CHU DỊCH THƯỢNG KINH – 29. QUẺ BÁT THUẦN KHẢM

CHU DỊCH THƯỢNG KINH

29. QUẺ BÁT THUẦN KHẢM

Khảm trên; Khảm dưới


Quẻ này là quẻ Bát Thuần Khảm. Khảm hạ cũng là Nội Khảm, Khảm thượng cũng là Ngoại Khảm.
Trên dưới trong ngoài thảy Khảm, nên tên quẻ đọc bằng Bát Thuần Khảm.


TỰ QUÁI


Tự quái: Vật bất khả dĩ chung quá, cố thụ chi dĩ Khảm, Khảm giả hãm dã.
序卦: 物不可以終過, 故受之以坎, 坎者陷也.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Đại Quá tiếp lấy quẻ Khảm là vì cớ sao?
Vật lí không thể quá được mãi, hễ quá rồi tất nhiên sụp vào hiểm. Vậy nên sau quẻ Đại Quá tiếp lấy
quẻ Khảm. Khảm nghĩa là sụp, cũng có nghĩa là hiểm.
Theo về thể quẻ, trên dưới hai âm, một hào dương ở chính giữa, thành ra nhất dương hãm vào giữa nhị
âm nên lấy nghĩa bằng Khảm hãm mà đặt tên quẻ bằng Khảm.
Lại một nghĩa: Khảm là nước, hiểm sâu không gì hơn nước, nên Khảm cũng là tượng hiểm.


SOÁN TỪ


Tập Khảm, hữu phu, duy tâm hanh, hành hữu thượng.
習坎, 有孚, 維心亨, 行有尚.
Các quẻ Bát Thuần khác, tên quẻ chỉ có một chữ, duy quẻ Khảm này, Soán từ thêm vào chữ “Tập” mà
đọc bằng “Tập Khảm” nghĩa là trên, dưới thảy là Khảm, Khảm vẫn là hiểm, hiểm đến hai lần, muốn
cho rõ ý nghĩa hiểm trung hữu hiểm nên gọi bằng Tập Khảm.
Tập nghĩa là lần lớp, cũng như nghĩa chữ
Trùng. Tập Khảm, tức là trùng hiểm.
Người xử vào thời đại trùng hiểm là hoàn cảnh rất nguy, nhưng xem tượng quẻ mà tìm ra một cách xử
hiểm thời vẫn không sợ gì hiểm. Vì tượng Khảm nhất dương ở chính gìữa, dương vi thực, chính giữa là
tâm người ta; dương thực ở chính giữa là sẵn có lòng tín thực, tín thực tức là chí thành, tuy hoàn cảnh
thời hiểm mà tâm mình vẫn hanh thông. Lòng chí thành của mình tới đâu cảm động đó, chẳng những
không lo gì hiểm nạn mà lại tiến hành chắc hữu công (
Hành: đi, hữu thượng; có công).
PHỤ CHÚ: Vì sao Khảm lại tượng bằng Thủy, nguyên lai, chân tính của Thủy, tất ở chính giữa lòng
nước. Trên mặt nước không khỏi pha vào cặn bã, dưới đáy nước không khỏi trộn vào chất bùn đất; nên

muốn tìm chân tính Thủy tất phải xem xét ở giữa dòng nước.
Quẻ Khảm nhất dương ở giữa, dương là minh, dương là thực, thực với minh ở chính giữa lòng, ấy là
Thủy. Vậy nên Khảm tượng bằng Thủy.
Lại vì sao mà Khảm là hiểm, bởi vì nhất dương sụp vào giữa nhị âm, dương đầu muốn thoát ra đường
nào cùng khó thoát cả nên tượng là Hiểm hãm.
Quái từ
hữu phu, duy tâm hanh là dạy cho người ta bằng đạo xử hiểm; hoàn cảnh tuy hiểm mặc dầu,
nhưng có lòng chí thành chất chứa trong thời tinh thần vẫn hanh thông.
Tống Nhân có câu thơ:
Binh sinh tượng trung tín, kim nhật thiệp phong ba 平生仗忠信, 今日涉風
, nghĩa là: Ngày thường giữ chất trung tín, ngày nay dầu xông pha sóng gió chẳng sợ gì.
Người Nhật Bản có câu:
Tinh thành sở chí, kim thạch năng khai 精誠所至, 金石能开, nghĩa là:
Những chốn tinh thành thấu tới nơi thời đá vàng cũng phải nứt nở, chính là dùng đạo hữu phu duy tâm
hanh mà bước qua được hồi Khảm hiểm vậy.


SOÁN TRUYỆN


Soán viết: Tập khảm, trùng hiểm dã. Thủy lưu nhi bất dinh, hành hiểm nhi bất thất kì tín; duy tâm hanh,
nãi dĩ cương trung dã. Hành hữu thượng, vãng hữu công dã. Thiên hiểm, bất khả thăng dã, địa hiểm,
sơn xuyên khưu lăng dã. Vương công thiết hiểm, dĩ thủ kì quốc. Hiểm chi thì dụng, đại hỉ tai.
彖曰: 習坎, 重險也. 水流而不盈, 行險而不失其信; 維心亨, 乃以剛中也. 行有尚, 往有功也.
險不可升也
, 地險山川丘陵也. 王公設險以守其國, 險之時用大矣哉.
Soán viết: Tập khảm, trùng hiểm dã.
Sở dĩ gọi bằng Tập Khảm là vì hai lần hiểm vậy.
Thủy lưu nhi bất dinh, hành hiểm nhi bất thất kì tín.
Đây là lấy tượng quẻ thích hai chữ hữu phu. Theo như tượng Khảm thời tượng là Thủy. Hễ tính Thủy
vẫn thường chảy luôn mà không bao giờ ứ lại. Đổ vào vực sâu, tràn đầy bổ rộng, vẫn là đi giữa chốn
hiểm, nhưng mà đêm đêm ngày ngày như thế, năm năm tháng tháng như thế, không bao giờ mất tính tin
thật. Đó là đức tính Khảm mà in như Khảm trung thực, nên Soán từ nói rằng:
Hữu phu.
Duy tâm hanh, nãi dĩ cương trung dã.
Duy có chí thành thời trong lòng thường được thư thái là vì có đức dương cương trong lòng vậy.
Hành hữu thượng, vãng hữu công dã.
Hành hữu thượng nghĩa là đi tiến lên thời thoát khỏi hiểm mà có công vậy.
Thiên hiểm bất khả thăng dã, địa hiểm, sơn xuyên khưu lăng dã, vương công thiết hiểm, dĩ thủ kì
quốc, hiểm chi thì dụng, đại hỉ tai.
Trên đây đã nói Khảm là tượng hiểm, nhưng hiểm có hai phương diện: Một là, hiểm thuộc về phần vô

hình là hiểm của trời. Hai là, hiểm thuộc về phần hữu hình là hiểm của đất.
Trời chỉ là không khí vô hình mà người không thể nào lên tới trời được. Đó là thiên hiểm.
Đất có núi sông, cồn gò, chốn cao thời khó thể trèo, chốn sâu thời khó thể dò. Đó là địa hiểm.
Thánh nhân bắt chước hiểm của trời đất mà đặt ra một cách bằng nhân hiểm, dùng để hạn ngự ngoại vụ
thời có: “câu”, “hào”, “thành”, “quách”; dùng để kiên cố nhân tâm thời có: “chính”, “hình”, “uy”,
thưởng”; dùng những cách hiểm đó, để giữ nước nhà. Thế là thì dụng của hiểm, rất lớn vậy thay.
PHỤ CHÚ: Lời Soán Truyện tán các quẻ, chỉ tán bằng một chữ thì mà ở quẻ Khảm thời lại thêm vào
chữ dụng.
Bởi vì hiểm có thì, có dụng, tỉ như: Trong nước gặp lúc hoạn nạn, trong nhà gặp lúc tai biến là hiểm
chi thì. Những việc binh hình chính giáo để ngăn ngừa họa loạn, những việc trừ súc dự bị tiền gạo,
thuốc thang, v.v. để phòng bị tai nạn, thảy là hiểm chi dụng.
Tổng chi, hiểm thuộc về thì là cảnh ngộ vô thường, Hiểm thuộc về dụng là công việc hữu thường. Như
câu sách nói
hữu bị vô hoạn 有備无患, với câu phòng hoạn ư vị nhiên 防患於未然 thảy là hiểm chi
dụng; hiểm chi thì chắc không bao giờ không, hiểm chi dụng chắc lúc nào cũng phải có, nên nói: diểm
chi thì, dụng, đại hĩ tai!


ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN


Tượng viết: Thủy tấn chí, Tập Khảm. Quân tử dĩ thường đức hạnh, tập giáo sự.
象曰: 水楊至習坎, 君子以常德行, 習教事.
Theo như tượng quẻ Khảm, Khảm trên chuyền xuống Khảm dưới, Khảm dưới hứng đỡ Khảm trên,
nước lần lượt chảy tới mãi mà không cùng. Đó là tượng Tập Khảm.
Quân tử xem tượng ấy, học theo cách Tập Khảm, dùng để mà tu thân thời thường thường tu tỉnh đức
hạnh của mình, một ngày như vậy, một năm như vậy, một đời cũng như vậy. Dùng để mà trì nhân thời
thực tập các việc giáo dục, dạy cho nó tất phải chuyên luyện cho nó, tất phải kĩ. Đó là bắt chước theo
tượng Khảm vậy.
PHỤ CHÚ: Chữ Tập trên chữ Khảm, thủ nghĩa rất hay. Tập có hai nghĩa: Một là lần lượt, ôn đi tập lại
không bao giờ quên. Đức Khổng có câu:
Học nhi thì tập chi 學而時習之, nghĩa là: Đã bắt chước
được rồi thời phải buổi buổi ôn tập luôn. Quân tử dụng nghĩa ấy mà thường đức hạnh. Một là tập quán,
ngày ngày đêm đêm, rót sâu đúc chín, khiến cho tai quen mắt luyện mà thành ra tập quán.
Quân tử có câu:
Tập nhi an yên, bất kiến dị vật nhi thiên yên 習而安焉, 不見二異物而遷焉, nghĩa
là tập mãi thành quen mà an trí vào óc, chẳng bao giờ thấy cách khác mà dời đổi. Quân tử dùng nghĩa
ấy mà tập giáo sự, chi một chữ Thường là bao nuốt hết nghĩa tu thân, chỉ một chữ Tập là bao nuốt hết
nghĩa dạy dân; nước từ một giọt suối mà chảy hoài thời có ngày thành sông thành biển. Người ta cứ từ
một việc tốt mà làm hoài hoài thời có ngày nên thánh hiền, ý nghĩa chữ Thường, chữ Tập, của thánh
nhân, sâu xa như thế.
1. Sơ Lục: Tập Khảm, nhập vu Khảm hạm, hung.
初六: 習坎, 如雨坎審, .
Sơ Lục là bản chất âm nhu mà lại ở dưới hết địa vị trùng hiểm, tượng như người sảy chân xuống vực

hiểm, càng quậy cựa thời sụp càng sâu nên nói rằng: Tập Khảm. Chữ Tập này khác nghĩa chữ Tập ở
trên quẻ, Tập Khảm nghĩa là quen thục cách vào hiểm; Khảm hạm nghĩa là vũng sâu nhất trong chốn
hiểm.
Vì có tính chất nhu ám, thấy Khảm hiểm mà không biết đường tránh, ỷ mình quen hiểm, vào càng mám
thời sụp càng sâu, nền đến nỗi
nhập vu Khảm hạm. Thế tất nhiên hung.
Cổ ngữ có câu:
Thiện du giả, tất tử ở thủy 善游者, 必死於水, nghĩa là những người hay nghề bơi, tất
chết với vạ nước; hay nghề bơi tức là Tập Khảm, chết với vạ nước tức là nhập vu Khảm hạm mà hung.
Tục ngữ có câu
cơ thâm, họa chuyển thâm 幾深禍轉幾, cũng là nghĩa ấy.
Tượng viết: Tập Khảm, nhập Khảm, thất đạo hung dã.
象曰: 習坎, 入坎, 失道, 凶也.
Tượng Truyện thích Hào từ lại càng minh bạch lắm. Bởi vì Tập Khảm mà khắc họa nhập Khảm, thế là
cách sở tập trái mất đường lối nên mắc hung đó vậy.
(
Thất đạo, sai mất đường lối).
2. Cửu Nhị: Khảm hữu hiểm, cầu tiểu đắc.
九二: 坎有險, 求小得.
Cửu Nhị có đức dương cương mà lại đắc trung, đã dương cương thời tài đủ hộ thân, đắc trung thời trí
đủ biết tính việc, đáng lẽ không sợ gì hiểm nạn, nhưng vì hoàn cảnh Cửu Nhị chính đương ở giữa trùng
hiểm, gặp lấy thì Khảm, chẳng cách gì tránh khỏi hiểm nên nói rằng:
Khảm hữu hiểm.
Tòng lai, anh hùng tuy có sức đủ chống với thời thế, nhưng thời thế cũng có sức làm khốn được anh
hùng, có tài cương trung như Cửu Nhị mà bị trên dưới nhị âm vây bọc, muốn làm được sự nghiệp lớn
có dễ dàng đâu nên phải tích ngày lũy tháng, từ một phân một tấc gày lên, miễn cho được đôi tí cỏn
con, năm chồng tháng chất, tượng như nước chảy từ một giọt bắt đầu nên nói rằng
cầu tiểu đắc.
Tiểu đắc
nghĩa là chỉ vừa được chuyện nhỏ mà thôi, nhưng mà tích lũy nghìn muôn cái nhỏ thời thành
được một cái rất lớn, chính là một phương pháp rất hay cho quân tử ở thì Khảm.
PHỤ CHÚ: Cửu Tứ quẻ Dự với Cửu Nhị quẻ Khảm hai hào thảy dương cư âm vị. Duy Khảm Nhị có
tài cương trung, đáng lẽ Khảm Nhị thành tựu hơn Dự Tứ, nhưng mà hào tứ Dự Tứ thời nói rằng
đại
hữu đắc
còn Hào từ Khảm Nhị thời chỉ cầu tiểu đắc mà thôi. Đó mới biết chữ “thì” ghê gớm thiệt.
Cửu Tứ Dự là ở thời đại vui vẻ, thuận thì thuận thế mà làm nên đại anh hùng.
Cửu Nhị Khảm ở thời đại nguy hiểm nên trái thì trái thế, may chỉ làm nên một bậc quân tử, hai bên tài
dương cương in nhau mà sự thành tựu thời đại tiểu khác nhau. Dịch tùy thì tùy đạo là như thế.
Tượng viết: Cầu tiều đắc, vị xuất trung dã.
象曰: 求小得, 未出中也.
Có tài cương trung như Cửu Nhị cớ sao chỉ cầu tiểu đắc mà thôi? Bởi vì địa vị của Cửu Nhị chưa ra
khỏi giữa Khảm hiểm vậy. Chữ
trung nghĩa là chính giữa Khảm.
3. Lục Tam: Lai chi Khảm Khảm, hiểm thả chẩm, nhập vu Khảm hạm, vật dụng.
六三: 來之坎坎, 險且枕, 入于坎審, 物用.

Lục Tam bản chất đã âm nhu mà sở xử lại bất trung chính, lấy tư cách một người như thế mà ở vào thì
Khảm hiểm, ngó lên trước mặt thấy Khảm, quay lại sau lưng cũng thấy Khảm, tài đã hèn mà cảnh lại
nghịch, lên lui chẳng đường nào xong, chỉ duy sụp vào hố Khảm mà thôi nên Hào từ nói rằng:
Lai chi
khảm khám.
Lai
nghĩa là lại là lui lại xuống dưới; chi nghĩa là đi là đi lên phía trên, lui lại thấy Khảm, bước lên
cũng thấy Khảm. Thế là:
Lai chi Khảm Khảm, hiếm thả chẩm.
Hiểm là
mặt trước ở hiện tại; chẩm là gối kê ở phía sau, trước mặt đã hiểm, sau lưng lại ké vào chốn
hiểm.
Thế là:
Hiểm thả chẩm.
Cảnh ngộ của Lục Tam đã như thế thời chỉ càng sụp càng sảu mà thỏi.
Tuy nhiên, cảnh ngộ là thuộc về phần trời mà chống chèo với cảnh ngộ lại thuộc về phần người.
Nêu sức người đủ tranh lại với trời thời còn có thể dùng được. Kìa bất trung chính mà lại âm nhu như
Lục Tam, dầu có gặp cảnh ngộ gì khác nữa, cũng chẳng làm gì xong, nên Hào từ lại nói:
Vật dụng. Chữ
Vật dụng là bảo cho những người ở đời Khảm, chớ dùng Lục Tam này.
Tượng viết: Lai chi Khảm Khảm, chung vô công dã.
象曰: 來之坎坎, 終無功也.
Cảnh ngộ và tính chất như Lục Tam: thời chẳng những lai chi Khảm Khảm mà thôi mà kết quả chỉ là
thất bại vậy. Bởi vì âm nhu lại bất trung chính, còn làm nên việc gì.
4. Lục Tứ: Tôn tửu quỹ, nhị dụng phẫu, nạp ước tự dũ, chung vô cựu.
六四: 樽酒簋貳用缶, 納約自牖, 終无咎.
Lục Tứ ở vào quẻ trên là được ở ngôi cao, lại thân cận với Cửu Ngũ là một vị quốc trưởng, tượng như
một bậc đại thần cận quân. Duy ở thì Khảm hiểm mà bản thân lại âm nhu, bảo Tứ làm những việc lỗi
lạc quang minh mà tế hiểm cứu đời, thiệt Tứ không làm được, may nhờ Tứ là người đắc chính, mà Cửu
Ngũ với Tứ cương, nhu tương đắc nên thánh nhân lại dạy cho Tứ một phương pháp rằng: Ở đời hiểm
nạn mà mình đã đứng ở vị đại thần, chỉ duy kết nạp quốc trưởng bằng chí thánh mà lại phải ủy khúc
bằng cách cơ trí mà xong, lấy chí thành mà kết nạp thời không nên sùng thượng phiền văn, lấy cơ trí
mà chu hoàn thời bất tất cầu chấp chính đạo. Như thế thời mới mong khai phát được chốn bế tắc cho
kẻ trên, giúp đỡ được cuộc gian nguy cho thiên hạ, kết quả cũng không tội lỗi gì. Vậy nên, Hào từ nói
rầng:
Tôn tửu quỹ, nhị dụng phẫu, nạp ước tự dũ, chung vô cựu.
Trên đây là thích tóm đại ý, đây trở xuống thời thích nghĩa den từng câu một. Tôn là hũ dựng rượu; quỹ
là đồ đựng đồ ăn; phẫu là ve sành, nhỏ hơn tôn; nhị là thêm vào, như tục ta thường nói ông Nhì hoặc
thầy Nhì, v.v. Ý nghĩa cũng giống như chữ
phó, chánh là phần nhiều, phó là phần ít. Tôn tửu quỹ, nhị
dụng phẫu nghĩa là chỉ dùng bằng cách giản đơn chất phác mà không cần vật tốt đồ nhiều, tượng như
rượu chỉ một tôn, đồ ăn chỉ một quỹ mà dồn thêm vào chỉ dùng một phẫu mà thôi, câu ấy là nói: Cốt
trọng tinh thần mà không cần vật chất, chỉ lấy chí thành cảm động mà thôi.
Nạp ước nghĩa là nộp lời tin
vào;
ước có nghĩa như khế ước là giống đồ làm tin. Dũ là cửa sổ, cốt để lọt bóng sáng vào; dũ vẫn
không được chính đại như cửa lớn mà có thể vừa lọt được bóng sáng.
Nạp ước tự dũ nghĩa là đương
lúc lòng người còn bế tắc, nếu mình cứ giữ một cách đường ngay mực thẳng, nhè giữa chốn bế tắc của
người mà công kích hoài, tất nhiên lời nói mình khó vào mà việc cũng hỏng, âu là chịu khó mất công,

rình chờ đến khi nhất điểm minh của người vừa phát hiện mà thừa cơ khai đạo, tượng như nạp khế ước
mà không nạp ở cửa chính lại từ của sổ đút vào.
Theo về sự thực thời không được chính đại quang minh, nhưng cốt cho lời nói mình lọt vào tai người,
mà người chịu nghe thời dầu có uốn đường, tắt lối chút đỉnh cũng không ngại gì. Hào từ đây chỉ nói
bằng thí dụ hai câu trên, hai câu trên là hình dung tinh thần chân thực cảm nhân. Câu
nạp ước tự dũ
hình dung phương pháp đi tắt được việc, chi là thủ đoạn xử về thì Khảm, lòng vẫn thành thực mà thủ
đoạn cũng cần có cơ quyền, chính là ý thánh nhân vạn bất đắc dĩ mà phải ủy khúc chu toàn như thế.
Tượng viết: Tôn tửu quỹ, cương nhu tế dã.
象曰: 樽酒簋, 剛柔際也.
Tượng Truyện đây chỉ cứ một câu đầu mà quán luôn toàn Hào từ, thông lệ trong Dịch nhiều như thế.
Tứ với Ngũ cương, nhu giao tế với nhau nên chỉ dùng bằng cách chân thành tương đại mà tìm cho đến
lúc khai minh để thâu nạp thành ý của mình, cũng có thể được chung vô cựu vậy.
Tế: giao tế; cương chỉ vào hào Ngũ: nhu chỉ vào hào Tứ.
PHỤ CHÚ: Hào từ đây với câu Ngộ chủ vu hạng ở quẻ Khuê đồng một ý tứ. Khảm là buổi Khảm
hiểm, Khuê là buổi khuê li, thảy là thời đại gay go, tình cảnh khốn nạn, dầu có dụng cơ quyền mà
không hại đến nghĩa lí thời tuy sở do bát chính cũng không đến tội lỗi gì. Nạp ước tự dũ,
thời không
phải cửa chính; Ngộ chủ vu hạng,
hạng thời không phải đường chính. Duy vì gặp ở thời đại gian nan
nên phải do đường tắt mà đạt được chí mình, chính đúng với câu: Thánh nhân bất đắc dĩ nhi dụng
quyền.
Nếu ở về đời trị bình thời có cần gì phải do đường tắt, cách do đường tắt đó, duy ở thì
Khảm Khuê
mới phải dùng mà thôi.
5. Cửu Ngũ: Khảm bất dinh, chỉ kí bình, vô cựu.
九五: 坎不盈, 柢既平, 無咎.
Cửu Ngũ có tài dương cương mà lại trung chính, ở vào vị tôn mà lại đã trải qua nửa thì Khảm, cũng có
thể gần ra khỏi hiểm, nhưng vì ở giữa Ngoại Quái thế là hiểm còn chưa đầy. Tuy nhiên thời đại hiểm
gần lúc cuối cùng mà tài đức Cửu Ngũ cũng có thể cạy lật cho ra khỏi hiểm, chắc chẳng bao lâu thời
Khảm dinh mà bình. Đến lúc Khảm đã bình thời mình ra khỏi hiểm, sẽ dắt thiên hạ ra khỏi hiểm. Thế
thời vô cựu (
nghĩa là bệnh).
Tượng viết: Khảm bất dinh, trung vị đại dã.
象曰: 坎不盈, 中未大也.
Cửu Ngũ có tài cương trung mà ở vào vị tôn, vẫn có sức cứu tế được hiểm nạn, nhưng vì Khảm còn
bất dinh nên đức cương trung của mình, chưa đến lúc quang đại vậy.
6. Thượng Lục: Hệ dụng huy mặc, chí vu tùng cức, tam tuế bất đắc, hung.
上六: 係用徽纏, 寘于叢棘, 三歲不得, .
Thượng Lục bản thân âm nhu, nguyên là một người nhu ác mà lại ở vị hiểm cực, hiểm chi cực tất nhiên
sụp vào hiểm rất sâu, tượng như một người bị tội nặng mà vào lao, đã trói tay bằng nhuy mặc lại đặt

chân vào tùng cức (Huy mặc: giây nhạc; hệ: trói; tùng cức: đống gai; chí: đặt).
Thượng Lục nhu ác mà sụp vào hiểm, nếu biết hối tội cải quá thời còn mong được ra, nhưng Thượng
này không tài xuất hiểm, lại không đạo hối quá, đến nỗi lâu đã ba năm mà không được ra, thôi thời xấu
quá.
Tượng viết: Thượng Lục thất đạo, hung tam tuế dã.
象曰: 上六失道, 凶三歲也.
Thượng Lục đã âm nhu mà lại hiểm cực là đi sai mất đường lối đã lâu, thời hung đến tam tuế cũng là
đáng rồi.
PHỤ CHÚ: Quẻ Khảm này tứ âm vây bọc lấy nhị dương, tượng như tứ tiểu nhân vây bọc lấy nhị quân
tử. Nên Hào từ trong sáu hào, Nhị thời
cầu tiểu đắc, Ngũ thời chỉ kí bình là trông mong cho quân tử
được mau xuất hiểm; hào Sơ, hào Thượng thời hung, hào Tam thời
vật dụng, hào Tứ thời chỉ được
cựu
là đau đớn cho tiểu nhân hay hành hiểm mà vô ích. Ý thánh nhân phù quân tử ức tiểu nhân là như
thế, nên Hào từ Sơ, Thượng, thảy có chữ
hung mà Tượng từ thảy có chữ thất đạo, cứ hai hào đầu cuối
mà hai hào ở giữa cũng đủ biết.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!