ĐỀ BẠT TỪ

ĐỀ BẠT TỪ


Dịch giả biên đến cuối cùng sách, ngó lại toàn biên trước sau: Kể Kinh, có Thượng, Hạ nhị Thiên; kể
Truyện, có Thập Dực; kể quẻ, có sáu mươi tư quẻ; kể hào, có ba trăm tám mươi tư hào. Đạo lý chứa ở
trong ấy mang mang như hải, đãng đãng như trời.
Bây giờ muốn xách cuốn cương lĩnh mà tóm tắt ở vài ba trang giấy, thiệt là khó rất khó. Huống gì tự
bản thân dịch giả trí thức cạn gần, đối với Dịch lý, chẳng qua như người mù rờ voi, người lùn xem
tuồng, mà muốn giải thích Kinh văn, phát minh Kinh chí, chẳng khác gì khiến muỗi đội non đâu! Nhưng
khổ vì trót đặt thân vào xã hội, đóng một phần tử ở nhân quần. Ăn nhờ ai? Mặc nhờ ai? Ở nhờ ai? mà
nỡ ôm gối quanh năm bạn với con mọt giấy, cứu cánh không chút sở đắc gì cống hiến với bà con anh
em, thời cái thú vi sinh nhân quá chừng vô vị. Vậy phải đàn tinh kiệt tứ có sở đắc bao nhiêu thời xin
cống hiến bấy nhiêu.
Hơ lưng mặt trời mà xin dâng ấm, ăn rau cần đắng mà xin dâng ngon, gọi là tỏ tấm lòng trung ái với
đồng bào mà thôi.
Nay bản sách
Chu Dịch Quốc Văn Diễn Giải vừa xong, xin tổng kết lại mấy câu và trích cử đại khái ở
trong toàn thư mà chia làm ba bộ phận.
Bộ phận thứ nhất: Là tư tưởng nguyên lý của Dịch học, hoàn toàn là tư tưởng triết học.
Bắt đầu mở sách thời thấy được hai quẻ
Càn, Khôn là vũ trụ chi thỉ; đến cuối cùng sách, thời thấy hai
quẻ
Khảm, Li hợp thể, là thủy, hỏa tác dụng mà thành tạo hóa chi công; cuối cùng hết là quẻ Vị Tế,
vũ trụ chi chung nhi phục thỉ.
Thuộc về
vũ trụ quan, thời thái cực sinh lưỡng nghi, là âm dương, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng
sinh bát quái, sinh sinh mãi mãi cho đến lúc vô cùng.
Thuộc về
nhân sinh quan, thời đạo Càn thành nam, đạo Khôn thành nữ, âm dương giao hoán, nam nữ
tương cầu mà có
Hàm, Hằng, hai quẻ là nhân đạo chi thỉ chi chung. Thâm diệu thứ nhất lại ở quẻ Càn
có hào Dụng cửu “
Kiến quần long vô thủ“, thấy được tuyệt đối bình đẳng, là chân tính thành của nhân
sinh. Có quẻ Đồng
Nhân, đồng nhân vu dạ, hanh, thấy được đại đồng thực hiện là đại hạnh phúc của
nhân sinh.
Vũ trụ quan như thế, nhân sinh quan như thế, thiệt là tư tưởng của nhà Triết học rất cao thượng, rất bao
la, mà lại thu tóm vào trong ý nghĩa một chữ Dịch.
Bộ phận thứ hai: Là luân lý đạo đức của Dịch học.
Dịch học là một bộ sách dạy luân lý, vừa có trật tự, vừa có đạo đức, vừa có tinh thần, vừa có quy củ.
Càn, Khôn đối lập mà cha mẹ tịnh tôn, sáu con đồng thì bài liệt, mà anh em chị em cho đến vợ chồng
lớn bé, danh phận chỉnh tề. Đọc đến quẻ
Gia Nhân thời khuôn mẫu tề gia, vừa ân vừa nghĩa. Mà như
câu:
Phụ phụ, tử tử, huynh huynh, đệ đệ, phu phu, phụ phụ, nhi gia đạo chính.
Lại như câu:
Nữ chính vi hồ nội, nam chính vi hồ ngoại; nữ với nam tương đối, mà đến phụ với tử,
huynh với đệ, phu với phụ hoàn toàn là tương đối, luân lý đến thế, chẳng phải là rất công bình viên
mãn hay sao.
Bộ phận thứ ba: Là nhân sự ứng dụng của Dịch học.
Dịch tuy vẫn là triết học, nhưng triết học của Dịch là thực dụng mà không phải là không ngôn, là biến
thông mà không phải câu nệ. Như đọc đến quẻ
Nhu, quẻ Tụng, quẻ Lư, thời biết được nguyên do chiến
tranh sở dĩ khởi. Đọc đến quẻ
Phệ Hạp, thời biết được nguyên do hình luật sở dĩ sinh. Đọc đến quẻ
Lữ, thời khiến cho những người mất nước bỏ nhà biết đường lui tới. Đọc đến quẻ Cách thời biết được
những việc đổi cũ thay mới, biết lối hơn thua. Đọc đến sáu hào quẻ Di, thời biết được sự ăn uống nói
phô với nhân cách rất có quan hệ. Đọc đến quẻ
Thái, Bĩ, Bác, Phục, thời biết được Thịnh, Suy, Trị,

Loạn bởi trời tạo, nhưng cũng cốt người làm. Đọc đến những lời tiêu, tức, dinh, hư thời biết được
giàu, đói, sang, hèn là tương đối mà không phải tuyệt đối. Thảy những loài ấy suốt đầu đến cuối, thời
mỗi quẻ có công dụng của mọi quẻ, mỗi một hào có công dụng của mọi hào. Vả lại, tất thảy lời ở quái
hào, nhỏ từ thân một người, lớn đến một xã hội, một thế giới, thảy có lẽ là một phương châm trên
đường họa phúc.
Thuận đó, thời được cát, nghịch đó thời mắc hung, làm bổ ích cho nhật dụng nhân sinh, thiệt chẳng
phải như những nhà lý tưởng không đàm mà không biết với sự thực.
Vả lại, những sự tình nhỏ nhặt, công dụng tầm thường như “đồng ngưu chi cốc” ở quẻ
Đại Súc, “tức lộc
vô ngu” ở quẻ
Truân, “kiến thử phụ đồ” ở quẻ Khuê, “đê dương xúc phiên” ở quẻ Đại Tráng, lại đến
nhân tình ẩn vi, vật tình u ám, như “nữ tráng, vật thú” ở quẻ
Cấu, “lão phu đắc kì nữ thê” ở quẻ Đại
Quá
thảy miêu tả hết tình trạng ở nhân gian, óc nhà triết học, mà cả can trường bồ tát, cả thủ đoạn anh
hùng, như thế chúng ta lại càng không nên bỏ qua.
Nếu chúng ta mà chẳng phải dòng giống họ da vàng, con cháu nhà Hán học, thời chẳng cần gì ăn cơm
nhà mà nói chuyện láng giềng. Nhưng chẳng phải thế, chốn nhau cắt rốn ở phía Nam đám đất Á Châu,
mà cố sao bỏ tủ ngọc kho vàng đồ gia sản tự tổ tiên lưu truyền. Tiền nhân ta như Nguyễn Bỉnh Khiêm
(Bạch Vân Âm), Đào Duy Từ (Lộc Khê Bá) đã từng dùng đó mà so sánh với Thiệu Khang Tiết,
Trương Tử Phòng, thời lẽ nào con cháu ta bây giờ chẳng chịu bớt ít nhiều công phu thì giờ bươi móc
tìm tòi lấy đồ di sản!
Than ôi! Non khơi biển cách, đất quanh trời cao, qua La Mã mà tìm dấu cũ ông Bá Lạp Đồ, vượt Ấn
Độ mà ngửi hương tàn đức Thích Ca Như Lai, chưa chắc dấu cũ hương tàn đó đã thiệt hơn hẳn được
của di sản của tổ tiên ta hay chưa.
Dịch giả biên sách xin phụ thêm mấy lời này:
Nếm máu cũ của tiên nhân mà không dám quên.
Phơi tấm lòng với anh em ta mà không dám giấu.
Ý kiến có chốn lầm lỗi, chữ nghĩa có nhiều chốn quê mùa.
Xin nhờ các bậc cao minh bổ chính cho, họa may ngọn đuốc ở giữa đường đi đêm, lá buồm ở trên
thuyền vượt biển, bản sách đó cũng nhờ được chút ti ích may chăng?

HẾT

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!