HỆ TỪ THƯỢNG TRUYỆN (P1)

HỆ TỪ THƯỢNG TRUYỆN (P1)


Chúng ta đọc Hệ Từ Thượng Hạ Truyện, trước hết phải biết hai danh nghĩa:
– Nghĩa chữ Hệ Từ.
– Nghĩa chữ Truyện.
Nguyên Kinh văn là lời của Văn Vương, Chu Công, dính ở dưới mỗi quẻ mỗi hào, nên gọi bằng Hệ
Từ.
Đến như thiên này là văn từ riêng của Khổng Tử, bàn tóm hết đại thể phàm lệ của toàn Kinh, nhưng
không thể phụ vào ở dưới mỗi quẻ mỗi hào được, nên đặt riêng ra làm một bản mà gọi bằng Truyện,
Truyện là để chú thích ý nghĩa của Kinh.
Truyện lại chia ra hai thiên, gọi bằng Thượng Truyện, Hạ Truyện.
Từ đây sắp xuống là chính văn của Truyện.


CHƯƠNG THỨ NHẤT
(Chương này chia ra làm tám tiết)


TIẾT THỨ NHẤT


Thiên tôn, địa ti, Càn, Khôn định hĩ; ti cao dĩ trần, quý tiện vị hĩ; động tĩnh hữu thường, cương nhu
đoán hĩ; phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân, cát hung sinh hĩ; tại thiên thành tượng, tại địa thành hình,
biến hóa hiện hĩ.
天尊地卑, 乾坤定矣; 卑高以陳, 贵賤位矣; 動静有常, 剛柔斷矣; 方以纇聚, 物以羣分, 吉凶生
矣; 在天成象, 在地成形, 變化見矣.
Tiết này chia làm năm câu dài. Càn, Khôn là quẻ thuần dương, thuần âm trong Dịch. Nhưng tất thảy
quái, hào thảy từ nhất âm, nhất dương đẻ ra, nên chỉ nói Càn, Khôn đã bao bọc hết thảy.
Mà sở dĩ vạch ra được Càn, Khôn đó thời xem vào đâu? Chỉ xem ở tượng trời cao đất thấp, mà Càn,
Khôn định rồi, thấy trời cao thời định được Càn, thấy đất thấp thời định được Khôn.
Thiên địa là Càn, Khôn ở giữa không gian. Càn, Khôn lại là thiên địa ở trong Dịch lý, vì theo ở mắt
người ta mà trông vào thiên địa, thấy được ti cao đã bày được rõ ràng, mà tự nhiên vị trí thuộc về quái
hào; thượng thời quý, hạ thời tiện; dương thời quý, âm thời tiện, cũng bày đặt được ngay.
Xem lên trời mà biết tính dương thường hay động, xem xuống đất mà biết tính âm thường hay tĩnh.
Nhân dương động mà sinh ra hào cương, nhân âm tĩnh mà sinh ra hào nhu, hào có cương, nhu mà quẻ
cũng có cương nhu, nhân ở nơi tính chất động, tĩnh mà phân biệt đó vậy (chữ động, tĩnh ở đây chuyên
chỉ bằng đức tính).
Hễ mỗi việc tất có mỗi lý, vì lý có phải có trái, nên loài nào nhóm vào loài ấy, hễ mỗi vật tất có mỗi
hình, vì hình có khác nhau, nên bầy nào chia ra bầy ấy, tùy mỗi việc mà nhóm bằng loài, tùy mỗi vật
mà chia theo bầy, nhân đó mà lời cát lời hung trong Dịch nảy ra khác nhau. (
Phương nghĩa là việc,
cũng như chữ phương pháp.
Loại tụ nghĩa là nhiều việc chung vào một lý. Quần phân nghĩa là khác
vật mà chia ra mỗi bầy).
Vì xem ở trời mà thấy được nhật nguyệt tinh thần, v.v. thành ra vô số tượng. Vì xem ở đất mà thấy
được sơn xuyên động thực, v.v. thành ra vô số hình, nhân đó mà quái hào trong Dịch, âm biến ra
dương, dương hóa ra âm, cũng rõ ràng tất thảy.
Tượng hình là biến hóa bất trắc của thiên địa, biến hóa là tượng hình vô thường của Dịch lý.

Tiết thứ nhất, là nói thánh nhân làm Dịch không phải tự ý mình bày đặt ra, chỉ nhân lẽ tự nhiên của tạo
hóa mà vạch ra quái hào.
Ổng Trang Tử nói rằng:
Dịch dĩ đạo âm dương 易以導陰陽chính là nghĩa ấy.
Thích tóm lại, Càn, Khôn nhân ở thiên địa mà định ra, quý tiện nhân ở ty cao mà bày ra, cương nhu vì
có động tĩnh mà đoán được, cát hung vì phương vật mà đặt nên lời. Biến hóa vì tượng hình mà thành
nên dụng, thảy là nhân tự nhiên mà nảy ra đương nhiên, nên chúng ta chỉ xem ở không gian thời biết
được Dịch.


TIẾT THỨ HAI


Thị cố, cương nhu tương ma, bát quái tương đãng.
是故, 剛柔相摩八卦相盪.
Tiết này chia làm hai câu. Câu thứ nhất là nói lúc bắt đầu chưa vạch thành quẻ, chỉ có hai nét là vạch
cương nhu mà thôi.
Một trồng với một mà thành hai, hai trồng với hai mà thành bốn, bốn trồng với bốn mà thành ra tám, sở
dĩ thành ra bát quái chỉ là cương nhu xát nhau mà thôi.
(Ma nghĩa là xát, cũng có nghĩa là giao nhau, tượng như hai bàn tay nhập lại mà mài xát với nhau). Vì
cương nhu mài xát nhau mà thành ra được bát quái. Mỗi một quẻ ba nét thời gọi bằng quẻ Trinh, lại lấy
một quẻ Trinh đó mà lăn chuyển với nhau thành được tám quẻ Hối, nảy ra quẻ sáu nét, thành được sáu
mươi tư quẻ. Trông thấy sáu mươi tư quẻ, nhưng chỉ tám quẻ luân chuyển với nhau mà thành vậy
(Đãng nghĩa là luân chuyển).


TIẾT THỨ BA


Cổ chi dĩ lôi đình, nhuận chi dĩ phong vũ, nhật nguyệt vận hành, nhất hàn nhất thử.
鼓之以雷庭, 潤之以風雨日月運行一寒一暑.
Tiết này chia làm bốn câu, quái hào đã thành rồi, thời thấy được tạo hóa có những gì, tất ở trong Dịch
cũng có cả thảy: Chấn là lôi đình ở trong Dịch, Tốn là phong vũ ở trong Dịch, Khảm, Ly là nhật,
nguyệt, hàn, thử ở trong Dịch.
Cổ động cho muôn vật thời lấy sấm sét, nhuận thấm cho muôn vật thời lấy mưa gió. Mặt trời mặt trăng
xoay vần đi hoài, mà trong một năm thường có một tiết lạnh, một tiết nắng, thay đổi hoài hoài. Tiết này
biến hóa là thuộc về tại thiên thành tượng.


TIẾT THỨ TƯ


Càn đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ.
乾道成男, 坤道成女.
Vì có khí dương là đạo Càn, mà thành được tất thảy loài trai, vì có khí âm là đạo Khôn, mà thành
được tất thảy loài gái.
Chữ nam, nữ đây vẫn học nam là trai, nữ là gái, nhưng không phải nói riêng về loài người mà thôi.
Hễ nhất thiết thuộc về loài dương như con trống, con đực thảy gọi bằng nam, thảy là do Càn đạo mà

thành. Hễ nhất thiết thuộc về loài âm, như con mái con cái thảy gọi bằng nữ, thảy là do Khôn đạo mà
thành. Chẳng những động vật mà thôi, hễ nhất thiết vật trong vũ trụ, thảy căn bản ở Càn, Khôn mà thành
ra.
Nhưng lại phải biết ở trong nam vẫn có khí âm, mà ở trong nữ vẫn có khí dương, dương tàng ở trong
âm, âm phục ở trong dương, duy nam bẩm thụ về dương phần nhiều, nữ bẩm thụ về âm phần nhiều, khí
chất vẫn có khác nhau, nên thành hình cũng có khác nhau. Vì thế mà nói rằng: Càn đạo thành nam,
Khôn đạo thành nữ. Tiết này là nói biến hóa thành hình thuộc về Dịch lý.
Thích tóm lại, tiết thứ nhất là nói: Dịch lý trước khi chưa vạch quẻ thời tạo hóa vẫn đã sẵn có Dịch.
Thầy Thiệu có câu:
Hoạch tiền nguyên hữu Dịch 畫前原有易, nghĩa là trước khi vạch quẻ vẫn đã có
Dịch rồi, tức là ý nghĩa tiết thứ nhất. Tiêt thứ nhì sắp xuống là nói khi làm xong Dịch, thời trong Dịch
in như tạo hóa.


TIẾT THỨ NĂM


Càn tri thái thỉ, Khôn tác thành vật.
乾知太始, 坤作成物.
Tiết này tiếp tiết thứ tư mà nói luôn công dụng của Càn, Khôn. Tiết trên đã nói công dụng riêng của
Càn, Khôn, đây lại nói công dụng chung của Càn, Khôn. Hễ nhất thiết vật, giống gì cũng có cả âm,
dương, vậy sau mới sinh thành được. Nhưng lẽ thường của tạo hóa, công trời đất sinh vật chỉ là công
cha mẹ đẻ con, tất thảy dương trước, mà âm sau, dương trao cho âm đỡ, nên nói rằng:
Khôn tác thành
vật
.
Thái thỉ nghĩa là lúc đầu chưa thành hình; tri nghĩa là chủ tể trong việc ấy; thành vật là khi sau đă
ngưng kết thành hình;
tác nghĩa là làm cho xong việc ấy. Nghĩa chữ tri đây, khác với nghĩa chữ tri ở
mọi nơi, có ý như nghĩa chữ
chủ, như ta thường nói tri phủ, tri huyện cũng là nghĩa ấy.
Thầy Thiệu nói rằng: Dương không thể một mình làm thành được, tất chờ có âm mà sau mới thành. Vậy
nên dương phải lấy âm làm nền. Âm không thể tự mình mà hiển được, tất chờ có dương mà sau mới
hiển, nên âm cậy dương làm xướng
陽以陰爲基, 陰以陽爲倡. Dương làm chủ cho âm mà hiển được
thành công, âm bắt chước theo dương mà trọn được sự nghiệp.


TIẾT THỨ SÁU


Càn dĩ dị tri, Khôn dĩ giản năng.
乾以易知, 坤以簡能.
Trên ấy đă nói công dụng của Càn, Khôn. Đây lại nói đức tính của Càn, Khôn. Chữ
tri đây cũng nghĩa
như chữ
tri ở trên ấy; chữ năng đây cũng nghĩa như chữ tác ở trên ấy.
Càn vì có đức cương kiện mà lại động, nên lấy một cách để chóng mà tri được thái thỉ. Khôn vì có
đức nhu thuận mà lại trịch, nên lấy một cách giản đơn mà tác thành được vật.
Dị nghĩa là không tốn sức, bởi vì những việc nhọc đã có Khôn đỡ sức, Càn chỉ vận dụng vể phần khí.
Vậy nên dễ dàng nói đến dị tri. Giản nghĩa là không rối ren, bởi vì thác thỉ tạo đoan đã có Càn rồi,
Khôn chỉ thừa thuận mà làm. Vậy nên, không gì phiền nhiễu, nên nói rằng: Giản năng.


TIẾT THỨ BẢY

Dị, tắc dị tri, giản, tắc dị tòng; dị tri, tắc hữu thân, dị tòng tắc hữu công; hữu thân, tắc khả cửu, hữu
công tắc khả đại, khả cửu, tắc hiền nhân chi đức, khả đại, tắc hiền nhân chi nghiệp.
, 則易知, , 則易從; 易知, 則有親, 易從, 則有功; 有親, 則可久, 有功, 則可大; 可久, 則賢人
之德
, 可大, 則賢人之業.
Tiết này chia làm tám câu. Tiết trên là nói giản dị về phần Càn, Khôn, đây lại nói người ta nên bắt
chước lấy đạo Càn, Khôn. Bắt chước dị tri của Càn mà xử thế bằng cách bình dị, thời tâm mình minh
bạch mà người ta dễ biết, bắt chước giản năng của Khôn mà xử sự bằng cách giản tiện, thời mọi việc
lanh gọn, mà người ta dễ theo.
Chữ dị trên tương đối với chữ giản, chữ dị dưới phản đối với chữ nan. Vì có đức tính dị mà người dễ
biết, thời nhiều kẻ đồng tâm với mình, vậy nên có người thân. Vì có đức tính giản mà người dễ theo,
thời nhiều người hợp sức với mình, vậy nên có công việc. Vì đã hữu thân thời lòng mình, lòng người
chuyên nhất, mà việc làm được lâu dài. Vì đã hữu công thời thế lực phát triển đến ngoài mà làm nên
được việc lớn.
Hữu thỉ hữu chung mà khả cửu thời thành được đức của hiền nhân; tăng tiến hữu vi mà khả đại, thời
thành được nghiệp của hiền nhân.
Tiêt này toàn tám câu, mỗi một câu là nhân quả tương sinh: dị giản là nhân, dị tri, dị tòng là quả; hữu
thân, hữu công là kết quả của dị tri, dị tòng; khả cửu, khả đại là kết quả của hữu thân, hữu công.
Hiền nhân chi đức chi nghiệp, là tổng kết quả của mấy câu trên, mà tổng tạo nhân, thời chỉ có hai chữ
“giản dị”.
Dị là bát chước đức Càn kiện, giản là bắt chước đức Khôn thuận.


TIẾT THỨ TÁM


Dị giản, nhi thiên hạ chi lý đắc hĩ, thiên hạ chi lý đắc, nhi thành vị hồ kì trung hĩ.
易簡而天下之理得矣, 天下之理得, 而成位乎其中矣.
Tiết này tiếp lấy tiết trên mà nói rộng cho hết việc thánh nhân. Tiết trên đã nói việc hiền nhân; bây giờ
do việc hiền nhân mà tấn lên chính là đức “dị” phối hợp với Càn, đức “giản” phối hợp được Khôn; rất
mực dị mà chí thành bất tức, rất mực giản mà ứng vật vô tư. Thế là đạo lý trong thiên hạ đã hoàn toàn
tâm đắc rồi.
Đạo lý trong thiên hạ đã hoàn toàn tâm đắc, thế là thánh nhân tức thiên địa, thiên địa tức thánh nhân.
Lúc bây giờ thiên vị hồ thượng, địa vị hồ hạ, thánh nhân vị hồ trung.
Người đức cân ở giữa trời đất, mà trọn vẹn được đạo Tam Tài vậy.
Trên ấy là chương thứ nhất, tiết đầu hết là nói thực thể của tạo hóa; trung gian là nói thực thể của quái
hào, ba tiết sau là nói ở trong tâm người ta, có cả thiên địa với Dịch lý, trông cho người ta thể nghiệm
mà thực hành sẽ do hiền nhân mà làm đến thánh nhân. Thánh nhân sở dĩ tác Dịch là vì thế.
Chữ hiền nhân, thánh nhân ở đây là lấy câu Càn đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ mà nói chung cả
nam, nữ.


CHƯƠNG THỨ HAI
(Chương này chia làm bảy tiết)

TIẾT THỨ NHẤT


Thánh nhân thiết quái, quan tượng, hệ từ yên nhi minh cát hung.
聖人設卦, 觀象, 繫辭焉而明吉凶.
Tiết này nói về lời trong Kinh, thánh nhân đặt ra quẻ. Xem ở Tượng quẻ, ở dưới quái hào lại hệ vào từ
để cho tỏ rõ lẽ tốt, xấu.


TIẾT THỨ HAI


Cương nhu tương thôi, nhi sinh biến hóa.
剛柔相推, 而生變化.
Cương là dương, nhu là âm, âm dương đến khi vạch thành quái hào thời là hữu hình, nên thường
thường dời đẩy nhau, mà sinh ra biến hóa.


TIẾT THỨ BA


Thị cố, cát hung giả, đắc thất chi tượng dã; hối lẫn giả, ưu ngu chi tượng dã.
是故, 吉凶者, 得失之象也, 悔吝者, 憂虞之象也.
Vì quái hào có biến hóa mà hình hiện ra tượng. Vì hình hiện ra tượng, Dịch mới nhân đó mà nảy ra từ,
từ có
cát, hung là tượng thuộc về đắc, thất. Do có tượng đắc mà sinh ra cát, do có tượng thất mà sinh
ra hung. Từ lại có
hốì, lẫn là tượng thuộc về ưu ngu, ưu ngu tuy chưa đến nỗi hung, nhưng cũng chẳng
phải cát. Nếu biết hối thời chuyển hung làm cát, không biết hốì thời tất mắc lấy lẫn, lẫn thời cát xoay
ra hung.
Hai chữ
ưu ngu có hai nghĩa: ưu là lo lắng trong lòng; ngu là e né ở phía ngoài, ưu ngu là cơ quan
sinh ra hối lẫn, lại là cơ quan sinh ra cát hung, bốn chữ đó tuần hoàn đắp đổi nhau, vì lẫn rồi tất nhiên
hung, đă hung tất nhiên hốì, biết hốì lại xoay đến cát. Tiết này là dạy cho ta cách xem từ.


TIẾT THỨ TƯ


Biến hóa giả, tấn thối chi tượng dã, cương nhu giả, trú dạ chi tượng dã.
變化者, 進退之象也, 剛柔者, 晝夜之象也.
Nhu hóa ra cương, vì nhu thối cực mà tiến; cương biến ra nhu, vì cương tiến cực mà thối. Cương thuộc
về phần tích cực, nên nhu hóa làm cương là tiến lên; nhu thuộc về phần tiêu cực, nên cương biến ra nhu
là thối lùi. Nên nói rằng:
Biến hóa giả tấn thối chi tượng dã.
Cương nhu biến hóa ở Dịch lý thời chứng nghiệm vào đâu? Rất rõ ràng là chứng nghiệm vào ngày
đêm.
Về phần khí âm dụng sự, là nhu, là ban đêm, nhưng từ nửa đêm giờ Tý sắp đi, thời nhu hóa ra cương
mà thành ban ngày; về phần khí dương dụng sự, là cương là ban ngày, nhưng từ nửa ngày giờ Ngọ sắp
đi, thời cương biến ra nhu mà thành ban đêm. Vậy nên nói rằng:
Cương nhu giả trú dạ chi tượng dã.

TIẾT THỨ NĂM


Lục hào chi động, tam cực chi đạo dã.
六爻之動, 三極之道也.
Quẻ vạch đến sáu hào thời mỗi quẻ thành ra sáu vị, hai vị ở đoạn dưới là Sơ, Nhị vi địa; hai vị ở đoạn
giữa là Tam, Tứ vi nhân; hai vị ở đoạn trên là Ngũ, Thượng vi thiên.
Xem ở sáu hào, mà dủ biết lý Tam Tài (Thiên, Địa, Nhân).
Mỗi một tài đủ một lý thái cực. Cực nghĩa là rất mực, lý của Thiên, Địa, Nhân, đến đây mới rất mực,
nên gọi bằng cực.
Sáu hào động mà biến hóa đó, chính là đạo của Tam Cực vậy. Tam Cực nghĩa là chí lý của Tam Tài.


TIẾT THỨ SÁU


Thị cố, quân tử sở cư nhi an giả, dịch chi tự dã; sở lạc nhi ngoạn giả, hào chi từ dã.
是故, 君子所居而安者, 易之序也; 所樂而玩者, 爻之辭也.
Dịch chi tự nghĩa là quẻ ở trong Dịch rất có thứ tự.
Tỉ như: Thái qua Bĩ,, Bác qua Phục, v.v. Vì xem ở quẻ trong Dịch mà biết được việc đời thứ tự an bài
sẵn như thế. Quân tử sở dĩ tự xử mà an thích trong lòng.
Đến như hào từ thời cũng theo ở mỗi vị mà sắp ra thứ tự. Tỉ như sáu hào quẻ Càn
tiềm, hiện, dược,
phi
rất có tầng thứ, v.v. Quân tử sở dĩ xem lời mỗi hào mà lấy làm vui ở trong não, càng đọc càng
ngậm ngủi không chán.
Lạc, là vui vì lý, ngoạn, là say vì mùi.


TIẾT THỨ BẢY


Thị cố, quân tử cư tắc quan kì tượng nhi ngoạn kì từ, động tắc quan kì biến nhi ngoạn kì chiêm; thị dĩ
tự thiên hựu chi, cát vô bất 1ị.
是故, 君子居則觀其象而玩其辭, 動則觀其變而玩其占; 是以自天祐之, 吉旡不利.
Chữ
ở đây, với chữ cư ở trên nghĩa khác nhau. Chữ cư ở trên kiêm cả động tĩnh, chữ cư ở đây
tương đối với chữ
động.
Dịch có tượng với từ là dạy cho ta học cách ở khi tĩnh, biến với chiêm là dạy cho ta học cách ở khi
động.
Vậy nên, quân tử khi vô sự mà tĩnh thời xem ở tượng Dịch mà ngoại ở từ Dịch. Khi hữu sự mà toan
động thời xem biến hóa ở quái hào mà ngoạn lấy lời chiêm quyết ở quái hào.
Vì lúc cư hay quan tượng ngoại từ nên tấn đức tu nghiệp ở thì cư không bao giờ nghỉ. Vì lúc động hay
quan biến ngoạn chiêm nên tùy thì ứng biến ở khi động không việc gì lầm. Cư thời thuận với thiên lý,
động thời hợp với thiên tâm. Vì vậy, nên
tự thiên hữu chi, cát vô bất lị.
Ba tiết này nói những việc thuộc về quân tử học Dịch, đến như tiết thứ tư trở lên, chuyên nói về việc
thánh nhân tác Dịch.


CHƯƠNG THỨ BA

(Chương này chia ra làm năm tiết)


TIẾT THỨ NHẤT


Soán giả, ngôn hồ tượng giả dã; hào giả, ngôn hồ biến giả dã.
彖者, 言乎象者也; 爻者, 言乎變者也.
Soán là lời ở dưới quẻ mà vua Văn Vương làm ra cốt để chỉ rõ tình trạng của mọi quẻ.
Chữ tượng rất khó giải nghĩa, chỉ ý là phảng phất như thế. Vì Lí là vô hình, phải mượn tượng là hữu
hình, mà chứng minh cho dễ hiểu.
Lời Soán phải lấy tượng mà thích nghĩa, như quẻ Khôn – Tẩn mã, quẻ Ly – Tẩn ngưu, v.v. chỉ là hình
như giống ấy, mà kì thực không phải giống ấy. Nên xem tượng phải nhận cho ra lý ở ngoài tượng.
Phật gia có cách dạy bằng chỉ vật, truyền tâm, cũng là lí thủ tượng như
Kinh Dịch.
Hào từ là lời ở dưới hào mà ông Chu Công làm ra. Hào nghĩa là trao đổi, đủ cả ý giao dịch, biến dịch.
Vì âm, dương, cương, nhu có biến động luôn luôn, nên phải có hào từ mà chỉ bảo cho minh bạch (Chữ
biến đây kiêm cả nghĩa chữ hóa).


TIẾT THỨ HAI


Cát hung giả, ngôn hồ kì thất đắc dã; hối lẫn giả, ngôn hồ kì tiểu tì dã; vô cựu giả, thiện bổ quá dã.
吉凶者, 言乎其失得也; 悔吝者, 言乎其小疵也; 旡咎者, 善補過也;
Chữ “cát”, chữ “hung”, chữ “hối”, chữ “lẫn”, chữ “vô cựu” ở trong quái hào phần nhiều có những chữ
ấy. Bởi vì nhân sự có thất, có đắc; thất thời hung, đắc thời cát, nên cát hung là nói về kết quả của thất
đắc. Nhân sự còn đương khi cát hung chưa minh là những việc lầm lỗi nhỏ mà đã nấp cái cơ cát hay
hung, nên phải có lời “hối”, “lẫn”; “hối” là có cơ được cát, “lẫn” là có cơ đến hung; chữ “hốì”, “lẫn” là
nói những việc tì hà nhỏ đó vậy.
“Tiểu tì” nghĩa là vết nhỏ, cũng có nghĩa là điều lỗi nhỏ. Đến như điều lầm lỗi lớn thời gọi bằng “cựu”;
“cựu” tức là quá, biết cải quá thời tuy không được như người vô quá, nhưng mà đã chữa được lỗi rồi,
cũng tức là vô quá. Nên trong lời quái hào có chữ “vô cựu”; vô cựu là thiện bổ quá đó vậy (
bổ nghĩa
là vá;
quá nghĩa là lầm lỗi, biết vá chữa lại cho hoàn toàn thế là bổ quá).


TIẾT THỨ BA


Thị cố, liệt quý tiện giả, tồn hồ vị; tề tiểu đại giả, tồn hồ quái; biến cát hung dã, tồn hồ từ.
是故, 列貴賤者, 存乎位; 齊小大者, 存乎卦; 變吉凶者, 存乎辭.
Đạo trời quý dương, tiện âm nên ở trong vị sáu hào, dương hào, dương vị thời là quý, âm hào, âm vị
thời là tiện.
Vậy nên, bài liệt ra quý tiện, thời phải xem xét ở vị, dương đại mà âm tiểu, ở trong quái tượng có âm
dương, xem xét vào đó mà cân nhắc được tiểu đại. Đến như cát hung thời lấy gì mà phân biệt tất phải
xem ở quái từ, hào từ; từ tốt là cát, từ xấu là hung.
(Tề nghĩa là quyết định, tỉ như quẻ Thái là dương thịnh, thời nói rằng Đại lai, quẻ Bỉ là âm thịnh, thời
nói rằng
Tiểu lai. Đó tức là tề tiểu đại).

TIẾT THỨ TƯ


Ưu hối lẫn giả tồn hồ giới; chấn vô cựu giả, tồn hồ hối.
憂悔吝吝存乎介; 震旡咎者, 存乎悔.
Trên ấy đã nói rằng: Hối lẫn là tiểu tì, nhưng biết lấy hối lẫn làm lo, tất phải; những người có trí khôn
mà biết dự phòng ở lúc cát hung còn chưa rõ. Thế là ưu hối lẫn giả tồn hồ giới. Giới nghĩa là giới hạn,
là chốn ở trung gian thiện hay ác.
Trên ấy đã nói thiện bổ quá, tất nhờ ở nơi biết ăn năn mới biết vô cựu. Thế là chấn vô cựu giả, tồn hồ
giới. Chấn nghĩa là động, gặp việc lầm lỗi, mà có động cơ biết hốì gọi bằng chấn.


TIẾT THỨ NĂM


Thị cố, quái hữu tiểu đại, từ hữu hiểm dị, từ dã giả, các chỉ kì sở chi.
是故, 卦有小大, 辭有險易; 辭者也, 各指其所之.
Hễ quẻ ở trong Dịch thuộc về những quẻ dương trưởng âm tiêu, quân tử thịnh, tiểu nhân suy, ấy là quẻ
tốt, mà gọi bằng đại quái. Thuộc về những quẻ âm trưởng dương tiêu, tiểu nhân thịnh, quân tử suy, ấy
là quẻ xấu, mà gọi bằng tiểu quái.
Quẻ đã có tiểu, đại khác nhau như thế thời lời trong quẻ cũng nhân đó mà có hiểm, dị khác nhau. Quẻ
tiểu như quẻ Khuê, quẻ Khốn, quẻ Tiểu Quá, v.v. tất nhiên quẻ gay go khó hiểu, ấy là từ hiểm. Quẻ đại
như quẻ Thái, quẻ Đại Hữu, quẻ Phục, v.v. thời lời quẻ vui vẻ dễ xem, thế là từ dị. Vì quái có tiểu đại
khác nhau, nén từ cùng chỉ theo thì với vị của quái hào hướng về phía nào thời đặt ra lời ấy.
Sở chi nghĩa là sở xu hướng mà cùng là mục đích. Mục đích đi vào đường tốt, thời từ bình thản mà dị,
mục đích đi vào đường xấu, thời từ gay go mà hiểm. Từ chỉ cốt chỉ vẽ lỗì đường ấy, khiến cho người
ta biết theo lành tránh dữ mà thôi.
Toàn chương là thích thông lệ thuộc về quái từ, hào từ.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!