CHU DỊCH THƯỢNG KINH – 30. QUẺ BÁT THUẦN LI

CHU DỊCH THƯỢNG KINH

30. QUẺ BÁT THUẦN LI


Ly trên; Ly dưới


Quẻ này là quẻ Bát Thuần Li. Li hạ cũng là Nội Li, Li thượng cũng là Ngoại Li. Trên dưới, trong ngoài
thảy Li nên tên quẻ đọc bằng Bát Thuần Li.


TỰ QUÁI


Tự quái: Hãm tất hữu sở lệ, cố thụ chi dĩ Li, Li giả lệ dã.
序卦: 陷者必有所麗, 故受之以離, 離者麗也.
Ý sắp đật thứ tự quẻ. Sau quẻ Khảm tiếp lấy quẻ Li là vì cớ sao?
Khảm nghĩa là hãm, đã hãm rồi tất phải có chốn nương dựa, nên sau quẻ Khảm tiếp lấy quẻ Li. Li
nghĩa là
lệ. Chữ Li có hai nghĩa:
Một nghĩa Li là lệ; theo về thể quẻ một nét âm ở giữa, nương dựa vào hai nét dương
trên dưới nên
học nghĩa Li là lệ. Lại một nghĩa Li là minh; vì chính giữa nét đứt đôi, tức là giữa trống không, tượng
là trung hư, hư thời sáng.
Lại tượng là mặt trời là lửa, thảy là giống sáng soi nên học nghĩa Li là minh.
PHỤ CHÚ: Dịch đến quẻ Khảm, Li là cuối cùng Thượng Kinh, chúng ta nên nhận cho ra ý thánh nhân
sắp thứ tự quẻ.
Vi sao mà sáu mươi tư quẻ. Càn, Khôn ở đầu hết, Khảm, Li ở trung gian. Ngầm nghĩ cho đến nơi thời
có ý nghĩa rất hay. Càn, Khôn là chân thể của trời đất mà làm nguyên tổ cho âm dương nên đặt đầu hết
Kinh.
Khảm, Li là trung tâm điểm của Càn, Khôn mà làm nên công dụng thủy, hỏa, bao nhiêu công dụng tạo
hóa trong lưỡng gian, rặt là phát nguyên ở thủy, hỏa; thủy, hỏa thiệt là đắc thiên địa chi trung nên đặt
Khảm, Li chính giữa Kinh.
Nguyên Dịch lí chỉ có nhất âm nhất dương, thuần âm thành ra
Khôn, thuần dương thành ra Càn. Lấy nét
chính giữa Càn mà trao đổi cho Khôn thành ra
Khảm, lấy nét chính giữa Khôn mà trao đổi cho Càn
thành ra
Li, nên nói rằng: Khảm, Li là thiên địa chi trung. Theo về phương hướng thời Khảm chính
Bắc, Li
chính Nam. Theo về thì gian thời Khảm là giờ Tí, đúng giữa nửa đêm, Li là giờ Ngọ, đúng
giữa nửa ngày.
Theo về nhân tâm thời
Khảm trung thực là chữ Thành; Li trung hư là chữ Minh.
Trung thực nghĩa là trong lòng chắc đặc, ấy là thành. Trung hư nghĩa là trong lòng trông không, ấy là
minh. Thành, minh thảy khởi tự trong lòng mà ra, đó chính là diệu dụng của Khảm, Li. Vì chân lí là vô

hình nên thánh nhân phải mượn vạch quẻ là hữu hình mà phát minh cho ta hiểu. Càn, Khôn ở đầu Kinh,
Khảm, Li ở giữa Kinh là bao hàm chân lí như thế.


SOÁN TỪ


Li, lị trinh, hanh, súc tẩn ngưu, cát.
離利貞, , 畜牝牛, .
Nguyên lai chữ Li có nghĩa chính, phản. Nghĩa chính chữ Li là dếnh dựa; nghĩa phản chữ Li là rời lìa.
Nhưng ở đây chỉ lấy bằng nghĩa chính thời Li nghĩa là dếnh dựa. Vạn vật không vật gì không chốn dếnh
dựa. Tỉ như: Loài chim dếnh dựa vào rừng, cá dếnh dựa vào nước mà đến loài người cũng thế, hoặc
bạn hữu dếnh dựa nhau mà nên đức nghiệp, hoặc cha con, vợ chồng, anh em dếnh dựa nhau mà nên gia
đình, hoặc loài người dếnh dựa nhau mà nên dân tộc hay xã hội, tất thảy gọi bằng
hữu sở lệ.
Nói cho đến rất nhỏ thời dếnh dựa vào đường lối nào mà đi, dếnh dựa vào nghề nghiệp nào mà sống,
thảy là
hữu sơ lệ.
Nghĩa chữ Li lệ bao hàm rất rộng lớn, nhưng mà hễ đã có dếnh dựa thời trong lúc dếnh dựa có hai
phương diện: một thời dếnh dựa vào lối chính, một thời dếnh dựa vào lối tà.
Tỉ như: Dếnh dựa vào quân tử, thánh hiền, v.v. thời là chính; dếnh dựa vào tiểu nhân, đạo tặc, v.v. thời
là tà. Dếnh dựa vào chính thời dếnh dựa mà hay; dếnh dựa vào tà thời dếnh dựa mà dở. Vì cách dếnh
dựa phức tạp mà lại quan hệ nhân sinh như thế nên Quái từ nói rằng:
Li, lị trinh, hanh, nghĩa là:
Người tất phải có chốn dếnh dựa mà cốt nhất là dếnh dựa cho được chính thời mới hanh.
Quái từ lại lấy thêm vào một nghĩa mà thí dụ bằng
súc tẩn ngưu, nghĩa là: Li vốn đã minh rồi, nếu
minh thái quá thành ra nước trong quá thời không cá, người minh sát quá thời không bầy, nên lại phải
hết sức thu liễm đức minh của mình mà nuôi chứa lấy đức thuận của mình. Ví như: nuôi con trâu cái
thời được lành. (Ngưu là thuần vật mà lại tẩn ngưu là thuận chi chí, súc tẩn ngưu là tỉ dụ bằng nuôi đức
thuận). Quái từ thêm vào tượng ấy là sợ người ta quá dụng tài minh sát vậy.


SOÁN TRUYỆN


Soán viết: Li lệ dã, nhật nguyệt lệ hồ thiên, bách cốc thảo mộc lệ hồ địa. Trùng minh dĩ lệ hồ chính,
nãi hóa thành thiên hạ. Nhu lệ hồ trung chính, cố hanh, thị dĩ súc tẩn ngưu, cát dã.
彖曰: 離麗也, 日月麗乎天, 百穀草木麗乎地. 重明以麗乎正, 乃化成天下. 柔麗乎中正, 故亨,
以畜牝牛吉也
.
Soán viết: Li lệ dã, nhật nguyệt lệ hồ thiên, bách cốc thảo mộc lệ hồ địa.
Li nghĩa là dếnh dựa. Tỉ như mặt trăng, mặt trời thời dếnh dựa vào thiên không, trăm giống lúa cây cỏ
thời dếnh dựa vào trái đất, trong lưỡng gian không một giống gì không dếnh dựa, nhưng Soán Truyện
chỉ cử vào giống rất lớn mà nói.
PHỤ CHÚ: Thầy Quy Sơn có câu rằng: Hỏa vô thường hình, lệ vật nhi hữu hình 火無常形, 麗物而
有形
, nghĩa là: Lửa vẫn không hình nhất định (Li nguyên là lửa), vì có chốn dếnh dựa, ta mới thấy
được hình. Chính giữa bản thân người được Khảm thủy làm tinh, được Li hỏa làm thần. Vì khí âm
dương kết hợp mà thành ra hình. Khi sống thời tinh thần dếnh dựa vào hình. Đó cũng là nghĩa Li lệ.

Trùng minh dĩ lệ hồ chính, nãỉ hóa thành thiên hạ.
Đây là lấy đức quẻ, thích nghĩa tên quẻ, Lí có tượng là minh, trên Li, dưới Li là có tượng trùng minh.
Nhưng quẻ Li sở dĩ thành quẻ là cốt ở hào Nhị, hào Ngũ nên chỉ nói riêng về Nhị, Ngũ. Nhị, Ngũ thảy
xử vào vị trung, thế là trên dưới thảy có đức minh mà lại xử vào vị trung chính là
trung minh dĩ lệ hồ
chính
mới hóa được thiên hạ mà thành ra đời văn minh.
Nhu lệ hồ trung chính, cố hanh, thị dĩ súc tẩn ngưu, cát dã.
Hào Nhị: hào Ngũ có tính chất nhu thuận mà dếnh dựa ở đạo trung chính, sở dĩ được hanh. Bởi vì thế
nên nuôi đức chí thuận mà được cát vậy (
Súc tẩn ngưu, ý là nuôi đức chí thuận vì chí thuận nên tỉ dụ
bằng tẩn ngưu, chớ nhận thực rằng tẩn ngưu là trâu cái).
PHỤ CHÚ: Chữ Trung chính ở đây, nói góp cả Nhị, Ngũ, nhưng theo thường lệ ở mỗi quẻ., Lục cư Nhị
vẫn trung chính đã đành, còn Lục cư Ngũ thời trung mà bất chính, cớ sao lại nói luôn chữ trung chính?
Đó chính là thì nghĩa của
Kinh Dịch. Ở vào thời Li chỉ cốt xem ở nơi phụ lệ, phụ lệ vào chốn trung,
tức thị chính. Đạo Dịch quý trọng nhất là chữ trung, thiên hạ thường có chính mà không trung, hễ đã
trung, tất nhiên chính đó vậy.


ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN


Tượng viết: Minh lưỡng tác Li. Đại nhân dĩ kế minh, chiếu vu tứ phương.
象曰: 明兩作, . 大人以繼明照乎四方.
Minh lưỡng tác ở quẻ Li, cũng như “thủy tấn chí” ở quẻ Khảm. Li là hỏa là nhật, đây chuyên chỉ bằng
mặt trời: Mặt trời ngày nay sáng, ngày mai sáng, đức sáng trùng điệp phát khởi hoài. Đó là tượng Li.
Bậc đại nhân xem tượng ấy sẽ tiếp tục đức minh, soi dọi ở bốn phương (
Kế: nổi tiếp; kế minh: Nối
tiếp đức minh).
Tỉ như đời trước minh, đời sau cũng minh; hoặc việc trước minh, việc sau cũng minh, thảy gọi bằng kế
minh được cả, nhưng cớ sao chuyên thuộc về đại nhân? Bởi vì có đức như thánh nhân, có vị như bậc
nguyên thủ mới có thể chiếu lâm được khắp bốn phương.


HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN


1. Sơ Cửu: Lí thác nhiên, kính chi, vô cựu.
初九: 履錯然, 敬之無咎.
Xử vào thể Li, sự vật vẫn là phân tạp mà Sơ Cửu dương cương cư hạ, vả lại có tính lửa, càng nóng
chảy muốn bùng lên. Tượng như người nóng nảy muốn ra đi, xâu giày nhố nhăng.
(Lí: xâu chân vào giày,
thác nhiên: có ý lốp xốp).
Thánh nhân thấy ở đầu thì Li, sự tình còn lộn nhộn mà tính chất Sơ Cửu lại nóng nảy cầu tiến quá hăng,
e không tránh khỏi tội lỗi nên lại răn cho rằng:
Kính chi vô cựu, nghĩa là: Phải kính cẩn đậm đà thời
mới khỏi tội lỗi.

PHỤ CHÚ: Chữ Kính đây cũng như chữ giới thận, khủng cụ 戒慎, 恐懼 ở sách Trung Dung, dương
cương mà lại li minh, vẫn là chất tốt, nhưng bắt đầu vào thì Li, trí thức chưa được giàu, duyệt lịch
chưa được rộng. Nếu khinh táo võng động mà không biết giới thận khủng cụ thời tội lỗi đến ngay. Chữ
Kính chi ở Hào từ chính là một vị thuốc chữa bệnh táo tiến cho người đời vậy.
Tượng viết: Lí thác chi kính, dĩ tị cựu dã.
象曰: 履錯之敬, 以避咎也.
Đức kính trong lúc lí thác cốt để tránh điều lỗi lầm vậy.
Tòng lai, tri bất minh thời hành bất thận
知不明, 不行慎, lí thác nhiên mà biết kính chi, nhân vì tường
thẩm ở lúc tri mà khỏi sai suyễn ở lúc hành nên được vô cựu.
2. Lục Nhị: Hoàng li, nguyên cát.
六二: 黄離, 元吉.
Lục Nhị ở hào tốt nhất trong quẻ Li, vị Nhị đã đắc trung, Lục cư Nhị lại đắc chính, ở vào thể Li lại có
đức văn minh. Bản thân Nhị đã có đức văn minh trung chính mà trên ứng với Ngũ cũng văn minh trung
thuận; minh được như thế mà sở lệ lại đúng như thế, thiệt tốt lớn không ai bằng, nên Hào từ nói rằng:
Hoàng li, nguyên cát. Hoàng là sắc trung mà lại có vẻ đẹp, hình dung đức văn minh trung chính, Cửu
Nhị sở lệ được đúng nên dùng chữ
hoàng li.
Tượng viết: Hoàng li, nguyên cát, đắc trung đạo dã,
象曰: 黄離元吉, 得中道也
Hoàng li sở dĩ nguyên cát, bởi vì được đạo chính trung vậy. Hào Nhị vẫn kiêm cả trung chính, nhưng
không cần nói chính là bởi vì có Nhị mới thành ra Li, có trung mới thành được văn minh. Trung là chú
trọng ở quẻ Li, chữ chính đã nuốt vào trong chữ trung.
3. Cửu Tam: Nhật trắc chi li, bất cổ phẫu nhi ca, tắc đại diệt chi ta, hung.
九三: 日昃之離, 不鼓缶而歌, 則大奎之差, .
Quẻ Li này hai thể thảy là tượng mặt trời, Cửu Tam ở về cuối cùng hạ thể, tượng là mặt trời ngày nay
sắp lặn, mà mặt trời ngày mai chưa mọc lên nên nói rằng
nhật trắc chi li.
Trắc
là mặt trời gần lặn; nhật trắc là buổi gần hoàng hôn. Tỉ dụ vào tâm lí người ta thời vật dục đã có
hơi bịt bùng mà bản thể quang minh hầu đến ngày mờ mịt, người đến lúc ấy tất nhiên ăn ở không nhằm
lẽ, ưu lạc thảy thất thường, khi không đáng vui mà vui, khi không đáng buồn mà buồn, chẳng đập trống
mà hát thời khóc than vì già lẫn quá chừng. Như thế chẳng hung còn gì nữa.
PHỤ CHÚ: Đường Thi có câu: Ngô ca, Sở vũ hoan vị tất, Tây sơn dục hàm bán biến nhật 吳歌楚舞
歡未畢
, 西山欲啣半邊日, nghĩa là: Hát Ngô múa Sở dở dang, mặt trời đã nửa ngậm gương non
Đoài.
Lại có câu:
Thương nữ bất tri vong quốc hận, cách giang do xướng Hậu Đình Hoa 商女不知亡國恨, 隔江猶

唱後庭華.
(Con buôn biết nước mất đâu, Cách sông hát bướng mấy câu Hậu Đình).
Cổ phẫu nhi ca ở hào này là nghĩa như thế. Trong sách
Tả Truyện, Triệu Mạnh thấy bóng mặt trời
chiếu mà than rằng: Buổi mai không kịp tính đến buổi hôm, có hơi sức gì chờ được năm năm.
Triệu
Mạnh Thị Âm
viết: Triêu tịch bất tương cập, thùy năng đãi ngũ 朝夕不相及谁能待五.
Đó chính là câu:
Đại diệt chi ta, chữ bất với chữ tắc hô ứng với nhau nghĩa là chẳng vui tầm vơ thời
buồn tầm bậy. Tổng chi, ưu lạc giai thất kì thường, hình dung một hạng người tâm tình hôn ám, không
khác gì Li ở lúc nhật trắc.
Tượng viết: Nhật trắc chi li, hà khả cửu dã.
象曰: 日昃之離, 何可久也.
Li mà đụng lúc mặt trời đã xế rồi, thế là đức minh đã đến lúc hôn, còn lấy gì lâu đặng.
4. Cửu Tứ: Đột như, kì lai như, phần như, tử như, khí như.
九四: 突如, 其來如, 焚如, 死如, 棄如.
Cửu Tứ vượt qua quẻ dưới mà bắt đầu bước vào quẻ trên, chính vừa lúc tiền minh đã tắt mà hậu minh
sắp sửa tới, đương thời đại ấy, nêu được người kế thừa cho tốt vẫn có nhịp hay.
Nhưng Cửu Tứ thời trái hẳn, bản thân là dương cương, sẵn có tính táo mà lại ở vị Tứ, đã bất chính lại
bất trung, thấy Lục Ngũ âm nhu ở trên mình, toan thả ngón cương cường của mình ra mà lăng bức Ngũ,
tượng như thình lình chạy tới trước mặt Ngũ khí thế lồng loạt như toan đốt người.
Một người ở vào thời đại thừa kế mà láu táu vụng về, cương cường thủ họa như Cửu Tứ ấy, còn làm
sao khỏi mình chết, chúng bỏ được đâu.
Cửu Tứ tương tự như Đổng Trác ở đời Hán, Nguyễn Chỉnh ở triều Tây Sơn.
Tượng viết: Đột như, kì lai như, vô sở dụng dã.
象曰: 突如, 其來如, 無所容也.
Uy bức kẻ trên như Cửu Tứ thời thiên hạ không chốn nào dụng nó được vậy.
Đột như, kì lai như là hình dung cách táo bạo, phần như là hình dung khí nóng sôi; vô sở dụng là kết
quả phải tử khí.
5. Lục Ngũ: Xuất thế đà nhược, thích ta nhược, cát.
六五: 出涕沱若, 戚嗟若, .
Lục Ngũ có đức văn minh của Li, sở xử lại đắc trung, vẫn sẵn có thể tốt, nhưng vì bản chất âm nhu,
đứng vào chính giữa hai hào dương, trên ép dưới đẩy là mắc vào hoàn cảnh khó khăn, duy hào Ngũ có
đức minh hết sức phòng ưu lự hoạn, sẽ chống chọi với hoàn cảnh nổi nên kết quả được tốt lành. Vậy
nên Hào từ nói rằng:
Xuất thế đà nhược, thích ta nhược, nghĩa là: Lo sợ quá riết, tượng như nước mắt
sụt sùi; tính nghĩ quá sâu, tượng như thở vắn than dài mà không nghỉ. Lục Ngũ vẫn có đức đáng được
tốt mà Hào từ chỉ tỏ ra một cách ưu cụ cũng chỉ vì thời thế bắt buộc nên thế (
Xuất thế, nghĩa là: nước
mũi chảy ra;
đà là có ý chảy dầm dề; thích nghĩa là lo hung; ta nghĩa là than thở).

PHỤ CHÚ: Chữ ta ở hào Ngũ với chữ ta ở hào Tam tuy nghĩa đen in nhau, nhưng ta ở hào Tam là một
hạng người mê mẩn tâm thần mà thở than, Ta ở hào Ngũ lại một hạng người tri cơ úy cụ mà thở than.
Tượng viết: Lục Ngũ chi cát, li vương công dã.
象曰: 六五之吉, 離王公也.
Lục Ngũ sở dĩ được cát, bởi vì cách sở lệ của Ngũ xứng được Vương công vậy.
6. Thượng Cửu: Vương dụng xuất chinh, hữu gia, chiết thủ, hoạch phi kì xú, vô cựu.
上九: 王用出征, 有嘉, 折首, 獲匪其醜, 無咎.
Thượng Cửu ở trên cùng Nhị thể trùng minh, mà lại bản chất dương cương, chính là cương minh đến
cực điểm, có đức minh thời hay soi dọi, có đức cương thời hay quyết đoán.
Vương giả nên dụng tài cương minh ấy để đi trừng ác trừ tà mà ra làm việc chinh phạt, thời tất có công
tốt đẹp.
Tuy nhiên, vì cương minh quá, sợ có khi dựa vào cách tàn bạo nên lại phải uy cho vừa đắc trung, hình
cho vừa đúng tội, không nên quá tay, khi ra đánh giặc dẹp loạn, chỉ bắt lấy những tay khôi thủ mà thôi
(
Chiết thủ: chỉ bắt những anh đầu bầy). Còn như những phe tụi nó, chẳng qua là bị hiếp tùng thời ta
chẳng bắt buộc nó làm gì (
Hoạch: bắt sống được; xú: loài tụi). Như thế thời vô cựu.
Tượng viết: Vương dụng xuất chinh, dĩ chính bang dã.
象曰: 王用出征, 以正邦也.
Vương giả dụng lấy tài đức Thượng Cửu: để xuất chinh, cốt để trì ác cho thiên hạ, chính lí được bang
quốc là thôi.
Chinh, nguyên có nghĩa là chính.
Mạnh Tử có câu: Chinh chi vi ngôn chính dã征之為言正也, nghĩa là: Chinh được những hạng người
bất chính ấy là chính.
Từ đây sắp lên, cộng ba mươi quẻ là dịch xong
Chu Dịch Thượng Kinh.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!