà được như thế? Bởi vì Dịch là thần, duy có thần mới biến hoá bất trắc, duy có
thần mới tác dụng vô cùng. Vậy nên, không thấy vội vàng, hấp tấp mà tự nhiên lanh chóng, không chờ
bôn tẩu rối ren mà tự nhiên đến nơi. Nên lại nói tóm một câu rằng:
Duy thần giả, cố bất tật nhi tốc,
bất hành nhi chí.
Tật nghĩa là gấp nóng, lẽ thường vẫn có tật mới tốc, bây giờ lại nói rằng: Bất tật nhi

tốc.
Tòng lai, sở dĩ tật, vì tại dục tốc, nhưng dục tốc thời lại bất đạt, thánh nhân hiểu như thế, mà chúng ta
cũng nhiều người hiểu như thế. Nhưng mà lỗi vì tật mà sinh ra chậm là tại sao? Là vì tại chúng ta
không cực được thâm, không nghiên được cơ, nên vội vàng lụp chụp, đến nỗi ngộ sự thất thì, càng
muốn chóng, càng sinh ra chậm trễ; duy thánh nhân cực được thâm, nghiên được cơ nên thung dung mà
ứng được cơ hội, lặng lẽ mà tìm được mối manh, tự mắt người thường xem thời chỉ thấy bất tật, nhưng
càng bất tật bao nhiêu thời lại tốc bấy nhiêu, đúng với thì giờ, nhằm với trình độ. Nếu những việc
người khác tích lũy năm tháng mà không xong, thánh nhân chỉ trong một giây phút mà kiến hiệu. Đó
chẳng phải là bất tật nhi tốc hay sao.
Đã bất tật nhi tốc như thế, thời có khi một tờ giấy bay ra mà sấm vang bốn bể, một câu nói truyền
xuống mà hưởng ứng khắp vạn phương, cần gì mình phải thân đi mà sau tới nơi rư? Đó lại là
bất hành
nhi chí.
Được như ba câu trên ấy, mới gọi bằng thần. Thần là bản thể, thâm cơ là tác dụng, cực thâm nghiên cơ
là đạo nhân, thông chí, thành vụ là kết quả.
Bất tận nhi tốc, bất thành nhi chí là chứng minh diệu dụng của thần. Chữ thần đây là chỉ vào Dịch
với thánh nhân, không phải thần là quỷ thần.

CHƯƠNG THỨ MƯỜI MỘT
(Lược dịch ba tiết: 1, 2, 4)


TIẾT THỨ NHẤT


Tử viết: Phù Dịch, hà vi giả dã? Phù Dịch, khai vật thành vụ, mạo thiên hạ chi đạo, như tư nhi dỉ giả
dã.
子曰: 夫易, 何爲者也? 夫易, 开物成務, 冒天下之道, 如斯而巳者也.
Sơ dĩ có ra Dịch là để làm gì đó rư. Ồi! sở dĩ có ra Dịch, là cốt mở mang trí chí cho loài người tạo
thành muôn việc cho thiên hạ, trùm bọc hết đạo lý trong thiên hạ, chỉ có như thế mà thôi.
Tiết này chú trọng bốn chữ
khai vật thành vụ, thế nào là khai vật thành vụ?
Đương lúc dân trí còn mong mỏi, dân chí còn uất tác, thánh nhân đem Dịch lý mà khải phát được trí
dân, khai thông được chí dân. Thế là khai được vật rồi.
Dịch lý chẳng những khai vật mà thôi, dân trí đã khai thời đưa vào đường lợi dụng hậu sinh càng ngày
càng thấy phát đạt. Dân chí đã thông thời gặp những việc đỉnh tân cách cố, đụng đâu cũng thấy hanh
thông, tất thảy những “vụ” ở trong thiên hạ, chẳng việc gì chẳng thành tựu. Đạo ở trong thiên hạ cũng
chỉ quy nạp vào trong Dịch lý mà thôi, nên nói rằng:
Mạo thiên hạ chi đạo.


TIẾT THỨ HAI


Thánh nhân dĩ thử tẩy tâm, thối tàng ư mật; cát hung dữ dân đồng hoạn, thần dĩ tri lai, tri dĩ tàng vãng,
kì thục năng dữ ư thử tai. Cổ chi thông minh duệ tri, thần võ nhi bất sát giả phù.
聖人以此洗心, 退藏於密; 吉凶譽民同患, 神以知来, 知以藏往, 其孰能與於此哉. 古之聰明 叡
, 神武而不殺者夫.
Tiêt này tiếp lấy tiết trên mà nói, vì tinh lý của Dịch sâu xa như thế, diệu dụng của Dịch rộng lớn như
thế, thánh nhân nhân đó mà vận dụng lấy Dịch.
Đương khi vô sự mà tĩnh, thời mượn Dịch lý mà rửa bụi gợn trong lòng, nấp dấu những đạo lý hay ở
chốn sâu kín. Đụng đến khi hữu sự mà động, thời việc gì cát nên xu, thánh nhân dắt cho thiên hạ xu, mà
thánh nhân dữ thiên hạ đổng kì lạc; việc gì hung nên tỵ, thánh nhân chỉ cho thiên hạ tỵ, mà thánh nhân
dữ thiên hạ đồng kì ưu. Như thế là
cát hung dữ dân đồng hoạn. Thánh nhân sở dĩ làm được như thế,
há phải quyền mưu, thuật số như những người tiểu trí tự ý đâu? Chỉ vì có đức thần minh mà biết được
mọi việc ở tương lai. Lại vì có óc lại trí mà dấu sẵn những gương ở dĩ vãng. Tri được lai thời những
việc chưa tới mà tính trước, đã tinh tường rành rõi; tàng được vãng, thời việc đã qua, mà biến thông
càng hợp lẽ. Đủ tất thảy toàn năng, đại dụng như thế, xưa nay có ai làm được rư? Chắc có một bậc
người ở đời xưa, có đức thông mà nghe gì cũng tỏ, có đức minh mà thấy gì cũng tinh, có đức duệ trí
mà soi xét gì cũng tới nơi. Lại có đức đại dụng, dùng uy võ bằng một cách thần diệu mà chẳng cần
phải giết người. Có bậc người như thế, mới là thánh nhân mà Dịch, Dịch mà thánh nhân đó chứ.
Tiết này tinh diệu nhất là bốn chữ
thần võ bất sát. Rằng thần võ, thời dụng mà chẳng phải là đua việc
chiến tranh, rằng bất sát thời nhân, nhưng chẳng phải là nhân nhu cô tức. Bởi vì, tuy dùng việc võ mà
chỉ thấy là nhân ân, như vua Thang đem quân đánh Kiệt, mà dân nước Hạ xem bằng trời đại hạn mà
gặp trận mưa phải thì, như thế, là việc võ của thần chẳng phải việc võ của người vậy.

Sở dĩ bất sát là vì dùng nhân nghĩa mà làm uy hình, dầu có giết một người mà ức muôn người được
sống. Như lời vua Thuấn có câu:
Hình, kì vu vô hình , 其于旡刑, nghĩa là tuy thủ đoạn có lúc dụng
hình nhưng mà mục đích thời cốt ở không dụng hình.
Ở trong lúc sát nhân mà chỉ thấy tâm lý sinh nhân mà thôi, nên gọi bằng
thần võ nhi bất sát.
Chúng ta nhân bốn chữ ấy mà suy rộng ra mọi việc, tỉ như làm quan mà không phải mục đích cầu danh,
học Phật mà không cần đến kinh kệ, chính trị mà không cần đến pháp luật, học thuật mà không cần đến
từ chương, v.v. thảy là có ý
thần võ nhi bất sát.


TIẾT THỨ TƯ


Cáp hộ vị chi Khôn, tịch hộ vị chi Càn, nhất cáp nhất tịch vị chi biến, vãng lai bất cùng vị chi thông,
hiện nãi vị chi tượng, hình nải vị chi khí, chế nhi dụng chi vị chi pháp, lị dụng xuất nhập, dân hàm dụng
chi vi chi thần.
闔戶謂之坤, 闢戶謂之乾, 一闔一闢謂之變, 往來不窮謂之通, 見乃謂之象, 形乃謂之器, 制而用
之謂之法
, 利用出入, 民咸用之謂之神.
Nguyên lý ở trong vũ trụ, từ vô thỉ đến vô chung, chỉ có nhất âm, nhất dương mà gọi bằng đạo, trước
kia
Truyện đã có câu: Nhất âm, nhất dương chi vị đạo.
Nhất âm là gì? Là Khôn đạo. Khi đạo Khôn dụng sự, thời vạn vật tất thảy hấp lấy khí âm mà thu liễm
thối tàng, tượng như cái cửa mà đương lúc đóng khép, tất thảy muôn vật vào trong khí âm, nên gọi
bằng Khôn.
Nhất dương là gì? Là Càn đạo. Khi đạo Càn dụng sự, thời vạn vật tất thảy hô được khí dương, mà phát
sinh hoạt động, tượng như cái cửa mà đương lúc mở ra, tất thảy muôn vật ra giữa khí dương. Thế là
gọi bằng Càn.
Vì khí âm mà có khi khép, vì khí dương mà có khi mở; một đường vừa khép, mà một đường liền mở
ngay; một phía vừa mở mà một phía liền khép lại; khép khép, mở mở thay đổi nhau hoài hoài, thế là
gọi bằng biến.
Nhất cáp vừa vãng liền có nhất tịch lai, nhất tịch vừa vãng liền có nhất cáp lai; vãng vãng, lai lai
chẳng bao giờ cùng tận, thời gọi bằng thông.
Lẽ biến thông như trên ấy, khi đã tỏ rõ ra ở nơi sự vật, chúng ta có thể phảng phất tưởng tượng mà thấy
được. Thế là gọi bằng tượng.
Sau khi đã thấy được tượng rồi, mô phỏng ở nơi tượng mà mỗi tượng nào thành mỗi hình ấy, dụng tròn
mà nên tròn, dụng vuông mà nên vuông, cho đến dài, vắn, lớn, nhỏ, rộng, hẹp, cao, thấp, tất thảy mỗi
hình thành mỗi đồ thức, bây giờ mới gọi bằng khí.
Khí chính là những giống hình nhi hạ, cũng có thể gọi là vật chất. Thánh nhân có óc khai vật thành vụ,
mới chế tạo những khuôn mẫu của khí ấy mà làm đồ dùng cho người ta, ấy gọi bằng pháp.
Nhân tượng mà nảy ra khí, lại tùy khí mà thành ra pháp, khi đã có khí, có pháp rồi, tất nhiên tiện lợi
cho người ta dùng ở khi ra, khi vào. Nhưng những loài khí dụng đó, há phải của riêng gì mỗi người
một nhà đâu, thiệt là khí dụng chung của toàn loài người, mà tất thảy nhân dân, ai ai cũng dùng được
nó, dầu không cánh mà bay khắp bốn phương, dầu không chân mà chạy khắp thiên hạ, khí dụng vạn
năng đến như thế, mới gọi bằng thần.
Tiết này khởi thủ hai chữ Càn, Khôn, quy kết lấy một chữ thần. Càn, Khôn là nguyên thỉ của thần, thần
là diệu dụng của Càn, Khôn. Vì có Càn, Khôn mà nảy ra cáp tịch. Vì cáp tịch mà nảy ra có biến thông;
vì biến thông mà thấy được tượng hình; vì có tượng hình mà tạo ra được khí pháp; đã có khí pháp mới

kết quả được lị dụng xuất nhập dân hàm dụng chi.
Đã 1ị dụng xuất nhập, mà lại dân hàm dụng chi mới thiệt là thần thánh đạt ở cực điểm.
Xem như khoa học ở ngày nay, tiềm đĩnh đi được ở dưới bể, phi thuyền bay được ở trên trời, luân
thuyền khí xa dạo khắp cả thủy lục ở trên địa cầu, lị dụng xuất nhập chẳng gì rõ ràng hơn thế, bảo họ là
thần thánh e cũng không phải quá đáng. Nhưng chỉ tiếc vì những khí dụng đó chỉ là làm lị ích cho đại
tư bản, mà chưa bao giờ thấy được dàn hàm dụng chi, công dụng chữ thần té ra quá chật hẹp, trái với
chữ thần ơ trong Dịch lắm.

CHƯƠNG THỨ MƯỜI HAI
(Chương này năm tiết khuyết, chỉ lược dịch hai tiết)


TIẾT THỨ TƯ


Hình nhi thượng giả, vị chi đạo; hình nhi hạ giả, vị chi khí; hóa nhi tài chi, vị chi biến; thôi nhi hành
chi, vị chi thông; cử nhi thố chi thiên hạ chi dân, vị chi sự nghiệp.
形而上者, 謂之道; 形而下者, 謂之器; 化而裁之, 謂之變; 推而行之, 謂之通; 擧而措之天下之
, 謂之事業.
Tiết này chia làm năm câu dài, nói tóm lại chỉ có năm chữ:
Đạo, khí, biến, thông, sự nghiệp.
Chữ đạo, chữ khí thuộc về phần tự nhiên; chữ biến, chữ thông thuộc về phần đương nhiên.
Nhân ở tự nhiên mà nảy ra đương nhiên, thời gọi hằng sự nghiệp.
Nguyên thuộc về phần tự nhiên, vẫn không lấy gì phân biệt được. Nhưng ở trong nhất lý mà phải phân
biệt ra hai danh: cái lý hình nhi thượng thời gọi bằng đạo, công dụng hình nhi hạ thời gọi bằng khí.
Đặt ra tên kêu thời đạo với khí vẫn có khác nhau, nhưng trùm bọc vào trong một chữ hình thời lại in
như nhau, sở dĩ khác nhau vì chữ thượng, chữ hạ, nghĩa là: Tự khi đã có hình mà trở lên mãi, thời gọi
bằng đạo; tự khi đã có hình mà trở xuống mãi, thời gọi bằng khí. Nói cho đúng, đạo là lý vô hình [còn
khí] là vật hữu tượng, sở dĩ phân biệt nhau, là ở trước khi vô hình, có thể gọi bằng tiên thiên, tức là
đạo, ở sau khi hữu hình, có thể gọi bằng hậu thiên, tức là khí.
Thuộc về phần đạo, vẫn không hình tích gì thấy được, nên nói rằng: Hình nhi thượng giả vị chi đạo.
Thuộc về phần khí, thời đã có hình tích mà trông thấy rõ ràng, nên nói rằng: Hình như hạ giả vị chi khí.
Nhưng nói tóm lại, nhị danh mà gốc vẫn nhất lý, có đạo mới đẻ ra khí, có khí mới chứng được đạo,
Thí dụ vào thân người ta, tai biết nghe, mắt biết thấy, miệng biết nói, đó là khí, mà thuộc về sau khi
hữu hình rồi. Nhưng tai vì sao mà hay nghe, mắt vì sao mà hay thấy, miệng vì sao mà hay nói. Tất có
lý sở dĩ hay nghe, hay thấy, hay nói, lý sở dĩ đó mà không sao mô tả được. Đó chinh là đạo mà đẻ ra
khí. Vô luận việc gì vật gì tất trước có cái đạo, mà sau sinh ra vật ấy, việc ấy.
Nhưng đạo không phải là vật chết, cũng không phải giống nằm trơ hoài. Vì thế mà phải có danh bằng
biến. Biến là làm sao? Là nhân ở đạo tự nhiên, tùy mỗi việc mỗi vật chế hóa mà cắt xén cho nó, khiến
cho thành sắc, thành hình, thành các công dụng; đó gọi bằng biến. Nên nói rằng:
Hóa nhi tài chi, vị chi
biến.
Tỉ như chung một khí đó, nhưng có lúc phải đổi cũ làm mới, có lúc khuôn vuông phải làm ra tròn, ấy
tức là biến, mà biến đó, chính là tác dụng của đạo.
Nhưng mà tác dụng của đạo chẳng phải một lần biến mà rồi.
Lại thường nhân một việc này mà suy cho đến tất thảy việc khác; nhân một vật này mà suy cho đến tất
thảy vật khác, khiến cho việc nào việc nấy cũng trơn chảy, vật nào vật nấy cũng hoàn thành; kết quả
thời sự sự vật vật thảy là công dụng của đạo hữu hành khắp nơi, đó là
suy nhi hành chi, vị chi thông.
Chữ suy dính với chữ hóa, chữ hành dính với chữ tài, chữ thông dính với chữ biến; chữ biến là thủ
đoạn, chữ thông là công hiệu. Muốn thông phải biến, có biến mới thông, mà rặt là tác dụng ở trong
đạo.
Tỉ như: Hành ở nhất thân, suy ra đến nhất gia; hành ở nhất gia, lại suy đến nhất quốc; hành ở nhất quốc,
lại suy rộng đến cả thiên hạ.
Khi đã suy rộng ra đến cả thiên hạ rồi, lại mới có danh bằng sự nghiệp. Nhưng mà sự nghiệp đó, há

phải vay mượn ở ngoài đạo đâu, chẳng qua lấy ở đạo mà biến thông như trước kia, cất mà đặt vào
người thiên hạ. Thế thời gọi bằng sự nghiệp mà thôi. Nên lại nói rằng:
cử nhi thố chi thiên hạ chi
dân, vị chi sự nghiệp.
Nói tóm lại, đạo là mẹ đẻ của sự nghiệp, sự nghiệp là con của đạo, nếu có đạo mà không phát triển
làm sự nghiệp, thời đạo đó là đạo chết. Có sự nghiệp mà không căn bản ở đạo, thời sự nghiệp đó là sự
nghiệp giả. Còn như nghĩa hai chữ
sự nghiệp, thời một giống mà vẫn có trước sau; nghiệp chưa hoàn
thành thời gọi bằng
sự; sự đã kết thúc thời gọi bằng nghiệp.


TIẾT THỨ BẢY


Hóa nhi tài chi, tồn hồ biến; thôi nhi hành chi, tồn hồ thông; thần nhi minh chi, tồn hồ kì nhân; mặc nhi
thành chi, bất ngôn nhi tín, tồn hồ đức hạnh.
化而裁之, 存乎變; 推而行之, 存乎通; 神而明之, 存乎其人; 默而成之, 不言而信, 存乎德行.
Trên đã nói diệu dụng của đạo, nhưng sở dĩ thấy được diệu dụng thời cốt ở biến thông; mà sở dĩ biến,
sở dĩ thông, vì sao mà biết được, vì xem ở nơi công việc làm nên biến thông. Vì hay hóa nhi tài chi,
nên cách biến mới vô tận, vì hay suy nhi hành chi, nên cách thông mới bất cùng, nên lại nói tráo lại hai
câu rằng. Lấy chữ
tồn hồ đổi hai chữ vị chi, nghĩa là cách biến thông tùy đạo Dịch mà còn mãi mãi
vậy.
Tuy nhiên diệu dụng của đạo vẫn hay như thế, do ở đạo mà đẻ ra khí, nhân có khí mà hay biến thông,
nhân biến thông mà có sự nghiệp. Thế là rất toàn, dụng rất lớn.
Nhưng há phải cậy công ở quái, hào, mượn sức ở từ, tượng mà được đâu. Sách không thể chép hết
được lời, lời không thể miêu tả hết được ý, làm sao mà thấy được diệu dụng của Dịch đạo rư?
Than ôi! Đạo tất phải gửi ở người, nên lại có người mới gánh được đạo. Nếu chỉ câu nệ ở nét vạch,
phụ họa ở nơi lời suông, thời Dịch lý chỉ ở nơi bộ sách, lấy đâu mà làm được biến thông cử thế nữa
rư? Nên lại nói rằng:
Thần nhi minh chi, tồn hồ kì nhân, nghĩa là: Thiêng liêng mà sáng tỏ được đạo
ấy cốt nhờ ở người.
Người đó là ai? Là người có đức hạnh. Đức hạnh thời nên như thế nào? Tinh thành thông với trời đất,
nhân tri hợp với thánh hiền, bắt chước được Càn mà dị tri, bắt chước được Khôn mà giản năng. Đức
chứa ở trong lòng, mà không thấy được hình tích động tác.
Hạnh tu ở bản thân, mà không cần ở miệng lưỡi phô bày, im lặng mà thấy nên, chẳng nói mà người tin,
đức hạnh được như thế, chính là hạng người thần nhi minh chi đó vậy.
Chương này là chương mười hai, ở cuối cùng hệ từ Thượng Truyện, mà thánh nhân kết thúc lấy hai
câu:
Tồn hồ kì nhân, tồn hồ đức hạnh.
Xem đó thời chúng ta muốn làm sự nghiệp Dịch, há phải đọc hết sáu mươi tư quẻ, xem hết lời Thượng,
Hạ nhị Kinh, mà làm nổi công việc dụng Dịch hay sao?
Thầy Dương Thành Trai có nói rằng: Dịch có ba thứ: một là Dịch ở trời, hai là Dịch ở vở, ba là Dịch
ở người.
Thiên tôn địa ty, Càn, Khôn định hĩ, đó là Dịch ở trời.
Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý, đó là Dịch ở vở.
Tồn hồ kì nhẩn, tồn hồ đức hạnh, đó là Dịch ở người.
Chúng ta nếu tấn đức tu nghiệp được như Càn, hậu đức tái vật được như Khôn, thiện thiện cải quá
được như Ích, trừng phận trất dục được như Tổn, tất có ngày bước tới địa vị thánh nhân.
Lúc bây giờ
mặc nhi thành chi, bất ngôn nhi tín, thời Dịch ở người tức là Dịch ở trời, mà Dịch ở trời
tức là Dịch ở người. Những sự nghiệp đó chẳng cần phải tìm đến Dịch ở vở. Ý thánh nhân lấy hai câu

trên ấy, kết thúc Hệ Từ Thượng Truyện là hy vọng với người học Dịch biết chừng nào!

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!