CHU DỊCH HẠ KINH – QUẺ 63. QUẺ THUỶ HOẢ KÍ TẾ

CHU DỊCH HẠ KINH

63. QUẺ THỦY HỎA KÍ TẾ

Khảm trên; Ly dưới


Quẻ này là quẻ Thủy Hỏa Kí Tế. Li hạ cũng là Nội Li, Khảm thượng cũng là Ngoại Khảm. Khảm thủy,
Li hỏa, nên tên quẻ đọc bằng Thủy Hỏa Kí Tế.


TỰ QUÁI


Tự quái: Hữu quá vật giả, tất Tế, cố thụ chi dĩ Kí Tế.
序卦: 有過物者, 必濟, 故受之以既濟.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Tiểu Quá, tiếp lấy quẻ Kí Tế là vì cớ sao?
Trước kia là quẻ Tiểu Quá, hễ có tài đức quá hơn người, quá nhỏ quá lớn mặc dầu, nhưng đã quá nhân
bằng việc gì, tất làm nên được việc ấy. Vậy nên, sau quẻ Tiểu Quá, tiếp lấy quẻ Kí Tế.
Tế nghĩa là làm nên, cũng có nghĩa là vượt được qua. Như nói: tế sự, tế vật, v.v. là thuộc về nghĩa Tế
là nên. Như nói: tế xuyên, tế hiểm, v.v. là thuộc về nghĩa Tế là qua.
Theo về thể quẻ và tượng quẻ, Khảm thủy ở trên, Li hỏa ở dưới; tính lửa viêm thượng bây giờ ở dưới,
theo tính viêm thượng mà thượng giao với Khảm; tính thủy nhuận hạ bây giờ ở trên, theo tính nhuận hạ
mà hạ giao với Li. Thủy hỏa tương giao thời giúp nhau mà thành công dụng.
Lại theo địa vị sáu hào trong quẻ, âm ở vị âm, dương ở vị dương, thảy đắc kì chính, hào thảy đắc vị,
lại thảy tương ứng, thiệt là tình hình trong xã hội hoàn toàn đâu vào đó, nên đặt tên quẻ bằng Kí Tế.
PHỤ CHÚ: Toàn thể của vũ trụ lớn nhất là thiên địa.
Càn vi Thiên, Khôn vi Địa, sở dĩ đặt ở đầu Kinh. Công dụng của tạo hóa lớn nhất 1à thủy, hỏa. Khảm
vi thủy, Li vi hỏa, sở dĩ đặt Khảm, Li ở cuối Thượng Kinh. Bây giờ sáu mươi tư quẻ đã sắp hết, chính
là công việc Dịch đã đến lúc sắp hoàn thành thời lại lấy hai quẻ Khảm, Li hợp thể, Khảm thượng, Li
hạ mà thành quẻ Kí Tế. Li thượng Khảm, hạ mà thành quẻ Vị Tế.
Lấy hai quẻ ấy mà đặt vào cuối cùng tuyền Kinh để cho chúng ta biết, vũ trụ chi thỉ, vũ trụ chi chung,
chỉ có thiên, địa, thủy, hỏa.
Nên mở trang thứ nhất Kinh Dịch thời thoạt thấy Càn, Khôn đứng đầu, vì có Càn Khôn mà đẻ ra sáu
mươi tư quẻ là vạn sự vạn vật đã bao quát trong ấy. Đọc đến cuối cùng Kinh Dịch, lại thấy được hai
quẻ là “Thủy, hỏa nhị thể giao tương vi dụng” mà thành hai quẻ ở cuối cùng Kinh.
Chúng ta thử nghĩ, cùng vạn cổ, suốt năm châu, vạn vật sở dĩ sinh tồn, vạn sự sở dĩ thành lập không
một tí gì là không phải công dụng của thủy, hỏa mà thủy, hỏa lại thu nạp vào trong công dụng thiên địa.
Nhật quang, điện khí ở đâu mà sinh ra, hà hải sơn xuyên lấy gì mà dụng tải.

Dịch đầu hết hai quẻ Càn, Khôn mà kết thúc lấy hai quẻ Khảm, Li hợp thể, ý nghĩa thiệt sâu xa biết
chừng nào!
Nhưng chúng ta lại biết rằng: Công dụng của Khảm, Li vẫn lớn thế, nhưng cớ sao chẳng đặt Khảm, Li
ở đầu Kinh mà lại kết thúc lấy hai quẻ Kí Tế, Vị Tế? Chẳng phải là một nghi nghĩa hay sao?
Thiệt có như thế; nếu không thế thời còn gì là Dịch lí! Dịch lí không phải là tuyệt đối, chỉ là tương đối.
Dịch lí có tượng khắc mà sau mới có tượng thành. Nếu Khảm, Li mỗi quẻ ở mọi đường, hay có Khảm
mà không có Li, có Li mà không Khảm. Thế thời thủy, hỏa chỉ là tuyệt đối mà làm sao tương thành
được; thủy, hỏa chẳng tiếp xúc nhau làm sao tương khắc được; đã không tương khắc, tất nhiên không
tương thành được; vì có tương xúc mới hay tương khắc, vì có tương đối mới hay tương thành; mà lại
vì tương khắc mà công dụng tương thành mới rõ rệt.
Gần đây, khoa học mới càng ngày càng phát đạt, tuy muôn thức, ngàn hình, ngày đêm, tháng mới mà
không gì trật ra khỏi ngoài vòng đạo lí ấy.
Thử xem một việc rất thiển cận, than đá nấu ra thành khí thủy, khí thủy lại phát động được điện cơ,
quay đi quẩn lại cũng chỉ là thủy, hỏa tác dụng mà thôi.
Khảm, Li hợp thể sở dĩ để sau hết Hạ Kinh, chúng ta chớ nên đọc qua mà không nghĩ.


SOÁN TỪ


Kí Tế, hanh, tiểu, lị trinh, sơ cát, chung loạn.
既濟, , 小利貞, 初吉, 終亂.
Hai chữ Kí Tế, ý nghĩa hay tại chữ kí. Kí là việc đã hiện thành rồi, ở trước khi Kí Tế đã từng trải qua
hai thì kì: Một thì kì, còn lộn xộn rối ren, việc gì không ra việc gì, lúc ấy gọi bằng Vị Tế. Lại tấn lên
một thì kì nữa là loạn chi cực mà toan bước vào trị, tắc chi cực mà toan bước tới thông, thì kì ấy gọi
bằng Tương Tế, đã trải qua hai thì kì ấy rồi là loạn hết mà trị, tắc khỏi mà thông. Lúc bây giờ việc gì
cũng thấy đã thu thành, việc gì cũng thấy đã chỉnh đốn, thì kì ấy gọi bằng Kí Tế.
Nói tóm lại, Vị Tế là thì kì đương phá hoại; Tương Tế là thì kì đương tạo nhân; Kí Tế là thì kì đã kết
quả. Ở thì kì Kí Tế, những việc lớn thảy đã hanh thông rồi, chỉ còn những việc gì nhỏ nhen tẳn mẳn,
phải lo cho được hoàn toàn viên mãn, không một tý gì còn khuyết điểm, mới là thập phần Tế mà hanh,
nên nói rằng:
Kí tế hanh tiểu, nghĩa là thì kì Kí Tế đại giả hành rồi, cần đương phải làm cho hanh, chỉ
là việc nhỏ mà thôi. Hanh hết cả tiểu, tức là cực điểm thành công. Công đã thành rồi, nhưng công việc
thủ thành còn gay lắm, tất phải hết sức trinh cố, lo giữ cho được nghiệp dĩ thành. Người ta ở thời đại
ấy, càng nên tiểu tâm kính úy. Nếu không thế, e không được thường thường như thì Tế.
Khi mới bắt đầu vào thì Kí Tế, tốt lành đã đành, e đến lúc cuối cùng thì Kí Tế, quay lại nát bét mà
thôi.
Chữ sơ cát là mừng cho cảnh hiện tại. Chữ chung loạn là nguy sợ cho cục tương lai. Lúc trị mà lo đến
loạn, lúc thịnh mà nghĩ đến suy là thì nghĩa cùa Dịch.
PHỤ CHÚ: Ở trong sáu mươi tư quẻ mà nói về thiên địa nhân sự thay đổi tuần hoàn, tương phản mà
lại tiếp tục nhau thời chỉ có bốn quẻ:
Địa Thiên vi Thái; Thiên Địa vi Bĩ sở dĩ khác nhau là vì thiên
địa giao vởi thiên địa bất giao;
Thủy Hỏa vi Kí Tế; Hỏa Thủy vi Vị Tế. Kí Tế, Vị Tế sở dĩ khác nhau
là vì thủy, hỏa giao, với thủy, hỏa bất giao. Thủy, hỏa giao mà làm nên Kí Tế, nhưng lúc đầu sang Kí
Tế chính mà lúc thiên địa đã giao rồi. Vì thiên địa giao nên thủy, hỏa mới giao. Thế là Thái với Kí Tế
cũng trong một vận hội liên đới với nhau, chẳng qua Thái trước mà Kí Tế sau, chỉ thì gian xê xích ít
nhiều mà thôi. Vì trị cực mà loạn nảy ra, vì thông cực mà tắc quay lại, bây giờ thủy, hỏa bất tương giao

mà thành ra Vị Tế, nhưng lúc bắt đầu vào thì Vị Tế, tất đã có Bĩ rồi. Vì thiên địa bất tương giao mà
thủy, hỏa mới bất tương giao. Vậy nên, Bĩ với Vị Tế là liên đới với nhau trong một vận hội, chẳng qua
Bĩ trước mà Vị Tế sau, chỉ thì gian có xê xích ít nhiều mà thôi. Chúng ta đọc Dịch đến bốn quẻ ấy,
thấy vừa Thái mà liên tiếp với Bĩ, vừa Kí Tế mà liên tiếp lấy Vị Tế, thiệt ghê tởm cho khí số bất
thường, nhưng còn may cho nhân loại là Bĩ với Thái, Thái với Bĩ vẫn tuần hoàn luôn luôn, mà Kí Tế
với Vị Tế vẫn xoay đổi luôn luôn.
Chúng ta gặp hồi Thái với Kí Tế thời nên nhận nghĩa
thành phục vu hoàng với lời sơ cát, chung
loạn.
Gập hồi Bĩ với Vị Tế thời nên nhận nghĩa khuynh bỉ hữu hỉ ở hào Thượng quẻ Bĩ, hữu phu vô cựu
hào Thượng quẻ Vị Tế.
Than ôi! Đạo trời in như bánh xe lăn, việc người in như bàn tay lật, chẳng bao giờ Kí Tế chi cực mà
không xoay sang Bĩ; cũng chẳng bao giờ Vị Tế chi cực mà không chuyển sang Thái.
Lấy nhân sự mà chuyển di khí số thời quyền tại chúng ta, cố chớ Thái với Kí Tế mà kiêu dinh, cũng
chớ thấy Bĩ với Vị Tế mà đồi trụy. Bốn quẻ trái nhau mà liên tiếp với nhau là thâm ý thánh nhân muốn
cho chúng ta biết như thế.
Sơ cát chẳng được bao lăm mà lại chung loạn thời thường thấy, chỉ là tội tại chúng ta mà không nên đo
lỗi cho Dịch số.


SOÁN TRUYỆN


Soán viết: Kí Tế, hanh, tiểu, tiểu giả hanh dã. Lị trinh cương, nhu chính nhi vị đáng dã. Sơ cát, nhu đắc
trung dã. Chung chỉ tắc loạn, kì đạo cùng dã.
彖曰: 既濟, , , 小者亨也. 利貞, 剛柔正而位當也. 初吉, 柔得中也. 終止則亂, 其道窮也.
Soán viết: Kí Tế hanh, tiểu, tiểu giả hanh dã.
Đây là lấy thể quẻ thích nghĩa lời quẻ. Kí tế hanh tiểu nghĩa là ở thì Kí Tế, việc lớn vẫn là hanh rồi,
còn lại phải lo cho việc nhỏ thảy được hanh.
Lị trinh, cương, nhu chính, nhi vị đáng dã.
Nhưng sở dĩ gìn giữ được Kí Tế, tất phải lị ở trinh chính.
Theo như thể quẻ, Sơ Cửu, Cửu Tam, Cửu Ngũ thảy là hào dương ở vị dương; Lục Nhị, Lục Tứ,
Thượng Lục thảy là hào âm ở vị âm. Thế là cương, nhu các đắc kì chính mà mỗi hào ở đúng mỗi vị.
Xem thế thời biết rằng: Đạo làm nên Kí Tế, cốt ở trung chính.
Sơ cát, nhu đắc trung dã.
Quái từ lại nói rằng: Sơ cát là vì Lục Nhị ở hạ thể, chính đương lúc đầu Kí Tế mà lại có đức nhu thuận
văn minh mà đắc trung, có đức tốt như thế làm gì mà chẳng nên, nên được sơ cát.
PHỤ CHÚ: Xem câu Soán Truyện này thời biết rằng: Việc trong thiên hạ vẫn cốt ở tài đức, nhưng cũng
cốt có thì. Lục Nhị ở Kí Tế cũng in như Cửu Nhị ở quẻ Thái, nhưng kể về tài đức thời nhu trung vẫn
không bằng cương trung, nên Hào từ Lục Nhị quẻ Kí Tế không được toàn mỹ như Hào từ Cửu Nhị ở
quẻ Thái. Chỉ vì Lục Nhị ở về đoạn Sơ Kí Tế; Cửu Nhị ở về đoạn Sơ quẻ Thái, thì vẫn in nhau mà

thành tựu cũng in nhau; sở dĩ Soán Truyện lấy sơ cát tán cho Lục Nhị.
Chung chỉ tắc loạn, kì đạo cùng dã.
Quái từ chỉ nói hai chữ chung loạn là vì Kí Tế cực, tất nhiên quay lại Vị Tế, nghĩa vẫn bình thường,
nhưng đức Khổng Tử lại phát minh ý nghĩa Quái từ mà nói rằng:
Chung chỉ tắc loạn. Chỉ thêm một
chữ chỉ mà rất có ý nghĩa, bởi vì thường tình người ta hễ lúc thông thịnh thường hay sinh lòng kiêu
dinh mà không lo tấn bộ, có biết đâu việc trong thiên hạ không tấn thời thối, có bao giờ chịu đứng một
chốn đâu. Nếu đến chung mà chỉ tức là không tiến, đã không tiến tất nhiên phải thối, đã thối thời rối
bét, đạo Kí Tế đến đó tất phải cùng cực.
Chữ đạo ở đây kiêm cả thiên vận, nhân sự, chứ theo về đạo lí hay không biến ở lúc chưa cùng; như
câu ở
Kinh Thư: Sắp sửa việc trị ở lúc chưa loạn, gìn giữ việc an ở lúc chưa nguy. Chẳng loạn chẳng
nguy thời làm sao cùng được.
PHỤ CHÚ: Quẻ Kí Tế này rất thông với y lí, khí vận của vũ trụ cũng in như khí huyết ở nhất thân, nên
người xưa thường có nói: Thân người là trời đất nhỏ.
Thủy, hỏa của vũ trụ có giao mới thành tạo hóa; Thủy, hỏa trong mình có giao mới thường được khang
kiện, tâm hỏa giáng mà giao với thận, thận thủy thăng mà giao với tâm, tâm, thận giao tức là nhất thân
trong Kí Tế, nhưng mà thủy là huyết mạch, hỏa là khí quản, tất phải vận chuyển chu hoàn luôn luôn.
Nếu một phút đồng hồ, hỏa chỉ ở một chốn mà không thăng, thủy chỉ ở một chổn mà không giáng, tất
sinh ra bệnh quan cách mà đến nỗi trướng thũng.
Phàm việc thiên hạ không tiến bộ trong một lúc tất nhiên thối lui, chỉ nghiệm nhất thân thời cũng đủ
biết. Thâm ý câu
chung thỉ tắc loạn là muốn cho nhân sự không bao giờ chỉ, thời mới được có chung;
không bao giờ loạn, vì chỉ thời loạn chứ không phải vì chung mà loạn.


ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN


Tượng viết: Thủy tại hỏa thượng, Kí Tế. Quân tử, dĩ tư hoạn nhi dự phòng chi.
象曰: 水在火上, 既濟. 君子以思患而預防之.
nghĩa là nghĩ, cũng có nghĩa là lo; dự nghĩa là trước, nghĩa là sớm, cũng có nghĩa là sẵn.
Quẻ Kí Tế này, Khảm trên, Li dưới là nước ở trên lửa thời lửa sôi được nước mà lại nước dẹp được
lửa. Đó là tượng Kí Tế. Quân tử xem tượng ấy, biết được đương ở thì Kí Tế, hạnh phúc ở trước mắt
vẫn ai cũng biết mà mầm họa hoạn ở sau lưng thời chẳng ai nghĩ tới. Vì chẳng nghĩ tới mà chẳng lo
phòng bị sẵn, nên nỗi ở giữa thì Kí Tế mà họa hại nảy ra. Duy quân tử thời biết tư hoạn mà giữ phòng
luôn luôn thời Kí Tế được lâu dài mà không mắc lấy chung loạn.


HÀO TỪ VÀ TlỂU TƯỢNG TRUYỆN


1.Sơ Cửu: Duệ kì luân, nhu kì vĩ, vô cựu.
初九: 曳其輪, 濡其尾, 無咎.
Sơ Cửu dương cương đắc chính, vẫn là người sẵn có tài, trên ứng với hào Tứ là chí sẵn muốn lên, vả
lại ở vào đầu thì Kí Tế nên chí cầu tiến có hơi quá hăng.

Vì thì vừa đến Tế mà chí cầu tiến quá hăng, e không chắc khỏi đổ bể nên Hào từ răn cho rằng: Sơ ơi!
Ở thời đại này, ai bảo mày chẳng tiến đâu! Nhưng mày hãy từ từ chút đỉnh, vừa đi vừa ngó sau dòm
trước, tượng như kéo lết cái bánh xe của mày (
Duệ nghĩa là kéo lết; luân nghĩa là bánh xe).
Sơ ở dưới mà tính muốn lên nên tỉ dụ bằng bánh xe.
Duệ kì luân ý là hãy chậm chậm tiến. Sơ muốn
tiến lên mà biết trịnh trọng như thế thời tuy tiến mà chưa chóng tiến. Tượng như con hồ toan qua sông
mà chưa đến lúc ngoắt cái đuôi, nhưng há phải là bất Tế đâu. Vì Sơ ở dưới hết quẻ nên thí dụ bằng
đuôi.
là đuôi; nhu vĩ nghĩa là đuôi rũ xuống nước. Tuy nhu kì vĩ, nhưng vẫn chưa qua thời được vô
cựu.
Tượng viết: duệ kì luân nghĩa vô cựu dã.
象曰: 曳其輪, 義無咎也.
Duệ kì luân như hào Sơ là muốn tế mà không chịu nên nóng, ở thì nghĩa hào Sơ như thế thời vô cựu.
2. Lục Nhị: Phụ táng kì phất, vật trục, thất nhật đắc.
六二: 婦喪其茀, 勿逐, 七日得.
Lục Nhị có đức văn minh trung chính mà lại thượng ứng với Cửu Ngũ, lại là một bậc dương cương,
trung chính, vẫn có lẽ được tấn hành chí mình.
Nhưng ở về thì Kí Tế, công đã thành rồi, danh đã lập rồi mà Ngũ lại ở vào vị chí tôn, thấy Nhị là âm
nhu ở hạ thể nên Ngũ đối với Nhị không chịu khuất kỉ hạ hiền, té ra cái bằng tạ sở dĩ tấn hành Nhị phải
chịu hỏng mất, tượng như người đàn bà muốn ra đi mà mất cái phất che xe nên chưa đi được.
(Phất là cái đồ che bốn mặt xe; tục đàn bà Tàu xưa, hễ lúc ra đi, tất có cái phất che xe, bây giờ đàn bà
đã mất cái phất thời không thể ra được khỏi cửa).
Nhị muốn đắc dụng với Ngũ mà chưa đắc chí cũng tượng như thế. Tuy nhiên, đạo trung chính Cửu Nhị
há lẽ Ngũ bỏ được, chẳng qua thì giờ chưa tới, có chậm trễ ít lâu mà thôi. Nhị cứ giữ đạo chính cho
bền, chẳng cần gì bốn cạnh.
Chờ bao giờ cùng hết thời thông, ước chừng bảy ngày mà tự nhiên được phất.
Phất được lại thời tức khắc dậy đi. sở dĩ thủ tượng bằng thất nhật là vì quẻ có sáu vị, đến thất thời
biến, biến thời thông nên nói thất nhật đắc. Chữ đắc là phản đối với chữ táng. Vật trục mà đắc là không
để ý đến chốn đắc, táng mà chỉ xem ở nơi thì biến mà thôi.
Tượng viết: Thất nhật đắc, dĩ trung đạo dã.
象曰: 七日得, 以中道也.
Vì Cửu Nhị có đạo trung chính, há lẽ đời không dụng tới nơi? Tuy táng phất mặc dầu, nhưng bảy ngày
cũng tự nhiên được lại, nghĩa là chưa dụng ở lúc này, tất nhiên cũng dụng ở lúc khác.
3. Cửu Tam: Cao tông phạt Quỷ phương tam niên, khắc chi, tiểu nhân vật dụng.
九三: 高宗伐鬼方, 三年克之, 小人勿用.
Cửu Tam ở về thì Kí Tế, lấy dương cương ở vào vị dương là một người dụng cương rất mực, dụng
cương có ý mạnh quá nên Hào từ mới răn cho rằng: Việc dụng cương chẳng phải khinh dị được.
Tĩ như: Vua Cao Tông đi đánh nước Quỷ phương, vua một nước lớn đi đánh một đám giặc nhỏ, còn

phải ba năm sau mới đánh được nó, nên ở thì Kí Tế thời những món tiểu nhân cương cấp chớ nên dụng
nó.
Tiểu nhân chẳng phải chỉ vào Cửu Tam, mà chỉ nói trỏng tiểu nhân ở thì ấy.
PHỤ CHÚ: Hào Thượng Lục quẻ Sư cũng có câu: Tiểu nhân vật dụng, nghĩa là những đứa tiểu nhân
chớ nên dùng nó làm việc binh là vì tính chất nó cương táo tham lam; nếu dùng nó làm việc binh thời
đến nỗi tàn dân hại nước, sở dĩ phải răn bằng
vật dụng.
Tượng viết: Tam niên khắc chi, bái dã.
象曰: 三年克之, 憊也
Binh hung chiến nguy, dầu có tam niên mà khắc chi, cũng không phải là đáng khinh dụng (Bái nghĩa là
tàn tệ).
PHỤ CHÚ: Ở vào thì Kì Tế, chính là lúc quốc trung vô sự, biến cảnh kí yên, rất đáng lo là một hạng
tiểu nhân tham công sinh sự. Tỉ như, người thân thể đương mạnh khỏe mà còn đem thuốc độc công
bệnh vào thời lại làm tổn thương nguyên khí, nên Hào từ có ý răn việc dụng binh mà lại cốt có câu:
Tiểu nhân vật dụng. Cao Tông phạt Quỷ phương tam niên khắc chi là cốt nói việc dụng binh gian nan
lắm, không phải bảo nên dụng binh. Vì vậy nên Tượng Truyện phải thêm chữ
bái. Chú ý nhất là câu:
Tiểu nhân vật dụng. Hễ thì đã Kí Tế mà còn đeo tiểu nhân lên thời sinh nhiễu dân, e lại quay đến Vị
Tế.
4. Lục Tứ: Nhu, hữu y như, chung nhật giới.
六四: 繻有衣袽, 終日戒.
(
Như nghĩa là thuyền bị nước vào; y như là đồ để trám lỗ thủng trong thuyền).
Lục Tứ ở thì Kí Tế mà lại bắt đầu vào Thượng Quái, khỏi Ly vào Khảm, Khảm tượng là thủy, tượng là
hiểm, chính là thì đạo Tế có hơi động giao nên việc phòng bị càng cẩn thận. May cho Lục Tứ chất nhu
vị nhu là một hạng người rất tiểu tâm úy cụ, tượng như người đi thuyền đã sắm sẵn đồ y như, để phòng
bị khi nước lọt vào, mà hãy còn trọn ngày răn sợ, không chỗc phút quên, thường như lo thuyền thủng
mà nước vào; ở vào thì ấy mà tư hoạn dự phòng được như thế, chắc không ngại gì.
Tượng viết: Chung nhật giới, hữu sở nghi dã.
象曰: 終日戒, 有所疑也.
Ờ vào thì Kì Tế mà tấm lòng an cư, tư nguy, thường thường có ý hoài nghi vậy.
5. Cửu Ngũ: Đông lân sát ngưu, bất như Tây lân chi thược tế, thực thụ kì phúc.
九五: 東鄰殺牛不如西鄰之禴祭. 實受其福.
Đông lân nghĩa là xóm ở phía Đông, Đông là dương phương, chỉ vào hào Ngũ. Tây lân là xóm ở phía
Tây, Tây là âm phương, chỉ vào hào Nhị.
Sát ngưu nghĩa là giết trâu mà tế nghĩa là lễ tế sơ sài.
Cửu Ngũ với Lục Nhị thảy đắc trung, đắc chính, đức chí thành in nhau, nhưng vì thì hai hào có khác
nhau. Nhị ở vào đoạn đầu Kí Tế, tượng như mặt trời vừa mọc lên, mặt trăng vừa thượng huyền nên tiến

cảnh còn mạnh lắm. Ngũ ở về giữa đoạn sau Kí Tế, tượng như mặt trời đã gần xế, mặt trăng đã quá
rằm nên chỉ cầm chừng mà không thể tiến được nữa.
Vì thì khác nhau như thế nên Nhị, Ngũ trung đức tuy đồng mà về phần hưởng thụ thời Ngũ thua Nhị xa.
Tượng như Đông lân tuy tế phong hậu hung mà té ra không bằng nhà Tây lân chỉ tế đơn sơ mà hưởng
được phúc thật. Hào từ đây chỉ trọng về chữ thì. Đông lân sát ngưu vẫn cũng được thụ phúc, nhưng so
với Tây lân thược tế thời lại có phần kém thua, té ra thịnh tế mà chịu phúc ít, bạc tế mà được phúc
nhiều. Đó là vì thì bất đồng nên hưởng thụ có hơn kém khác nhau, so Cửu Ngũ với Lục Nhị có tượng
như thế.
Tượng viết: Đông lân sát ngưu, bất như Tây lân chi thì dã; thực thụ kì phúc, cát, đại lai dã.
象曰: 東鄰殺牛, 不如西鄰之時也; 實受其福, 吉大來也.
Đông lân sát ngưu, lễ tế vẫn phong hậu; Tây lân thược tế, lễ tế vẫn đạm bạc, mà cớ sao thực thụ kì
phúc, Đông lân lại kém thua Tây lân, há phải tài đức Ngũ thua Nhị rư? Chỉ vì thì của Đông lân không
được như Tây lân thì đúng hơn vậy. Ngũ là thì đã muốn suy, bất như Nhị đụng thì tương thịnh, nên Nhị
được cát đại lai mà Ngũ thời chỉ vừa bình thường mà thôi. Cát đại lai nghĩa là những việc tốt lành tới
hung lắm. Chữ “sơ cát” ở Quái từ, cũng một chữ cát này.
6. Thượng Lục: Nhu kì thủ, lệ.
上六: 濡其首, .
Thượng Lục ở trên hết quẻ, theo như hình quẻ, xem từ trên xem xuống thời Thượng là đỉnh đầu người
mà Sơ là hình đuôi. Thượng ở về thì cuối cùng Kí Tế, Kí Tế đã cực rồi mà lại ở trên hết Khảm hiểm
thời càng nguy lắm, bản thân Thượng đã âm nhu mà ở địa vị như thế, tượng như người lội qua sông mà
đến nỗi nước ngập cả đầu, e mắc nguy bằng trầm nịch kia. Kí Tế mà đến thì tiết này cũng in như thì
Thái mà đến lúc sắp Bĩ đó vậy.
Tượng viết: Nhu kì thủ, lệ, hà khả cửu dã.
象曰: 濡其首, , 何可久也.
Nhu kì thủ mà đến nỗi nguy. Thế là Kí Tế đã đến lúc cùng cực rồi, không thể lâu dài được nữa.
PHỤ CHÚ: Ba hào Thượng Quái quẻ Kí Tế, Hào từ lần lần xấu hơn Hạ Quái. Lục Tứ chung nhật giới
mà không thấy cát hanh; Cửu Ngũ sát ngưu mà thụ phúc không được như thược tế; nhu kì thủ ở hào
Thượng, so với Nhu kì vĩ ở hào Sơ thời lại xấu hơn quá nhiều. Xem đó thời biết họa phúc, thịnh suy
thường thừa trừ với nhau mà cùng thường đắp đổi mà tới. Vì đoạn trước Kí Tế, được hưởng sung
sướng bằng Kí Tế đã quá nhiều nên đoạn sau Kí Tế, gánh phần lo bằng Kí Tế quá nặng, nhỏ từ một
thân một gia, hoặc tiền phú mà hậu bần, hoặc tiền thuận mà hậu nghịch. Lớn đến một quốc gia, một dân
tộc, hoặc tiền trị mà hậu loạn, hoặc tiền hiển hách mà hậu suy đồi, thẩy là một lí số như thế. Vậy nên,
đọc Dịch rất quý là đắc trung, hễ quá trung là nguy hiểm sắp tới.
Thầy Thiệu Khang Tiết có câu thơ rằng: Rượu nếm hơi say đừng chếnh choáng, hoa xem vừa nở chớ
lan man
飲酒莫教愁酩酊, 看花勿到離披(Dánh đánh là đáng say rượu quá chừng; ly phi là khi hoa
nở đã quá rữa). Uống rượu mà đã đến nỗi dánh đánh là rượu đã hết thú. Xem hoa mà đã đến lúc ly phi
là hoa đã lạt màu. Việc thiên hạ mà đã đến lúc quá đắc ý, chính là thì tiết
dánh đánh, ly phi.

Ba hào ở Ngoại Quái Kí Tế, chính đúng với thì tiết ấy. Vậy nên, quân tử tư hoạn nhi dự phòng chi, tất
phải lo ở khi ba hào Nội Quái. Nếu đã đến khi ba hào ở Ngoại Quái trăng rằm rồi phải khuyết, hoa nở
rồi phải tàn, chẳng còn gì mà bổ cứu được nữa. Tượng Truyện hào Thượng Lục có câu:
Hà khả cứu
, ai ở vào thì Kí Tế mà đã đến hào quẻ trên chẳng nên gai mình rỡn ốc hay sao!

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!