HỆ TỪ HẠ TRUYỆN (Lược trích)

HỆ TỪ HẠ TRUYỆN
(Lược trích)


CHƯƠNG THỨ NHẤT


(Chỉ lược dịch tiết sau hết)


TIẾT THỨ MƯỜI


Thiên địa chi đại đức, viết sinh; thánh nhân chi đại bảo, viết vị; hà dĩ thủ vị, viết nhân; hà dĩ tụ nhân,
viết tài; lý tài chính từ, cấm dân vi phi, viết nghĩa.
天地之大德, 曰生, 聖人之大寶, 曰位; 何以守位, 曰仁; 何以聚人, 曰財; 理財正辭, 禁民爲非,
.
Tiết này là bàn nguyên lý của Dịch, với công việc dụng Dịch của thánh nhân, quy kết vào hai chữ
“nhân”, “nghĩa”.
“Nghĩa” là một phần tử ở trong chữ “nhân”, nên lại chú trọng về chữ “nhân”. “Nhân” là gốc tấm lòng
của trời đất, lòng trời đất chỉ muốn cho vạn vật sinh sinh bất cùng, nên nói rằng: Đại đức của trời đất
chỉ gọi bằng sinh sinh mà thôi. Trời đất sinh ra vạn vật, mà ở trong vạn vật thời loài người lại quý
hơn, trời đất muốn cho loài người ai nấy cũng các đắc hạnh phúc nên phải chọn kén một hạng người có
đức in như trời đất, người ấy gọi bằng thánh nhân, trời đất mới trao cho vị nguyên thủ, khiến cho thể
lòng trời đất mà giáo dục vạn dân. Vậy nên, vị của thánh nhân, tức là vị của trời đất phó thác cho, thời
vị ấy là đại bảo của thánh nhân. Thánh nhân đã thừa nhận lấy vị ấy, tất phải đức xứng với vị mà sau
mới giữ được vị. Thế thời cái gì là đồ thánh nhân nhờ cậy mà giữ được vị, thời chỉ có đức
nhân, là
thích hợp với lòng trời đất đó. Vì lòng nhân hợp với trời đất, nên trời đất cứ cho
bảo vị hoài.
Thánh nhân đã ở vị ấy, thời những người trong thiên hạ, thảy là thánh nhân phải gánh lấy trách nhiệm
giáo dưỡng. Thế thời phải cậy giống gì mà nhóm được đông người? Tất nhờ sinh sản phẩm mà gọi
bằng
tài.
Nhưng có tài mà thôi thời chỉ vừa gánh nổi công việc dưỡng chỉ vừa được một bộ phận trong chữ
nhân, nên ở trong lúc đó lại cần phải có việc
giáo.
Một phương diện thời chỉnh đốn quản lý mọi đồ sinh sản phẩm, với tiêu phí phẩm, khiến cho ai nấy
cũng khỏi bần phạp là
lí tài.
Một phương diện lại bày ra các môn giáo dục, chính đính những lời ở trong sách vở dạy dân, vả lại,
phải phụ gia vào pháp luật hiến chương để cấm dân làm điều xằng. Thế gọi bằng
nghĩa,
đức nghĩa đó là cốt cho dầy đủ đức nhân mà không trái với đại đức của trời đất đó vậy.
Bổ chú: Câu
thủ vị viết nhân, chữ nhân học như chữ nhân là người cũng thông. Bởi vì có nhân dân
mới giữ được nước, giữ được nước mới giữ được vị, cũng như nghĩa câu:
Hậu phi chúng, vọng dữ
thủ bang
后非衆, 罔與守邦.


CHƯƠNG THỨ HAI

(Chương này lược dịch hai tiết)


TIẾT THỨ NHẤT


Cổ giả Phục Hy thị chi vượng thiên hạ dã, ngưỡng, tắc quan tượng ư thiên, phủ, tắc quan pháp ư địa,
quan điểu thú chi văn, dữ địa chi nghi, cận thủ chư thân, viễn thủ chư vật; ư thị thỉ tác bát quái, dĩ

thông thần minh chí đức, dĩ loại vạn vật chi tình.
古者伏犧是之天下也, 仰則觀象於天, 俯則觀法於地, 觀鳥獸之文與地之宜, 近取諸身, 遠取諸
, 於是始作八卦, 以通神明至德, 以纇萬物之情.
Đây là suy nguyên cớ vua Phục Hy sở dĩ vạch ra bát quái, ngửa lên thời xem tượng ở trời, cúi xuống
thời xem khuôn mẫu ở đất. Xem văn ở các giống điểu thú, với những đồ thể nghi ở đất. Gần thời lấy ở
trong thân người ta, xa thời lấy ở các loài vật, biết được chốn nào cũng nghiệm được âm,
dương, cơ,
ngẫu, tiêu, tức, dinh, hư,
lúc đó mới bắt đầu vạch ra tám quẻ để thông thấu đức của thần minh, để
biện biệt tình của vạn vật.
Chữ
đức là tính tình của bát quái, mà phù hợp với thần minh.
Lệ như:
Càn kiện, Khôn thuận, Kiện, thuận là đức của Càn, Khôn; Chấn động, Khảm hãm, Cấn chỉ,
Tốn nhập, Li lệ, Đoái duyệt,
mỗi chữ là đức của mỗi quẻ.


TIẾT THỨ HAI
(Khuyết)


TIẾT THỨ BA và THỨ NĂM
(Lược dịch)


Phục Hy thị một, Thần Nông thị tác, Thần Nông thị một, Hoàng Đế Nghiêu Thuấn thị tác; thông kì biến,
sử dân bất quyện; thần nhi hóa chi, sử dân nghi chi. Dịch, cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu,
thị dĩ tự thiên hữu chi, cát vô bất lị.
伏犧是没, 神農是作; 神農是没, 黄帝堯舜是作; 通其變, 使民不倦; 神而化之, 使民宜之. ,
則變
, 變則通, 通則久, 是以自天祐之, 吉旡不利.
Vua Phục Hy mất, vua Thần Nông lên, vua Thần Nông mất, qua đến vua Hoàng Đế, vua Nghiêu, vua
Thuấn nổi lên, vì thì đại thay đổi nên việc người cũng phải thay đổi. Đương giữa lúc tân, cựu giao
thừa, chính là thế nào cũng phải biến; nếu không biến cũ thời dân chán mỏi; nếu không thay mới thời
cũng khó khiến cho dân bằng lòng.
Thánh nhân lấy một cách rất khôn khéo, rất trung dung mà làm việc thông biến, để cho thông lợi được
lúc biến khiến cho dân khỏi chán mỏi những việc cũ.
Nhưng ở trong khi biến cũ đổi mới, lại biến hóa một cách rất thần diệu, khiến cho dân vui lòng về sự
đổi mới, đó chính là hợp với đạo Dịch. Dịch lý, đến lúc cùng tất phải biến, đã biến được thời thông,
đã thông được thời lâu dài. Chín chữ “Cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu”, suốt vũ trụ cổ kim
bao bọc “dĩ vãng”, “hiện tại”, “tương lai”, không bao giờ trật khỏi chín chữ ấy.
Dịch sở dĩ gọi bằng Dịch, cũng chỉ là lẽ ấy.
Thông kì biến, sử dân bất quyện, thần nhi hóa chi, sử
dân nghi chi
, chính là hợp với lẽ ấy. Vì vậy, cho nên tự thiên hựu chi, cát vô bất lị.

CHƯƠNG THỨ BA
(Khuyết)

CHƯƠNG THỨ TƯ
(Khuyết)

CHƯƠNG THỨ NĂM


Thích nghĩa hào từ mỗi quẻ đã có phụ dịch vào trên rồi.
Cửu Tứ quẻ Hàm; Lục Tam quẻ Khốn, Thượng Lục quẻ Giải; Sơ Cửu Thượng Cửu quẻ Phệ Hạp;
Cửu Ngũ
quẻ Bĩ; Cửu Tứ quẻ Đỉnh; Lục Nhị quẻ Dự; Sơ Cửu quẻ Phục; Lục Tam quẻ Tốn; Thượng
Cửu
quẻ Ích, nghĩa mười một hào ấy, thảy đã phụ thích vào trên Kinh văn, đây tùng khuyết.


CHƯƠNG THỨ SÁU
(Lược dịch ba tiết)


TIẾT THỨ NHẤT


Tử viết: Càn, Khôn kì Dịch chi môn da! Càn, dương vật dã; Khôn, âm vật đã: âm dương hợp đức nhi
cương nhu hữu thể, dĩ thể thiên địa chi soạn, dĩ thông thần minh chi đức.
子曰: 乾坤其易之門耶! , 陽物也; , 陰物也; 陰陽合德而刚柔有體, 以體天地之撰, 以通神明
之德
.
Nguyên lai, Dịch lý từ thái cực mà sinh ra lưỡng nghi, lưỡng nghi là nhất âm, nhất dương mà thôi.
Bắt đầu vào Dịch tức khắc thấy một nét dương, một nét âm, thuần nét dương thành Càn, thuần nét âm
thành Khôn, tất thảy quái hào ở trong Dịch, hoàn toàn thu nạp vào trong Càn, Khôn. Nên nói rằng: Càn,
Khôn là cửa của Dịch, nghĩa là bắt đầu vào nhà tất do ở cửa, bắt đầu vào Dịch tất phải tự Càn, Khôn.
Càn là nhất thiết vật thuộc về dương. Khôn là nhất thiết vật thuộc về âm. âm dương hợp đức mà hào
cương, hào nhu mới có thực thể thành ra. Nhân đó mà suy trắc được công việc của trời đất. (Chữ
soạn
đây có ý như nghĩa chữ Bàn soạn).
Ở trong vũ trụ, muôn giống ngàn hình, tất thảy là bàn soạn của trời đất dọn ra, mà xem những thức nọ,
thức này cũng chỉ nhất âm nhất dương mà thôi.
Nên nói rằng Dịch là thể thiên địa chi soạn, mà lại thông được thần minh chi đức.


TIẾT THỨ HAI


Kì xưng danh dã tạp, nhi bất việt ư kê kì loại, kì suy thế chi ý da.
其稱名也雜, 而不越於稽其類, 其衰世之意耶.
Suốt cả các quái hào, xưng danh tuy là lộn xộn. tượng như con chim hồng ở quẻ Tiệm, tẩn ngưu ở quẻ
Ly, phi điểu ở quẻ Tiểu Quá, v.v.
Xem ra vẫn tạp thiệt, nhưng xét đến ý nghĩa không trật ra ngoài vòng âm dương biến hóa, nhân đó mà
tìm mối cát hung, do đường xu tỵ, e là lý đối đãi với đời suy đó rư.


TIẾT THỨ TƯ


Kì xưng danh dã tiểu, kì thủ loại dã đại, kì chỉ viễn, kì từ văn, kì ngôn khúc nhi trúng, kì sự tứ nhi ẩn,
nhân nhị dĩ tế dân hạnh, dĩ minh thất đắc chi báo.
其稱名也小, 其取類也大, 其之遠, 其辭文, 其言曲而中, 其事肆而隐, 因貳以濟民行, 以明失得

之報.
Những danh từ sở xưng trong Dịch, tuy những món rất nhỏ cùng xưng tới nơi, mà bao bọc đến rất to
như thiên địa, âm dương, cổ kim, vũ trụ, tất thảy lấy vào trong Dịch, thủ loại chẳng lớn lắm hay sao? Ý
chỉ của Dịch tuy rất sâu xa mà lời lẽ của Dịch thảy có văn lý, lời nói tuy ủy khúc, mà chiếu vào sự lý
rất trúng.
Tòng lai, lời nói người ta đã khúc thường hay không trúng, duy Dịch thời khúc mà trúng, nhưng việc
phô bày ở quái, hào, từ vẫn trổng troảng rõ ràng, nhưng mà lý sở dĩ có ra việc, thời thâm diệu u ẩn
(tứ
nghĩa là bày trổng; ẩn nghĩa là sâu kín).
Hễ việc đời đã tứ thời không ẩn, duy Dịch thời tứ mà lại ẩn, Dịch sở dĩ như thế, là vì trí dân còn thấp,
lòng dân còn nghi ngại, cát hung còn chưa quyết, đường lối còn chưa rành, nên Dịch nhân đó mà phải
phán quyết, chỉ thị đường đi lối ở cho dân, giúp công việc làm cho dân, cho tỏ rõ báo ứng thất đắc.

CHƯƠNG THỨ BẢY


Chương này chỉ trích cử lấy chín quẻ ở trong Dịch, mà thích tóm lấy đại ý, chỉ cố cho rõ được đạo
quân tử ở thì hoạn nạn.


TIẾT THỨ NHẤT


Dịch chi hưng dã, kì ư trung cổ hồ, tác Dịch giả kì hữu ưu hoạn hồ?
易之興也其於中古乎, 作易者其有憂患乎?
Sách Dịch chỉ làm ra, chắc ở đời trung cổ đó mà, người làm ra Dịch, chắc có cảnh ngộ ưu hoạn đó mà,
mấy câu ấy chỉ vào vua Văn Vương, lúc đó vua Văn Vương bị Trụ Vương giam ở Dữu Lí, mới làm ra
Soán từ, nên nói rằng:
Hữu ưu hoạn.


TIẾT THỨ HAI


Thị cố, Lí, đức chi cơ dã; Khiêm, đức chi bính dã; Phục, đức chi bản dã; Hằng, đức chi cố dã; Tổn,
đức chi tu dã; Ích, đức chi dụ dã; Khốn, đức chi biện dã; Tỉnh, đức chi địa dã; Tốn, đức chi chế dã.
是故, , 德之幾也; , 德之柄也; , 德之本也; , 德之固也; , 德之修也; , 德之裕也; ,
德之辨也; , 德之地也, 德之制也.
Tiêt này là nói đức của chín quẻ, mà ngươi ta tu đức cũng phải có thứ tự như chín quẻ này. Hễ tu đức,
tất phải tự thấp mà bước lên cao, thí dụ: làm nhà tất trước phải đắp nền; vun đắp nền của đức tất cậy ở
lòng cung kỉnh, cung kỉnh là lễ, lễ ở trong Dịch là quẻ Lí, nên nói Lí đức chi cơ.
Làm được như quẻ Lí là đức đã có nền rồi, nhưng nắm giữ vào đâu để làm chuôi cán? Tất cậy vào
lòng khiêm tốn, tự ty mà tôn trọng điều lành của người, đó là ý nghĩa quẻ Khiêm, Khiêm chính là chuôi
cán của đức, nên nói Khiêm đức chi bính dã.
Nhưng mà gọi bằng đức, há phải ở nơi nhánh lá đâu, tất phải lấy lương tâm mình làm cội gốc, lương
tâm mình hoàn phục lấy thiên lý, cũng như nhất dương sơ sinh ở quẻ Phục, đó chính là gốc của đức,
nên nói: Phục, đức chi bản dã.
Cơ, bính, bản đã có rồi, thời chỉ cốt cho được bền chặt, tất phải lâu dài bất biến, mà lại hữu thường
như nghĩa quẻ Hằng, nên nói rằng: Hằng là đức chi cố dã.
Muốn được đức cho bền chặt, tất lại phải như bốn quẻ sau này:
Học như quẻ Tổn mà ngăn đe khí giận, cấm lấp lòng dục, là đức chi tu, nên nói: Tổn, đức chi tu dã.
Lại muốn cho đức được ngày càng nảy nở rộng lớn thêm, thời chẳng gì bằng “thiên thiện cải quá” ở
quẻ Ích, nên nói: Ích đức chi dũ. Lại thường phải tự nghiệm năng lực của mình, cho biết được thánh
hay phàm, tự nghiệm trình độ mình cho biết được cao hay thấp, thế tất phải xem ở nơi mình xử nghịch
cảnh, nghiệm có phải cảnh khốn mà đức cứ hanh hay không. Nếu mình xử cảnh khốn mà đức vẫn hanh,
thế là mình tốt.
Nhược bằng xử cảnh Khôn, mà đức không hanh, thế là mình dở. Nên nói: Khốn đức chi biện. Đã biện
ra được đức mình, thời ở lúc đó chỉ cần nhất là kỉ lập rồi phải lập nhân, kỉ đạt rồi phải đạt nhân, có ân
trạch nhuận khắp cho người mà lại bất cùng như quẻ Tỉnh. Thế mới là đức dày dặn như đức Khôn, nên
nói: Tỉnh đức chi địa dã.

Tuy nhiên, việc đời có thường có biến, đạo lý có kinh có quyền; sở xử vào lúc biến, há phải như lúc
thường mãi rư? Tất phải dựa theo chính lý mà lại tài chế bằng cơ nghi. Tuy xử biến mà không trái với
đạo thường, tuy hành quyền mà không mất lẽ kinh. Nếu chẳng phải thuận đạo Dịch, thời làm sao hoàn
toàn được như trên nói, nên kết thúc lấy câu: Tốn đức chi chế. Tốn nghĩa là thuận, là nhập. Thuận theo
đạo Dịch, mà lại nhập được đạo Dịch, mới hay chế đức.
Nghĩa chữ chế hay lắm, đức mà không chế thời đức chưa được thuần thục.
Tỉ như: Vị thuốc sống chưa sao chế thời không chữa được bệnh, nên đức có chế mới được thuần thục,
đó là một lí. Lại một ý nữa, nếu đức mà không chế, thời có đức mà không biết biến thông. Tỉ như:
Khối đất cứng mà không tô được tường, nên đức có chế thời đức mới được linh hoạt mà hay biến
thông; bày thứ tự đức chín quẻ, mà Tốn đức chi chế ở cuối cùng, nghĩa là đức đến đó mới được hoàn
toàn vậy.


TIẾT THỨ BA


Lí, hòa nhi chí; Khiêm, tôn nhi quang; Phục, tiểu nhi biện ư vật; Hằng, tạp nhi bất yếm; Tổn, tiên nan
nhi hậu dị: Ích, trưởng dụ nhi bất thiết; Khốn, cùng nhi thông; Tỉnh, cư kì sở nhi thiên; Tốn, xứng nhi
ẩn.
履和而至, 謙尊而光; 復小而辨於物, 恆雜而不厭, 損先難而後易, 益長裕而不設, 困窮而通,
居其所而遷
, 巽稱而隱.
Đây lại nói tài của chín quẻ, có đức chín quẻ mà không đủ tài chín quẻ, thời chưa phải là bậc thánh
nhân, nên lại phải kể đến tài như sau: Thường người ta thấy ôn hòa bình dị, thời ngó ra cách tầm
thường mà không phải cực chí. Duy quẻ Lí thời bề ngoài ôn hòa bình dị, mà nội dung thời đạo nghĩa
rất đến nơi.
Thường người ta đã tự ti, ngó như hình không tôn, duy quẻ Khiêm thời ứng sự tiếp vật, giữ phần ti tốn,
mà trở lại được tôn trọng vừa vẻ vang.
Quẻ Phục là nhất dương mới sinh ở dưới quần âm, tuy vẫn nhỏ thiệt, nhưng một ngọn đèn ở trong nhà
tối, có việc gì mà biện biệt chẳng ra.
Hằng nghĩa là thường, hễ giống gì đã thường thường tất có lúc tạp loạn mà dễ sinh chán, duy tài quẻ
Hằng thời tuy xử vào cảnh tạp loạn mà đức Hằng vẫn tri cửu, không thấy chán.
Tổn nghĩa là bớt, bớt những việc tư tình, tư dục, khi đầu vẫn cố sức ra làm, ngó chừng ngó thiệt, sau
thời việc đã thành tập quán, ngó chừng dễ dàng.
Ích nghĩa là thêm, đã cao ngày thêm cao, đã lớn ngày thêm lớn, nhưng chỉ thuận lẽ tự nhiên mà nảy nở
ra, chứ không phải tốn công sắp đặt.
Trưởng dũ nghĩa là đầy nở thêm. Thiết là dụng tâm tạo tác, có ý cưỡng kiện.
Trưởng dũ nhi bất thiết
là trưởng dũ bằng một cách tự nhiên. Người ta gặp lúc cùng tất không thông thuận, duy tài quẻ Khốn,
thời tuy gặp lúc cùng, mà vẫn cứ thông. Nghĩa là thân cùng mà đạo vẫn thông vậy.
Người ta hễ đã ở một chốn thường mất hẳn công dụng tấn hành. Duy tài quẻ Tỉnh, thời bản thân nó vẫn
một chốn, mà ơn nhuận vật của nước thường lưu hành khắp nơi.
Người ta có tài năng gì thích dụng, thời hay lòe hiện ra bề ngoài, ai cũng thấy được. Duy tài quẻ Tốn,
thời tuy xử sự tiếp vật rất mực xứng đáng, lâm cơ ứng biến hợp với đạo thường, mà lại hay thu liễm
cái hay của mình, in như tài của gió hay cổ động được vật, mà vật chẳng thấy hình nó.
Xứng có ý nghĩa như hòn cân. Ẩn có ý nghĩa sâu kín, cũng như câu trong sách
Hán Thư khen Lưu Hầu
(Trương Tử Phòng):
Thiện tàng kì dụng 善藏其用.

TIẾT THỨ TƯ


Lí dĩ hòa hạnh, Khiêm dĩ chế lễ, Phục dĩ tự tri, Hằng dĩ nhất đức, Tổn dĩ viễn hại, Ích dĩ hưng lợi,
Khốn dĩ quả oán, Tỉnh dĩ biện nghĩa, Tốn dĩ hành quyền.
履以和行, 謙以制禮, 復以自知, 恆以一德, 損以遠害, 益以興利, 困以寡怨, 井以辨義, 巽以行
.
Trên ấy đã nói đức tài của chín quẻ, đây lại nói cách thánh nhân dụng Dịch, ý tứ chú trọng tại chữ
.
Dĩ nghĩa là dụng lấy. Dụng tài đức quẻ Lí mà điều hòa tính hạnh của mình, khiến cho khỏi táo bạo bằng
huyết khí. Dụng tài đức quẻ Khiêm mà sắp đặt ra lễ phép. Dùng tài đức quẻ Phục để mà tự chủ trì ở
trong mình. Chữ
tri ở đây nghĩa là chủ, cũng như nghĩa chữ tri ở câu: Càn tri thái thỉ. Mình cứ bằng
vào lương tâm mình mà chủ trì lấy mình, không cho khách khí sai xử được mình, thế là
tự tri.
Dùng tài đức quẻ Hằng mà làm cho đức mình được thuần nhất bất tạp.
Dùng tài đức quẻ Tổn để tránh xa mọi sự hại.
Dùng tàí đức quẻ Ích để hưng khỏi được mọi sự lợi.
Dùng tài đức quẻ Khốn mà xử lúc hoạn nạn, chẳng sinh lòng oán hối.
Dùng tài đức quẻ Tỉnh mà biện được nghĩa lý cho rành. Bởi vì Tỉnh là có lợi trạch cập nhân, mà lại
không kể công cầu báo. Người ta làm việc nghĩa, làm được như lòng giếng cho người ăn nước, mới
thật là nghĩa. Nếu làm việc nghĩa mà còn có lòng lợi pha vào. Thế là xét nghĩa chưa rành.
Dùng tài đức quẻ Tốn để ứng phó những việc quyền biến. Hành quyền là năng sự tối chung của thánh
nhân.
Luận Ngữ có câu: Nếu người ấy chỉ dắt đưa vào lối đạo, với chỉ vừa đủ sức tự lập, chưa có thể dắt
đưa vào lối quyền. Bởi vì hành quyền là việc rất khó, nên để sau hết.

CHƯƠNG THỨ TÁM
(Lược dịch hai tiết)


TIẾT THỨ NHẤT


Dịch chi vi thư dã bất khả viễn; vi đạo dã lũ thiên; biến động bất cư, chu lưu lục hư; thượng hạ vô
thường, cương nhu tương dịch; bất khả vi điển yếu, duy biến sở thích.
易之爲書也不可遠; 爲道也屢遷; 變動不居, 周流六虚; 上下旡常, 剛柔相易; 不可爲典要, 唯變
所適
.
Dịch tuy là sách, nhưng mà tâm tính người ta vẫn tất thảy thu nạp vào Dịch, nhân sinh nhật dụng không
chốc phút nào rời được Dịch lý, nên nói rằng
bất khả viễn.
Chữ viễn cũng như nghĩa chữ vong, sách Dịch vẫn không bao giờ đáng quên, bởi vì đạo của Dịch là
một giống rất hoạt động, thường thường thiên chuyển luôn, biến động không khi nào dừng.
Quẻ tuy có sáu vị mà âm dương cương nhu, không phải là giống chết đặc, đắp đổi ở trong sáu vị, xoay
quanh chạy vòng, tượng như không một nét nào nhất định.
Dương vẫn có khi thăng mà âm cũng có khi thăng; âm vẫn có khi giáng, mà dương cũng có khi giáng.
Nét cương mà thường đổi ra làm nét nhu, nét nhu mà thường đổi ra làm nét cương.
Tổng chi, đã gọi bằng Dịch, thời chẳng phải là khuôn mẫu nhất định mà làm một món thường sao được
(Điển nghĩa là thường; yếu, nghĩa khế khoán). Tỉ như, một tờ khế khoán đặt ra thành nếp, cứ theo mà
viết cũ hoài tức là điển yếu. Dịch thời không thể làm điển yếu như thế, chỉ duy tùy biến hóa tới đâu
thời đi tới đó.
Đạo Dịch linh hoạt như thế, không kì người quý hay tiện, không kì việc nhỏ hay lớn, địa vị gì hay hoàn
cảnh gì, tất thảy dùng được Dịch đạo dã, nên nói rằng:
Vi thư dã bất khả viễn, vi đạo dã lũ thiên (
nghĩa là hăng hái; thiên nghĩa là hoạt động).


TIẾT THỨ TƯ


Sơ suất kì từ, nhi quỵ kì phương, kí hữu điển thường, cẩu phi kì nhân, đạo bất hư hành.
初率其辭, 而揆其方, 旣有典常, 苟非其人, 道不虛行.
Trên ấy nói đạo Dịch với sách Dịch, bây giờ lại trông mong với người dụng Dịch.
Suất nghĩa là noi theo; từ nghĩa là lời Dịch; quỵ nghĩa là đo lường.
Chúng ta đọc Dịch tất phải bắt đầu noi theo ở lời quái hào mà nghiên cửu phương pháp của Dịch.
Giả như: Thấy được trung chính thời tốt, bất trung bất chính thời xấu, quân tử thịnh thời đời thông; tiểu
nhân thịnh thời đời loạn.
Những đại khái như thế, tuy có lẽ nhất dinh mà gọi bằng
điển thường.
Những điển thường đó, chỉ ở nơi sách với lời mà thôi. Chứ đến như sở dĩ hành được là cốt ở đạo, mà
đạo lại phải gửi vào ở người. Nếu không phải người gánh được nổi đạo, thời đạo chỉ là lý huyền
không ở giữa trời đất, há có lẽ không ngườì mà hành được đạo rư.
Tỉ như: Đạo có chữ trinh, mà làm được trinh thời cốt ở người. Nếu người mà bất trinh, thời chữ trinh
chỉ là viết trong sách vở mà thôi. Xem những lẽ ấy, thời có đạo mới đẻ ra người, mà lại có người mới
hiển được đạo, nên nói:
Cẩu phi kì nhân, đạo bất hư hành.

Thượng Truyện đã có câu: Thần nhi minh chi, tồn hồ kì nhân, đây có câu này, đinh ninh phản phúc có
hai chữ
kì nhân, là khổ tâm thâm ý của thánh nhân trông vào chúng ta. Vậy nên chúng ta đọc đến Càn
thời nên tự cường bất tức; đọc đến Khôn thời nên hậu đức tái vật; hết thảy lời trong quái hào, tất đem
ra thực hành mà không phải đọc suông, tuy chưa dám chắc thần nhi minh chi mà cũng không đến nỗi
đạo hư hành, thế là khỏi phụ ý thánh nhân tác Dịch.

CHƯƠNG THỨ CHÍN
(Khuyết)

CHƯƠNG THỨ MƯỜI
(Lược dịch tiết thứ nhất và một câu của tiết thứ hai)


TIẾT THỨ NHẤT


Dịch chi vi thư dã, quảng đại tất bị; hữu thiên đạo yên, hữu nhân đạo yên, hữu địa đạo yên; kiêm tam
tài nhi lưỡng chi, cố lục; lục giả phi tha dã, tam tài chi đạo dã. Đạo hữu biến động, cố viết hào.
易之爲書也, 廣大悉備; 有天道焉, 有人道焉, 有地道焉; 兼三才而两之, 故六; 六者非他也, 三才
之道也
. 道有變動, 故曰爻.
Vì Dịch lý mà làm thành sách, nên trong Dịch lý bao la vũ trụ, quán triệt cổ kim, thiệt vừa rộng vừa
lớn, không gì là không đủ.
Ở trong vũ trụ, tóm rút lại chỉ là đạo tam tài, mà Dịch có tất thảy ở trên hết một vạch là đại biểu cho
thiên đạo, chính giữa một vạch là đại biểu cho nhân đạo, dưới hết một vạch là đại biểu cho địa đạo,
ba đạo ấy gọi bằng tam tài.
Nhưng mà mỗi một tài, tất phải đủ hai thể, Thiên có âm dương về thiên, Nhân có âm dương về nhân,
Địa có âm dương về địa, tất phải kiêm tam tài mà trồng lại làm hai, mỗi một tài tất phải đủ một cơ một
ngẫu, hai cái một thành ra lưỡng, ba cái lưỡng thành ra lục. Vậy nên mỗi quẻ phải có sáu hào. Khi đã
vạch thành sáu nét rồi, thời thấy được hai hào trên hết là Thiên; hai hào chính giữa là Nhân; hai hào
dưới hết là Địa; sáu hào đó chẳng phải giống gì lạ đâu, chỉ là đạo tam tài mà thôi vậy. Đạo tam tài vẫn
thấy ở trong quẻ, nhưng gọi là đạo, chẳng phải là giống nằm chết trơ đâu; có xáo lộn thay đổi, mà biến
động luôn luôn, nên đặt tên sáu nét đó gọi bằng Hào.

CHƯƠNG THỨ MƯỜI MỘT
(Độc tiết)


Dịch chi hung dã, kì đương Ân chi mạt thế. Chu chi thịnh đức da? Đương Văn Vương dữ Trụ chi sự
da? Thị cố kì từ nguy. Nguy giả sử bình, dị giả sử khuynh, kì đạo thậm đại, bách vật bất phế, cụ dĩ
chung thỉ, kì yếu vô cựu, thử chi vị Dịch chi đạo dã.
易之凶也, 其當殷之末世. 周之盛德耶? 當文王與紂之事耶? 是故其辭危. 危者使平, 易者使傾,
其道葚大, 百物不廢, 懼以終始, 其要旡咎, 此之謂易之導也.
Chương này là truy nguyên cớ Văn Vương sở dĩ làm ra Dịch, với nói thêm cho rõ đạo Dịch. Dịch
nguyên ở đời thượng cổ chỉ có quái hào mà thôi. Dịch mà có từ chỉ bắt đầu từ vua Văn Vương.
Nên Đức Khổng tán rằng: Đạo Dịch sở dĩ hưng thịnh lên đó, là đương thời cuối cùng triều nhà Ân, mà
vừa thịnh đức triều nhà Chu rư. Đang vào việc của vua Văn Vương với Trụ đó rư. Thế thời Dịch làm
trong thì ưu hoạn đó. Vì vậy cho nên Soán từ thường có lời nguy cụ.
Hễ người đã có lòng nguy cụ, thời khiến cho an bình, nếu người có lòng khinh dị, thời khiến cho
nghiêng đổ. Đạo trời vẫn thế, mà đạo Dịch cũng y như đạo trời, thiệt to lớn rất mực. Xem như trong
lời Dịch đủ hết lý vạn vật, không bỏ một giống gì.
Chúng ta đọc Dịch nên biết lẽ nguy bình, dị khuynh, mà thường hay nguy cụ ở trong lòng, dầu tới lúc
chung mà in như thỉ.
Thế thời quy kết chắc được vô cựu, gọi bằng đạo của Dịch chỉ như thế.
Nguy giả sử bình ý nghĩa như câu Sinh ư ưu hoạn. Dị giả sử khuynh ý nghĩa như câu Tử ư an lạc.
Hai chữ
sử, há phải là Dịch có ý sử nó đâu, tài giả bồi chi, khuynh giả phúc chỉ là lẽ tự nhiên, mà
chính là Dịch đạo.


CHƯƠNG THỨ MƯỜI HAI
(Lươc dịch bốn tiết)


TIẾT THỨ NHẤT


Phù Càn thiên hạ chi chí kiện dã; đức hạnh hằng dị, dĩ tri hiểm. Phù Khôn thiên hạ chí chí thuận dã,
đức hạnh hằng giản, dĩ tri trở.
夫乾天下之至健也, 德行恆易, 以知險. 夫坤天下之至順也, 德行恆簡, 以知阻.
Cương kiện thứ nhất ở trong thiên hạ, chi duy đức Càn. Càn vì có đức chí kiện, nên làm việc gì cũng
không khó, đức hạnh thường thấy ra bình dị, nhưng đức hạnh tuy dị, mà tâm lý lại thường biết chốn
nguy hiểm. Đem con mắt xem hiểm mà xử vào cảnh dị, vì biết được hiểm nên càng dị thêm.
Nhu thuận tột mực ở trong thiên hạ, chỉ duy đức Khôn. Khôn vì có đức chí thuận, nên làm việc gì cũng
không phiền, đức hạnh thường thấy ra giản tiện.
Nhưng đức hạnh tuy giản, mà tâm lý lại thường biết chốn ngăn trở, lấy con mắt ngừa trở mà lâm vào
cảnh giản, vì biết trở như thế, nên càng giản thêm.
Hằng dị, hằng giản thuộc về phần năng, tức là nhân và dũng; tri hiểm, tri trở thuộc về phần tri, tức là
trí.
Dị mà không tri hiểm thời khốn vì hiểm mà đến nỗi mất đức dị; giản mà không tri trở thời khốn vì trở

mà đến nỗi mất đức giản; dị mà lại tri hiểm, giản mà lại tri trở, sở dĩ hoàn toàn được chí kiện, chí
thuận.


TIẾT THỨ NĂM


Bát quái dĩ tượng cáo, hào soán dĩ tình ngôn.
八卦以象吿, 爻彖以情言.
Xưa vua Phục Hy vạch tám quẻ, chỉ lấy tượng quẻ mà cáo cho người ta. Bởi vì, ở đời Thượng cổ, chỉ
xem ở tượng bát quái là vừa đủ biết cát hung, nên không cần dùng lời quẻ. Chứ như đến đời Trung cổ,
thời thế đạo đã trải qua nhiều cảnh biến thiên, mà nhân tâm cũng trái hẳn đời thuần phác hỗn độn, vậy
nên Văn Vương, Chu Công tùy thì lập giáo, làm ra lời hào, lời soán, phải xoi móc tình người cho rõ
mà nói với người đời, khiến cho người đời biết đường xu tị. Vậy nên lời hào, lời soán hết sức phát
huy những vật tình, cũng là khổ tâm cho thánh nhân vậy.


TIẾT THỨ SÁU


Biến động dĩ lị ngôn, cát hung dĩ tình thiên, thị cố ái ố tương công nhi cát hung sinh, viễn cận tương thủ
nhi hối lẫn sinh, tình ngụy tương cảm nhi lị hại sinh; phàm Dịch chi tình, cận nhi bất tương đắc, tắc
hung, hoặc hại chi, hối thả lẫn.
變動以利言, 吉凶以情遷, 是故愛惡相攻而吉凶生, 遠近相取而而悔吝生, 情僞相感而利害生;
凡易之情, 近而不相得, 則凶, 或害之, 悔且吝.
Quái hào vì sao mà phải biến động? Bởi vì, lý Dịch đã cùng phải biến, có biến mới thông, có thông
mới lợi, nên lấy sự lợi mà nói, thời phải có biến động.
Quái hào từ vì sao mà có cát hung? Bởi vì, nhân tình vật tình thường thường thay đổi dời ác sang thiện,
thời được thiện mà cát; dời thiện sang ác, thời mắc xấu mà hung, lời cát lời hung chỉ tùy ở tính người
mà thiên chuyển. Từ đây sắp xuống tiếp lấy hai chữ tình ở trên, mà làm cho rõ những loài ở trong chữ
tình.
Vì tình thiên như thế mà nảy ra cát hung, những loài tình tuy rất phức tạp, mà đại khái chẳng qua có hai
tình nặng: Một là, cảm tình thuộc về phần ái, hễ những sự vật gì mà lòng người yêu ham, gọi bằng ái;
một là, cảm tình thuộc về phần ố, hễ những sự vật gì mà lòng người hiềm ghét, gọi bằng ố.
Hai cảm tình ấy xung đột với nhau, phía nào phải lẽ thời hơn, phía nào trái lẽ thời thua; phía nào hơn
thời cát, phía nào thua thời hung.
Truy nguyên sở dĩ nảy ra cát hung, chỉ vì tình ái ố tương công đó vậy.
Vì cảm tình có ái ố mà xa nhau gần nhau cũng nhân đó mà đối đãi khác nhau. Hễ đã ái thời gần nhau,
nhưng gần nhau thường hay sinh chán mà tình ái té ra trả lại làm môi giới cho ố. Đã đến ố tất nhiên xa
nhau; xa phía kia, tất nhiên gần tới phía này; gần người này, tất nhiên xa với người kia; nếu nên xa mà
xa, nên gần mà gần, còn có gì hốì lẫn.
Nhưng mà, tư tình thường trái với công lý, nên nỗi viễn chẳng bao lâu mà quay lại muốn cận. Cận
chẳng bao lâu mà hóa ra sơ viễn, viễn cận xâu xé nhau hoài hoài, mà hối lẫn nảy ra, ý nghĩa câu này
rất khó giải. Nói cho đúng, thời như lẽ này: Hễ xa nhau hay gần nhau mà không hợp với công lý, thời
xa mất phía tốt, gần lấy phía xấu, chắc rồi sau phải ăn năn, nên sinh ra hối.
Hễ xa nhau, hoặc gần nhau mà chỉ tư tình tác dụng, thời người vẫn nên xa, mà mình không xa tránh

được, người vẫn nên gần mà mình vẫn không thân cận được, thành ra một sự đáng xấu hổ, mới sinh ra
lẫn.
Cố sở dĩ hốì lẫn, chỉ vì viễn cận tượng thủ, mà sinh ra. Nếu viễn cận mà xuất ở tự nhiên, thời không
hối lẫn.
Nhất thiết sự vật vì cớ sao mà có lị hại, cũng chỉ gốc ở tình người mà nảy ra, tình người lấy chân thật
cảm kết với nhau, thời kết quả được lị thuận; tình người lấy giả dối cảm kết nhau, thời kết quả chỉ là
tai hại. Nên nói rằng: Tình ngụy tương cảm nhi lị hại sinh.
(Chữ
tình ở đây phản đốì với chữ ngụy. Tình nghĩa là chân thật, không phải như nghĩa chữ tình đốì với
chữ tính).
Nói tóm lại, quái từ, hào từ ở trong Dịch, chỉ là miêu tả cho hết tình nguời; tình người tóm lại chỉ có ái
ố. Vì ái nên cận nhau, vì ố nên viễn nhau. Đã viễn nhau thời không cần phải nói kết quả. Duy một hạng
người, nguyên lai vẫn cận nhau, đã cận nhau mà lại bất tương đắc, hoặc vì cương nhu trái nhau, mà
không ưa nhau, hoặc vì tà chính khác đường mà không thể rập nhau. Đã bất tương đắc như thế, tất
nhiên hữu thỉ vô chung, mà có lẽ lại đôi bên xô đổ nhau, tất nhiên phải đến hung, may mà chẳng hung
cũng có lẽ mắc lấy tổn hại, chẳng những hối mà thôi, vả lại lẫn nữa kia.
Toàn văn cả tiết này, nói rút hết quái từ, hào từ: phía tốt chỉ có một chữ
cát, phía xấu thời có ba chữ:
hung, hốì, lẫn. Mà truy cho đến nguyên nhân thời gốc ở nơi biến động, vì tình có biến động mà cát,
hung, hối, lẫn mới nảy ra, vô số đường họa phúc, đầu dây múi nhợ lại gốc ở chữ tình. Người đọc Dịch
nghĩ đến thế, thời tình chẳng bao giờ nên khinh động, đã động thời phần tốt ít phần xấu nhiều. Vậy nên,
Truyện văn đã có câu:
Cát nhất, nhị hung, hối, lẫn tam yên.
Lại có câu:
Cát, hung, hối, lẫn sinh hồ động, tĩnh, mà vọng động đáng ghê tởm biết chừng nào!


TIẾT THỨ BẢY


Tương phản giả, kì từ tàm, trung tâm nghi giả kì từ chi, cát nhân chi từ quả, táo nhân chi từ đa, vu thiện
chi nhân kì từ du, thất kì thủ giả kì từ khuất.
相反也其辭慙, 中心疑者其辭枝, 吉人之辭寡, 躁人之辭多, 誣善之人其辭游, 失其取者其辭屈.
Trên ấy đã nói hết đạo Dịch, bây giờ lại dạy cho biết cách xem lời quái hào, để suy ra mà nghe lời
người nói, ý tứ tiết này tượng tự như phép tri ngôn ở sách Mạnh Tử. Lời nói là tiếng ở trong lòng mà
ra.
Hễ người nào toan làm việc bội bạn, tất tự biết mình là trái lẽ, mà khi nói ra mất vẻ tự nhiên, lời nói
cùa nó tất có ngậm ý xấu thẹn. Người nào ở trong lòng đã chất chứa một mới nghi ngờ, tất nhiên khi nó
nói ra, không dám quyết định một lời, lời nói của nó thường hay có dạng phần hai, hoặc đụng đâu nói
đó.
Hễ người nào tốt lành, tất nhiên trầm tịnh chắc chắn không chịu khinh dị nhã lời mà lời nói người ấy
thường hay ít.
Người nào khinh táo hung hãn, trong lòng nó vẫn đã bất trung bất tín sẵn, nên khi nó nói ra, chỉ là tùy
tiện nói càn, mà không cần đúng với sự thực, nên lời nói của nó thường hay nhiều.
Người nào giả dối làm lành, toan phấn sức ở ngoài mặt làm hại người ta, thời cách nói của nó lả lơi
khéo léo, cốt cho người ta sụp vào bẫy nó, nên lời nói của nó thường hay du.
Hễ người nào mà đổi tiết mất trinh, không giữ được bản lai chí khí của mình, tất nhiên khi ứng đôi với
người, lý khuất mà từ phải cùng, nên lời nói của nó thường hay khuất.
Tổng chi, nhân ở lời nói mà dò được ở trong lòng, hễ
từ tàm thời biết được người ấy là tương phản;
hễ
từ chi, thời biết được người ấy là trung tâm nghi; hễ từ quả, thời biết được người ấy là cốt nhân; hễ

từ đa, thời biết được người ấy là táo nhân; hễ từ du, thời biết được người ấy là vu thiện; hễ từ khuất,
thời biết được người ấy là thất kì thủ.
Thầy Mạnh Tử có nói rằng: Sở dĩ được bất động tâm là vì hay tri ngôn. Lại nói:
Sinh ư kì tâm, phát ư
kì ngôn
生於其心, 於其發言.
Thế thời lời nói của người ta, chính là con đẻ của lòng người, nên chúng ta muốn tri nhân, thời lẽ tri
ngôn là một việc phải cần trước.
Chương này ở cuối cùng Hệ Từ Hạ Truyện, là dạy cho chúng ta xem lời quái hào, nhân đó mà suy ra
nghe lời người.
Toàn tiết này thảy có sáu lối từ, mà
cát chỉ là một; phản, nghi, táo, vu, bất thủ thời có năm hạng; tốt ít
mà xấu nhiều, thật ít mà dối nhiều. Chúng ta nghe lời nói mà muốn cho rành đường xu tỵ, chẳng nên
thiên vạn thẩm thận hay sao?
Xem mặt chữ ở trên chính văn bài này, nên để ý vào chữ
giả với chữ chi nhân; ba chữ chỉ đắp đổi mà
thôi.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!