CHU DỊCH THƯỢNG KINH – 23. QUẺ SƠN ĐỊA BÁC

CHU DỊCH THƯỢNG KINH

23. QUẺ SƠN ĐỊA BÁC

Cấn trên; Khôn dưới


Quẻ này là quẻ Sơn Địa Bác. Khôn hạ cũng là Nội Khôn. Cấn thượng cũng là Ngoại Cấn. Cấn là Sơn,
Khôn là Địa, nên tên quẻ đọc bằng Sơn Địa Bác.


TỰ QUÁI


Tự quái: Bí giả sức dã, chí sức nhiên hậu hanh tắc tận hĩ, cố thụ chi dĩ Bác, Bác giả bác dã.
序卦: 賁者飭也, 至然後亨則盡矣, 故受之以剝. 剝者剝也.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Bí tiếp lấy quẻ Bác là vì cớ sao?
Trên đây là quẻ Bí, Bí nghĩa là trau dồi. Trau dồi đã đạt ở cực điểm tất nhiên phải mòn hết. Vậy nên
sau quẻ Bí tiếp lấy quẻ Bác. Bác nghĩa là mòn hết. Bí cực tắc bác, chính là lẽ tự nhiên.
Theo về tượng quẻ, năm hào âm, âm trưởng dần mà đã đến lúc thịnh cực. Một hào dương ở trên, chốc
nữa là tiêu bác hết, nên đặt tên quẻ bằng Bác.


SOÁN TỪ


Bác, bất lị, hữu du vãng.
, 不利有攸往.
Quẻ Bác là quẻ âm trưởng cực, dương tiêu cực, âm là tiểu nhân, dương là quân tử; ở thời đại ấy, tiểu
nhân đắc chí hoành hành, quân tử không chốn nào mà hành động được nữa, chi nên nấp nép chờ thì,
may khỏi bị tiểu nhân hãm hại nên nói rằng:
Bất lợi hữu du vãng.
PHỤ CHÚ: Đương hồi âm thịnh, dương suy, tiểu nhân tráng, quân tử bệnh. Soán từ nói rằng: Bất lợi
hữu du vãng.
Thế thời quân tử ở thì ấy không việc làm hay sao? Không phải. Theo ý Kinh Dịch,
suy thường nấp ở lúc thịnh, cơ thịnh thường nấp ở lúc suy. Bác nghĩa là rụng, trái cây rụng xuống đất,
tuy là bác lạc nhưng mà hạt cây chẳng bao lâu ngấm ngầm mọc lên. Quân tử ở thời đại ấy, không phải
không việc làm, nhưng làm bằng cách tinh thần nên âm thầm chớ nên lòe loẹt, nên kín đáo chớ nên nhố
nhăng. Sách
Lão Tử có câu: Đại trí nhược ngu, đại dũng nhược khiếp, đại xảo nhược chuyết, đại
trực nhược khúc
大智若愚, 大恿若怯, 大巧若拙, 大直若曲, nghĩa là: Có óc khôn rất lớn mà làm
như hình người ngu, có sức mạnh rất lớn mà làm như hình người nhác, có mưu khéo rất lớn mà làm
như hình người vụng, có đức thẳng rất lớn mà làm như hình người cong.

Lão Tử lại có câu: Tri kì hùng, thủ kì thư, tri kì bạch, thủ kì hắc 知其雄守其雌, 知其白守其黑,
nghĩa là: Biết cho thấu cách trống mà giữ lấy cách mái, biết cho thấu cách trắng mà giữ lấy cách đen.
Những câu ấy chính là thủ đoạn tác dụng của quân tử ở đời Bác vậy.
Ở thì năm âm tịnh tấn, một dương thế cô mà năm âm xu sức đánh đổ một dương thời quân tử nguy hiểm
biết dường nào! Nếu lúc ấy mà còn hữu du vãng thời không phải là người biết học Dịch. Soán từ rằng:
Bất lợi hữu du vãng là đau đớn cho quân tử đó vậy.


SOÁN TRUYỆN


Soán viết: Bác, bác dã, nhu biến cương dã. Bất lị hữu du vãng, tiểu nhân trưởng dã. Thuận nhi chỉ chi,
quan tượng dã, quân tử thượng tiêu tức dinh hư, thiên hành dã.
彖曰: , 剝也, 柔變剛也. 不利有攸往, 小人長也. 順而止之, 觀象也, 君子尚消息盈虛, 天行也.
Soán viết: Bác, bác dã, nhu biến cương dã.
Nguyên nhất âm sinh từ quẻ Cấu[18] là quẻ tháng Năm, bắt đầu nhất dương biến làm nhất âm; nhị dương
biến thời thành quẻ Độn là quẻ tháng Sáu; tam dương biến thời thành quẻ Bĩ là quẻ tháng Bảy; tứ
dương biến thời thành quẻ Quán là quẻ tháng Tám; ngũ dương biến thời thành quẻ Bác là quẻ tháng
Chín; chốc nữa biến thêm một nét thời thành quẻ Bát Thuần Khôn là quẻ Thuần âm vô dương. Ghê gớm
thay nên Soán Truyện nói rằng: Bác, bác nghĩa là tiêu hết, cũng có nghĩa là rụng hết, dương tiêu rụng
hết là vì âm nhu quá mạnh, khiến cho biến đổi hết dương cương vậy.
Bất lị hữu du vãng, tiểu nhân trưởng dã.
Đương lúc ấy bao nhiêu địa vị của quân tử, tất thảy bị tiểu nhân chiếm sạch ráo nên Soán Truyện lại
có câu:
Bất lị hữu du vãng, tiểu nhân trưởng dã. Quân tử xử thời đại ấy chỉ nên tiềm tàng nấp lén,
không hành động được việc gì. Bởi vì tiểu nhân đạo trưởng thời quân tử phải tiêu, nên bất lị hữu du
vãng.
PHỤ CHÚ: Quẻ Quải là quẻ ngũ dương nhất âm thời Soán Truyện nói rằng: Cương quyết nhu dã. Quẻ
Bác là quẻ ngũ âm nhất dương thời Soán Truyện nói rằng:
Nhu biến cương dã. Chữ quyết với chữ
biến, hai chữ khác nhau; một phương diện thời miêu tả tình trạng tiểu nhân hại quân tử mà nói chữ
biến, Một phương diện thời miêu tả thủ đoạn quân tử trừ tiểu nhân mà nói chữ quyết. Bởi vì quân tử
thường hay mắc bệnh nhân từ do dự. Nếu không quyết thời không trừ nổi tiểu nhân, tất phải dùng cách
nhất đao lưỡng đoạn, nên nói chữ quyết. Chỉ còn nhất âm mà phải dùng chữ quyết, mới biết tiểu nhân
là một giống khó trừ nên lấy chữ quyết dạy quân tử, chứ như tiểu nhân thời thường dùng âm mưu quỷ
kế khiến cho quân tử ngày mòn tháng rụng mà thường đến nỗi quân tử phải biến cách theo nó, tượng
như lửa hao mòn dần mà dầu không biết, tằm ăn hết lá mà lá không hay. Đến khi quân tử hết sạch rồi
mà toàn xã hội chỉ thấy tiểu nhân, chính là thủ đoạn tiểu nhân hại quân tử. Thánh nhân ghê gớm cho thủ
đoạn ấy, nên nói chữ biến. Chỉ hai chữ khác nhau mà ý nghĩa rất vi diệu, chúng ta há nên đọc qua mà
không nghĩ rư?
Thuận nhi chỉ chi, quan tượng dã, quân tử thượng tiêu tức dinh hư, thiên hành dã.

Quân tử xử vào thời đại Bác thời nên thế nào? Tất phải xem ở tượng quẻ Bác. Quẻ Bác nội Khôn có
tượng là thuận, Ngoại Cấn có tượng là chỉ, quân tử thuận theo đạo trời nên chỉ mà chỉ. Chỉ xem ở
tượng quẻ Bác vừa đúng rồi, nhưng quân tử sở dĩ biết thuận nhi chỉ, há phải chờ vận Bác tới nơi mới
biết được đâu? Ư trước khi chưa tới Bác mà quân tử đã để lòng nghiên cứu đến đạo trời, biết vận trời
lưu hành âm tiêu, tất có hồi tức, dương dinh tất có lúc hư, vận trời đi thế vậy. Vì quân tử đã biết trước
nên sùng thượng lẽ ấy. Nghĩa chữ
thượng có ý như tín ngưỡng. Vì tín ngưỡng đạo trời nên tùy thì xử
thế, khả chỉ tắc chỉ. Dầu thì vận Bác tới mà quân tử có bao giờ sụp vào tay tiểu nhân đâu!
Tiêu nghĩa là hao mòn; tức nghĩa là đẻ nở; dinh nghĩa là đầy tràn; nghĩa là trống không. Bốn chữ ấy
chỉ chuyên nói về phía dương, phía quân tử. Chữ
tiêu, chữ là nói từ quẻ Cấu đến quẻ Khôn là
dương tiêu mà đến hư. Chữ
tức, chữ dinh là nói từ quẻ Phục đến quẻ Càn là dương tức mà đến dinh.
Tượng viết: Sơn phụ ư địa, Bác. Quân tử dĩ hậu hạ, an trạch.
象曰: 山附於地, . 君子以厚下安宅.
Tượng Truyện không theo nghĩa quẻ mà chỉ theo tượng quẻ, phát minh ra một nghĩa khác mà nói rằng:
Ngoại thể Cấn là Sơn, nội thể Khôn là Địa. Núi y phụ với đất mà thành ra tượng quẻ Bác.
Tượng là muốn làm cao, trước phải nương dựa vào thấp; núi vẫn cao, nhưng nhờ có đất dày, đất ở
dưới, nếu không dày thời núi phải đổ, người ở bậc trên dân, xem vào tượng ấy, biết nền móng ở dưới
không dày vững thời địa vị mình không an, nên phải vun đắp cho người ở dưới mình, lo cho nhân dân
được hậu sinh lợi dụng, lạc nghiệp an cư.
Trạch là chốn ở của dân, dân cư được an ổn thái bình, chính là đạo duy trì ở thì Bác vậy.
Thượng là thủ tượng vào Sơn; hạ là thủ tượng vào Địa. Đất dày thời núi càng vững, dưới dày thời trên
càng bền.


HÀO TỪ VÀ TlỂU TƯỢNG TRUYỆN


1. Sơ Lục: Bác sàng dĩ túc, miệt trinh, hung
初六: 剝床以足, 蔑貞凶.
Sơ Lục ở đầu hết thời đại Bác, âm vừa bắt đầu bác dương, chính là tiểu nhân bắt đầu bác quân tử. Bác
từ dưới bác lên. Sơ chính xử vào địa vị ấy, tượng như phá hoại bộ giường mà Sơ là người bắt đầu cắt
chân giường.
Sàng là cái giường nằm, để cho người an, thí dụ bằng địa vị quân tử. Túc là chân giường là chỉ vào
địa vị ở dưới. Bác quân tử từ dưới bác lên, ấy là
bác sàng dĩ túc. Nếu như thế mà bác lần lên mãi tất
đến nỗi diệt mất chính đạo.
Miệt: tiêu diệt; trinh: đạo chính của quân tử. Thế đạo đến lúc đó chắc
phải hung.
Tượng viết: Bác sàng dĩ túc, dĩ diệt hạ dã.
象曰: 剝床以足, 以滅下也.
Bác sàng dĩ túc là âm diệt dương, tà diệt chính mà diệt từ dưới thấp diệt lên vậy. Chữ hạ là thay chữ
túc.
2. Lục Nhị: Bác sàng dĩ biện, miệt trinh, hung.

六二: 剝床以辨, 蔑貞凶.
Bác tới Lục Nhị là âm bác dương đã tiến lên lần lần. Nhị vẫn một bầy với Sơ, đồng ác với nhau mà
hại quân tử, tượng như hai anh chung sức với nhau phá hoại bộ giường. Sơ mới bác ở chân, đến Nhị
đã bác tới then giường (
Biện: then giường).
Tuy chưa bác đến mặt giường mà đã lên quá chân giường, chính là địa vị Lục Nhị. Như thế mà bác lần
lần mãi tới diệt mất chính đạo phải hung.
Hào từ Lục Nhị cũng in như Sơ Lục, duy địa vị khác nhau chút đỉnh nên chữ
túc với chữ biện khác
nhau mà phần hung thuộc về quân tử, lại thảm hại hơn thời đại hào Sơ vậy.
Tượng viết: Bác sàng dĩ biện, vị hữu dữ dã.
象曰: 剝床以辨, 未有與也 .
Bác sàng mà đã bác tới biện thời quân tử đã nguy lắm rồi.
Nhưng sở dĩ nguy đến thế là vì phe tiểu nhân quá đông mà quân tử thời chưa có phe mình.
(
Dữ: đảng dữ). Nếu quân tử ở thì Bác mà biết đoàn kết lấy đồ đảng mình, còn có thể chống lại với tiểu
nhân được, nên Tượng Truyện nói rằng:
vị hữu dữ là lời thương tiếc cho quân tử vậy.
3. Lục Tam: Bác chi vô cựu.
六三: 剝之, 無咎.
Quẻ Bác năm âm rặt là bè tiểu nhân: Lục Tam ở trên hết Nội Quái, dưới có Sơ Lục, Lục Nhị, trên có
Lục Tứ, rặt là bè với Tam, nhưng Tam lại tách riêng một mình, bỏ bè mình mà thượng ứng với Thượng
Cửu. Thượng Cửu là quân tử ở thì Bác, Lục Tam ứng với Thượng Cửu chính là tiểu nhân mà chịu theo
quân tử. Thánh nhân nhân tượng ấy mà tô tán cho Lục Tam rằng: Tâm sự được như Tam chính là một
người không tội lỗi trong thì Bác. Ý như nói rằng: Trên dưới bốn hào rặt là tội lỗi, duy hào Tam mới
không tội lỗi, chính là ý nghĩa
Dịch vị quân tử mưu đó vậy.
Tượng viết: Bác chi vô cựu, thất thượng hạ dã.
象曰: 剝之無咎, 失天下也.
Lục Tam ở chung một hoàn cảnh với bốn hào âm mà Tam chịu li quần độc vãng, lên ứng với Thượng
Cửu nên trên dưới Tam thảy mất lòng với Tam. Tam chịu mất đảng tiểu nhân mà làm bạn với quân tử.
Như thế mới là
Bác chi vô cựu.
4. Lục Tứ: Bác sàng dĩ phu, hung.
六四: 剝床以膚, .
Âm tiến đến Lục Tứ, xử địa vị Thượng Quái, thế là quân tử bị bác không chốn nào trốn tránh được
nữa, tượng như giường nằm bị phá hoại, chẳng những phá hoại hết giường mà lại xẻo lây đến thịt
người nằm trên giường.
(
Phu: thịt mỏng trong da). Bác sàng mà đã đến phu là tiểu nhân vào đã quá mám, quân tử bị hại đã quá
đau nên không cần nói
miệt trinh mà nói ngay chữ hung.

Tượng viết: Bác sàng dĩ phu, thiết cận tai dã.
象曰: 剝床以膚, 切近災也.
Quẻ này chỉ một hào dương ở Thượng Cửu là quân tử, Bác đã đến Tứ, chốc phút nữa vượt qua Ngũ
đánh đổ cả Thượng Cửu là quân tử xong đời, nên nói rằng:
Bác sàng dĩ phu, thiết cận tai dã nghĩa là:
Tai họa đã bức thiết gần mình rồi đó.
5. Lục Ngũ: Quán ngư, dĩ cung nhân sủng, vô bất lị.
六五: 貫魚, 以宮人龍, 無不利.
Lục Ngũ ở trên bốn hào âm, lại ở Ngũ là vị chí tôn, chính là làm chủ cho bầy âm, tượng là một người
đại thủ lĩnh trong bầy tiểu nhân.
Thánh nhân hệ Hào từ đến đó, nguy cho quân tử mà còn hi vọng ở nơi tiểu nhân, muốn mở đường lối
cho tiểu nhân khử tà quy chính nên bỏ chữ Bác không nói mà đặt riêng ra nghĩa khác nói rằng: Ngũ ơi!
Ngũ đã làm chủ cho bầy âm, thế lực vẫn mạnh, đồ đảng vẫn đông, nhưng Ngũ lại thân cận với Thượng
Cửu là quân tử ở đời Bác. Nếu Ngũ biết thể thiện tâm phù thế đạo, Ngũ thống suất cả bầy âm mà lên
thuận tòng quân tử, tượng như đem cả xâu cá.
(
Quán: xâu; ngư: cá là giống thuộc về loài âm, tượng như bầy tiểu nhân). Lại thí dụ như: Bà Hoàng
hậu dắt cả tụi cung nhân mà đươc vua yêu sủng (
Cung nhân là chúng thiếp trong cung vua; sủng
thân yêu).
Quán ngư dĩ cung nhân sủng chỉ là nói thí dụ, chính ý là nói dắt bầy tiểu nhân lên theo
quân tử. Tiểu nhân có thế lực như Lục Ngũ mà lại biết thiên thiện tòng chính như thế, tất nhiên thiện
loại nhờ Ngũ mà được bảo toàn. Bác vẫn nhờ Ngũ mà có cơ chuyển Bác, chắc không việc gì không lợi
tiện.
Tượng viết: Dĩ cung nhân sủng, chung vô vưu dã.
象曰: 以宮人寵, 終無憂也.
Lục Ngũ là một hào tôn trong quần âm. Nếu biết đem dắt cả bầy âm mà thuận thính với Thượng Cửu,
tượng như bà hậu phi dắt cung nhân lên hầu vua là một việc đáng hân hạnh cho thế đạo không biết
chừng nào. Thánh nhân vì thế mà tán cho rằng: tiểu nhân bác quân tử vẫn là tội lỗi.
Trái lại, tiểu nhân mà biết thuận thừa quân tử thời kết quả không tội lỗi gì.
Vưu: tội lỗi, cũng có nghĩa là oán trách.
PHỤ CHÚ: Chúng ta đọc Hào từ này nên biết khổ tâm của thánh nhân vì thế đạo!
Quẻ Bác này dương tiêu gần hết, âm trưởng gần cực. Theo về thiên đạo thời lúc ấy quyền tại âm, theo
về nhân sự thời lúc ấy quyền tại tiểu nhân.
Tuy nhiên, ở thiên đạo vẫn không một ngày nào là không dương mà thế đạo cũng không một ngày nào là
không quân tử, còn dương thời mới thành được quốc gia xã hội. Vậy nên, đến Lục Ngũ thánh nhân bỏ
nghĩa âm bác dương mà đặt ra nghĩa âm thừa dương, ở trên Quái từ thời nói rằng:
Bất lợi hữu du vãng
là hết sức lo cho quân tử. Ở Lục Ngũ lại nói rằng vô bất lị là hết sức khuyến miễn cho tiểu nhân.
Ở trên mặt chữ tuy là khuyến miễn cho tiểu nhân mà trong thâm ý chỉ cốt phù trì cho quân tử, một tấm
lòng ủy khúc vị quân tử mưu đến như thế.
6. Thượng Cửu: Thạc quả bất thực, quân tử đắc dư, tiểu nhân bác lư.

上九: 碩果不食, 君子得輿, 小人剥廬.
Thượng Cửu là nhất dương ở quẻ Bác, dương bị bác đã gần hết, chỉ còn một hào này. Vận hội dương
tuy cực suy mà hạt mộng dương còn tươi tốt, thánh nhân mới thủ tượng bằng trái cây.
Thí dụ như cả cây trái rụng đã gần hết, duy còn một trái lớn, hãy y nguy ở đầu cây (
Quả: trái; thạc quả:
trái rất lớn;
thực, hái xuống ăn).
Trái lớn mà không hái xuống ăn thời nòi giống trái vẫn còn mà lại có ngày gieo mộng mọc cây, nên
thánh nhân mừng mà nói:
Thạc quả bất thực. Là bảo dương không bao giờ hết mà cũng là đạo quân tử
không bao giờ tiêu hết. Theo về thể quẻ, Bác vẫn là quẻ tiểu nhân. Theo về tượng hào thời Thượng
Cửu là hào quân tử, nên thánh nhân lại thiết ra hai nghĩa, phân biệt quân tử, tiểu nhân làm hai đường
mà nói rằng: Hễ quân tử ở về cuối cùng Bác là dương hồi âm thịnh cực thời có thể suy, đời loạn cực
thời có cơ trị, nên nhân tình tất thảy trông mong vào quân tử. Quân tử tới đâu chắc được chúng hoan
nghinh.
(Chữ
đây khác chữ mọi nơi: là quần chúng; đắc dư nghĩa là được lòng quần chúng).
Trên đây là nói về phần quân tử, bây giờ lại nói về phần tiểu nhân. Theo về thể quẻ, nhất dương ở trên
ngũ âm, tượng như một dương là nhà che trùm năm âm.
Kìa bọn tiểu nhân ở đời Bác, nó lại bác cho đến nơi, nó đánh đổ cả nhất dương ở trên, té ra tự mình nó
trúc đổ nhà nó, nó có biết nhất dương ở trên chính là nhà của nó đâu, nhất dương trúc, chính là nhà nó
trúc (
Lư: cái nhà để che mình, nhất dương che ngũ âm nên gọi bằng Lư; bác lư: trúc đổ cái nhà mình
ở). Câu
tiểu nhân bác lư không theo như nguyên nghĩa quẻ Bác, chỉ lấy bản thân Thượng Cửu mà đặt
riêng một nghĩa.
Theo nghĩa quẻ thời phần xấu thuộc về quân tử, chính là lúc quân tử bị bác. Theo nghĩa hào Thượng
thời phần xấu thuộc về tiểu nhân. Tuy tiểu nhân bác được quân tử, nhưng cuối cùng thời quân tử hết mà
tiểu nhân cũng không còn, nên nói rằng
tiểu nhân hác lư.
Thử xem từ xưa đến nay, trải bao nhiêu cuộc biến loạn, nhân loại điêu linh, quân tử tuyệt tích làm nên
cuộc Bác chính là tay tiểu nhân. Mà đến khi bác chung, quốc vong chủng diệt thời tiểu nhân cũng xong
đời, chẳng bao giờ thấy những tay làm bác mà còn mãi được, ấy mới biết câu
tiểu nhân bác lư, thiệt
có sự thực, chứ không phải lí luận suông.
Thử xem sử Tàu, khi Hán vong thời những bọn tiểu nhân như Thập Thường Thị cũng không còn; sử
nước ta, khi Lê vong thì những bọn tiểu nhân như Hoàng Phúc Ngô Thì Nhậm cũng không anh nào có
chốn dụng thân. Đó là
tự bác kì lư vậy.
Trên kia, ba hào dụng chữ
bác sàng, sàng là chốn quân tử an thân mà bị tiểu nhân bác. Đến hào
Thượng thời dụng chữ
bác lư; lư là chốn tiểu nhân dụng thân mà tiểu nhân tự mình nó ra tay bác. Lòng
thánh nhân thương quân tử mà ghét tiểu nhân, xem ở lời thí dụ lại càng minh bạch lắm.
Tượng viết: Quân tử đắc dư, dân sở tái dã, tiểu nhân bác lư, chung bất khả dụng dã.
象曰: 君子得輿, 民所載也, 小人剝廬, 終不可用也.
Thế đạo đã đến hồi Bác cực là loạn đã cực rồi thời nhân tình trông mong trị, vì lòng người tự trị nên
khuynh hướng vào quân tử. Quân tử là chỉ vào nhất dương, đắc dư là nhân dân vui lòng chở đỡ người
ấy (
Tái: chở).
Còn như tiểu nhân thời bác đã cùng mà kiếp cùng cũng đến giữa thân tiểu nhân, kết quả thời tiểu nhân
cũng chẳng làm nên việc gì.
Chung: Bác chi cực, bất khả dụng: bọn tiểu nhân kia, không ai ngó tới nó
nữa.

PHỤ CHÚ: Đọc hết quẻ này mà phát minh một nghi nghĩa.
Nguyên đầu hết thuần dương là quẻ Càn, biến một nét dưới hết thành ra quẻ Cấu; lại lần biến hết bốn
dương thành các quẻ Độn, Bĩ, Quán. Biến hết năm dương thành quẻ Bác, chốc nữa biến hết sáu dương
thành quẻ Bát Thuần Khôn. Thế thời trải đoạn Bác qua Khôn mà nhất là trong lúc quẻ Khôn, chẳng
phải là không dương hay sao? Đạo lí đó tiên Nho Trình, Chu giải thích rất phân minh, nay dịch ra như
sau này:
Nguyên lai, có cả âm, dương, mới thành được vũ trụ, thiên đạo có bao giờ không dương hay không âm
đâu? Chỉ tranh nhau ở chốn nhất tiêu, nhất túc, nhưng mà tiêu tức đã hiện ra ở chốn hữu hình thời
chúng ta thấy được, tiêu tức còn nấp nép ở chốn vô hình thời chúng ta không thấy được.
Dịch có bao giờ bảo dương hết đâu, bác hết ở trên thời đẻ ngầm ở dưới, chính ở giữa quẻ Khôn là
dương cương đẻ ngầm mà vô hình, chốc đến quẻ Phục thời dương đã xuất hiện mà hữu hình. Nhất
dương ở dưới quẻ Phục cũng chỉ là nhất dương ở trên quẻ Bác. Duy trung gian ở quẻ Khôn là dương
đương kết thai, kết thai đủ chín tháng mười ngày mà sinh ra ở quẻ Phục, chúng ta vì không thấy ở lúc
kết thai nên nghi là không dương. Về phần âm cũng thế, chính giữa quẻ Càn cũng không phải là không
âm.
Bây giờ thử lấy mỗi quẻ mà phổi hợp với mỗi tháng, mỗi một tháng chỉ sinh được có một nét, tức là
một hào, nhưng mà một hào đó há phải đột nhiên mà sinh ra đâu.
Tỉ như: Quẻ Khôn là quẻ tháng Mười, theo trên mặt quẻ, tuy là thuần âm, nhưng trong một tháng ba
mươi ngày, mỗi một ngày thời dương đã sinh ngầm một phân, chưa đủ ba mươi phân thời bào thai nhất
dương chưa hoàn mãn. Đến cuối tháng vừa đủ ba mươi ngày thời khí dương cũng sinh đầy ba mươi
phân, vừa bắt đầu vào tháng Mười Một thời thấy một hào dương xuất hiện mà thành quẻ Phục, nhưng
một hào dương đó vẫn phối thai ở lúc còn trong tháng Mười, có bao giờ vô dương đâu. Chúng ta hiểu
được đạo lí ấy thời biết được đương giữa lúc thiên hạ cực loạn chính là con nhà trị đã sinh ngầm rồi.
Vì mắt chúng ta chỉ thấy được ở chốn hữu hình mà không ai để mắt đến chốn vô hình. Than ôi! Thiên
đạo quá bất trắc, nhân sự quá vô thường. Vậy nên chúng ta càng nên nghiên cứu Dịch lí.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!