CHU DỊCH HẠ KINH- QUẺ 60. QUẺ THỦY TRẠCH TIẾT

CHU DỊCH HẠ KINH

60. QUẺ THỦY TRẠCH TIẾT

Khảm trên; Đoái dưới


Quẻ này là quẻ Thủy Trạch Tiết. Đoái hạ cũng là Nội Đoái, Khảm thượng cũng là Ngoại Khảm. Khảm
thủy, Đoái trạch, nên tên quẻ đọc bằng Thủy Trạch Tiết.


TỰ QUÁI


Tự quái: Hoán giả li dã, vật bất khả dĩ chung li, cố thụ chi dĩ Tiết.
序卦: 渙者離也, 物不可以終離, 故受之以節.
Sau quẻ Hoán tiếp lấy quẻ Tiết là vì cớ sao?
Trước kia là quẻ Hoán, Hoán nghĩa là lìa tan; vật không thể lìa tan được mãi, tất phải có cách ngăn
đón lại vậy, nên sau quẻ Hoán tiếp lấy quẻ Tiết.
Tiết có hai nghĩa: Một nghĩa Tiết là mắt, như trúc tiết, tùng tiết, v.v. Lại một nghĩa nữa, Tiết là có
chừng mực, cũng có nghĩa là dè đặt, như tiết kiệm, tiết chế, v.v.
Theo về thể quẻ, trên chằm có nước, vì chằm có chừng mực mà nước trên chằm không tràn chảy ra
được, tượng là có tiết chế nên đặt tên quẻ bằng Tiết.


SOÁN TỪ


Tiết, hanh, khổ tiết, bất khả trình.
節亨, 苦節, 不可貞.
Việc trong thiên hạ, quý nhất là vừa đắc trung, bất cập vẫn là không hay mà thái quá cũng là dở). Vì sợ
đến nỗi thái quá mà phải sinh ra hạn tiết. Đã hạn tiết tức là đắc trung mà đã đắc trung thời không việc
gì chẳng hanh thông, nhưng mà cái hạn tiết đó, chỉ vì sợ thái quá mà phải Tiết, mà lại ở bản thân Tiết
cũng vừa nên đắc trung. Nếu Tiết mà thái quá thời Tiết đó lại bất cận nhân tình, tượng như đồ ăn mà
chỉ thiên về một vị đắng, quá đắng tức là khổ. Tiết đã đến nỗi khổ, tạm thì còn khá, nếu cố thủ làm
thường, cũng là trái với trung đạo. Vì trái với trung đạo thời người ta không thể thường hành được, nên
lại nói rằng:
Khổ tiết, bất khả trinh.
Thanh như ông Bá Di mà thầy Mạnh thấy làm ải, liêm như thầy Trần Trọng Tử mà thầy Mạnh cũng nói
Tất dẫn nhi hậu khả 必引c後可.
Chữ trinh đây chỉ học trinh là cố thủ, không đọc nghĩa trinh là chính. Nói về phẩm hạnh của cá nhân
thời khổ tiết vẫn là chính. Nói về thường lí cả xã hội thời khổ tiết không thể cố thủ được.

Quái từ nói rằng bất khả trinh là ý muốn cho người biết cho vừa đắc trung mà không cưỡng người ta
làm khổ tiết. Dịch là nói chung về xã hội, chẳng phải nói riêng về cá nhân. Vì vậy nên đã nói rằng
tiết
hanh
lại nói rằng khổ tiết bất khả trinh.


SOÁN TRUYỆN


Soán viết: Tiết hanh, cương, nhu phân, nhi cương đắc trung, khổ tiết bất khả trinh, kì đạo cùng dã.
Duyệt dĩ hành hiểm, đang vị dĩ tiết, trung chính dĩ thông. Thiên địa tiết nhi tứ thì thành, tiết dĩ chế độ,
bất thương tài, bất hại dân.
彖曰: 節亨, 剛柔分而剛得中. 苦節不可貞其道窮也. 說以行險, 當位以節, 中正以通. 天地節而
四時成
. 節以制度, 不傷財, 不害民.
Soán viết: Tiết hanh, cương, nhu phân, nhi cương đắc trung.
Tiết sở dĩ được hanh, bởi vì theo như thể quẻ, cương ba hào, nhu cũng ba hào, cương, nhu cân địch
với nhau, không bên nào quá mà lại tốt thứ nhất là hào Nhị, hào Ngũ, thảy dương cương đắc trung. Đã
có tài cương trung, tất nhiên xử sự được trung tiết mà việc gì cũng hanh thông.
Khổ tiết, bất khả trinh, kì đạo cùng dã.
Việc sở dĩ phải tiết là cốt cho người ta thông hành được, bây giờ tiết mà đến nỗi quá, thành ra khổ tiết,
bất khả trinh
. Thế thời chỉ độc thiện trong một mình mà không thể thông hành được trong thiên hạ. Tiết
mà không hanh thời đạo Tiết ấy phải cùng vậy.
Duyệt dĩ hành hiểm, đương vị dĩ tiết, trung chính, dĩ thông.
Đây lại lấy thể quẻ, đức quẻ thích lời quẻ.
Khảm ở Ngoại Quái là có tượng hiểm, Đoái ở Nội Quái là có tính duyệt; dùng một cách hòa duyệt mà
đi giữa chốn hiểm, thế là Tiết được tính sợ hại.
Cửu Ngũ ở vị tôn mà lại có đức trung chính. Thế là đương vị mà hay tiết chế, có đức trung chính mà
làm nên thông.
Ba câu này có ba nghĩa tiếp nhau. Hễ người ta đến khi hành hiểm, tất rụt rè quá sợ thành ra người quá
khiếp, bây giờ lấy cách hòa duyệt thái nhiên mà đi giữa lúc hiểm, đó là Tiết được thói khiếp.
Người ta ở vị sùng cao thường đến nỗi kiêu căng phóng túng, bây giờ ở vị chí tôn mà vẫn cứ dè dặt
giữ gìn, đó là Tiết được thói kiêu.
Tóm hai câu ấy là đạo Tiết được rất hay, nhưng sở dĩ được như thế là vì có đức trung chính nên Tiết
mà được thông. Câu
trung chính dĩ thông là đỡ cả hai câu trên (Thông là nghĩa chữ hanh).
Thiên địa tiết nhi tứ thì thành, tiết dĩ chế độ, bất thương tài, bất hại dân.
Đây là thừa Thượng văn mà nói rộng cho hết đạo Tiết, công việc làm Tiết đó, há phải việc người mà
thôi rư? Tức như, khí vận của trời đất, mùa nắng, mùa mưa, cơn nóng, cơn lạnh, tất thảy có chừng
mực. Vậy nên Thu không Thu hoài, Xuân không Xuân mãi mà bốn mùa mới nên. Trời đất như thế nên
thánh nhân bắt chước trời đất mà trì nước, trì dân, bày đặt ra mỗi thức chế độ, để hạn tiết tình dục của
loài người, có tiêu phí mà không xa xỉ, có công tác mà không quá lao. Vì có tiết chế như thế nên không

tổn hại đến của, không tàn bạo đến dân. Sở dĩ kết quả được như thế là chỉ tạo nhân vì thay tiết mà thôi.
Tiết dĩ chế độ, bất thương tài, bất hại dân, ba câu ấy ý nghĩa liên tiếp với nhau.
Bởi vì hạn tiết bằng chế độ nên tham quan ô lại, phải nép vào trong phạm vi hạn tiết mà kết quả được
bất thương tài; của công đã không hao tổn thời của tư càng ngày càng dồi dào, cách sinh hoạt của nhân
dân mới khỏi sự nguy hiểm mà kết quả được bất hại dân.
Sách
Luận Ngữ có câu Tiết dụng nhi ái nhân節用而愛人, nghĩa là có dè đặt ở việc tiêu dùng mà sau
mới có tiền của làm được việc yêu người, chính là nghĩa quẻ Tiết.


ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN


Tượng viết: Trạch thượng hữu thủy, Tiết. Quân tử dĩ chế số độ, nghị đức hạnh.
象曰: 澤上有水, . 君子以制數度, 議德行.
Ở trên Đoái trạch có Khảm thủy, tượng là nước đựng vào trong chằm, chằm có hạn tiết mà nước khỏi
chảy tràn, ấy là tượng quẻ Tiết. Quân tử xem tượng ấy mà nghĩ ra một cách để hạn tiết cho loài người.
Hễ những giống vật mà cần nhu dụng ở nhân gian, có lớn nhỏ, có nặng nhẹ, có cao thấp, có tốt xấu, có
giá đắt, có giá rẻ, tất thảy chế ra là từ số từ độ, theo sở năng của mỗi người mà phân cấp cho cái sở
nhu, không để ai quá ít mà thiệt, không để ai quá nhiều mà hơn, chiết trung ở số độ, chính là phương
pháp làm Tiết đó vậy.
Nếu không số độ thời chừng mực lấy vào đâu, nên phải chế làm số độ, nhưng chỉ chế số độ mà thôi
thời vừa hạn tiết được phần hình thức mà không hạn tiết được phần tinh thần, vật chất hữu hạn mà nhân
dục vô nhai thời tiết làm sao nổi nên lại phải cân lường về phần đức hạnh.
Đức là xem ở tâm tính, hạnh là xem ở việc làm, bàn bạc cân nhắc về hai điều đó. Đức hạnh có phần tốt
thời hưởng thụ có hơi hơn; đức hạnh có phần kém thời hưởng thụ có hơi sút; lấy đức hạnh làm giá trị,
lấy số độ làm vật báu thù.
Sở dĩ hạn tiết như thế là muốn cho loài người vật chất với tinh thần thảy nạp vào trong vòng đạo đức,
toàn xã hội mà ai nấy cùng trúng tiết cả. Thế đạo có lo gì chẳng hanh nữa đâu.
(Phận lượng nhiều ít gọi bằng số; phép tắc khuôn khổ gọi bằng độ; tâm lí tư tưởng gọi bằng đức; tài
nghệ sự nghiệp gọi bằng hạnh. Chế là bày đặt cho có chương trình nhất định nghĩa là bàn xét cho được
danh thực đúng nhau).
PHỤ CHÚ: Tượng Truyện quẻ Tiết nên tham quán với Tượng Truyện quẻ Khiêm.
Quẻ Khiêm thời
biền đa ích quả, xứng vật bình thí; quẻ Tiết thời chế số độ, nghị đức hạnh. Nhưng
bàn tóm lại thời tượng quẻ Khiêm là mục đích mà tượng quẻ Tiết là thủ đoạn. Vì muốn bớt chốn nhiều,
thêm chốn ít, nếu không chế ra số độ thời nhiều, ít lấy đâu làm chứng, nên muốn đạt mục đích biền đa
ích quả tất phải chế số độ. Vì muốn xứng phân lượng mỗi người mà thí dụ cho cân bằng, nếu không cân
nhắc ở nơi đức hạnh thời kẻ hơn, người kém, kẻ thấp, người cao, lấy vào đâu mà bình xứng được. Vì
muốn đạt mục đích xứng vật bình thí nên phải nghị đức hạnh. Chế số độ là thủ đoạn làm cho nhiều, ít
có chừng mực, nghị đức hạnh là thủ đoạn khiến cho đại giá được công bình.
Xem góp cả hai tượng thời quy mô trì quốc bình thiên hạ, cũng đã quá phần nữa rồi.


HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN


1. Sơ Cửu: Bất xuất hộ đình, vô cựu.

初九: 不出戶庭, 無咎.
Ở vào thời Tiết là cốt làm sao cho đúng Tiết mới hay; nên đi mà đi thời đi là đúng Tiết, nên chỉ mà chỉ
thời chỉ là đúng Tiết.
Sơ Cửu dương cương đắc chính ở về đầu thì Tiết, có nghĩa nên thủ thân tự trọng, chưa nên vội ra đi
đâu, nên Hào từ nói rằng: Bất xuất hộ đình, vô cựu, nghĩa là đã Tiết tất phải cẩn thận từ lúc đầu, mới
hay hoàn toàn ở lúc sau.
Tượng viết: Bất xuất hộ đình, tri thông tắc dã.
象曰: 不出戶庭, 知通塞也.
Ở đầu thì Tiết mà sớm lo cẩn thận cách hành động của mình thời bất xuất hộ đình là phải.
Nhưng không phải chỉ là một mặt chỉ mà thôi. Thì có khi thông khi tắc, khi tắc mà chỉ, khi thông mà
hành, nên biết thông biết tắc mà tùy thì biến hóa, nếu chỉ một mực bất xuất hộ đình mà thôi cũng chưa
phải đúng với đạo Tiết.
PHỤ CHÚ: Hệ tử thích Hào từ chỉ dụng nghĩa hai chữ bất xuất mà bỏ hai chữ hộ đình không nhắc đến;
biết được thánh nhân học Dịch, chỉ cần học ý mà không cần học chữ, xin dịch ra đây cho tiện bể xem
xét:
Hệ tử nói rằng: Việc họa hoạn trong đời, há phải vô cớ mà sinh ra đâu, tất từ ở ngôn ngữ mà gây ra
múi. Làm vua mà ngôn ngữ bất mật thời đến nỗi mất tôi. Làm tôi mà ngôn ngữ bất mật thời đến nỗi mất
thân. Gặp những việc mưu cơ càng nên bí mật. Nếu hở hang tiết lộ thời việc hỏng mà tai hại nảy ra. Vì
thế nên quân tử thận mật mà không khinh dị xuất lời nói vậy.
Hào từ chỉ bảo người ta cẩn ở hành. Hệ tử thích nghĩa lại chú trọng ở cẩn ngôn, lấy chữ “mật” làm
“tiết”, so với Hào từ lấy chữ “chỉ” làm “tiết”, hai nghĩa đắp đổi phát minh cho nhau, hay cẩn thận được
ngôn, mới hay cẩn thận được hành, cũng chung vào trong đạo Tiết.
Thầy Nhan tại lậu hạng, thầy Nam Dung tạm phục bạch quê, cũng thảy là
bất xuất hộ đình.
2. Cửu Nhị: Bất xuất môn đình, hung.
九二: 不出門庭, .
Ở vào thì Tiết, vẫn lấy Tiết làm hay, nhưng đã gọi bằng Tiết, tất phải Tri thì thúc biến. Thì của Cửu
Nhị đã khác với thì của Sơ Cửu; ở trên có hào Cửu Ngũ đồng đức với mình, lẽ nên đem thân ra giúp
việc với Ngũ, huống gì Nhị ở giữa Nội Quái thời địa vị phận vị mình cũng không đáng làm khách bằng
quan. Ai ngờ Nhị lại độc thiện kì thân, đóng cửa dấu mình mà không chịu chung gánh việc đời với
Ngũ, té ra Nhị chỉ là một người trất ám, biết tắc mà không biết thông, gặp được thì khả hành mà cố làm
cách chỉ. Thấy Sơ bất xuất hộ đình mà mình cũng bất xuất môn đình. Tiết mà dốt như thế, hung là đáng
rồi. Chữ hung ở đây không phải là kết quả, chỉ là nói hành ví trái thì, tức là hung.
Nếu Nhan Tử mà gặp đời Vũ, Tắc, gặp được vua như Nghiêu, Thuấn mà không lo trị thủy cứu dân thời
cách lậu hạng đan biều của Nhan Tử cũng có thể gọi bằng thất tiết.
Tượng Truyện hào Sơ đã nói rằng: Tri thông tắc. Thì Sơ nên tắc mà tắc, mới gọi rằng người biết thì,
thì Nhị nên thông mà lại làm cách tắc, chính là người không biết thì.
Xưa có câu: “Khôn chết, dại chết, biết sống”. Biết tức là nghĩa chữ tri. Sơ vì tri tắc nên bất xuất hộ
đình mà vô cựu; Nhị vì bất tri thông nên bất xuất môn đình mà hung. Khó vậy thay! Tiết mà biết thông

đó vậy.
Tượng viết: Bất xuất môn đình, hung, thất thì, cực dã.
象曰: 不出門庭凶, 失時極也.
Cửu Nhị ở vào thì Tiết mà gặp được cương trung đồng đức như hào Cửu Ngũ, lẽ nên đem thân ra gánh
việc đời. Nhị trở lại bất xuất môn đinh, Thì đến mà bỏ mất thì, thiệt đáng quá ngán cho Nhị vậy. Vì
vậy mà Hào từ nói rằng: Hung.
3.Lục Tam: Bất tiết nhược tắc ta nhược, vô cựu.
六三: 不節若, 則嗟若, 無咎.
Lục Tam âm nhu mà lại bất trung chính, cưỡi hai hào dương cương mà lâm lấy Khảm hiểm, gặp hoàn
cảnh như thế, vẫn dễ mắc tội lỗi, nhưng ở vào thì Tiết, nếu mình hay tiết lấy mình, còn may khỏi tội
lỗi, nhưng mà nhân cách như Lục Tam, chẳng bao giờ tiết nổi. Ăn càn nói dở, rước vạ vào mình, tất
đến nỗi than vãn đau đớn. Sự đó mình làm mình chịu, còn trách lỗi được ai. Nghĩa chữ
vô cựu ở đây
là nghĩa đặc biệt trong Kinh, xem Tượng Truyện thời hiểu.
Tượng viết: Bất tiết chi ta, hựu thùy cựu dã.
象曰: 不節之嗟, 又誰咎也.
Đã bất tiết thời đến nỗi ta, còn đổ lỗi cho ai được nữa. Chữ vô cựu ở các hào thời nghĩa là không tội
lỗi gì, duy Hào từ Lục Tam quẻ Tiết với Lục Tam quẻ Giải thời là
hựu thùy cựu dã, nghĩa là lại đổ lỗi
cho ai đặng.
4- Lục Tứ: An tiết, hanh.
六四: 安節, .
Lục Tứ nhu thuận đắc chính, trên thừa tiếp Cửu Ngũ, tự bản thân Tứ vẫn đã an ở chính mà địa vị Tứ
lại vừa đúng gặp thì. Tiết vừa thích phải mà cứ thuận tiện làm, không cần phải miễn cưỡng. Thế là an
tiết mà được hanh thông.
Hào từ này tinh thần chỉ tại chữ an, nghĩa là lấy Tiết làm thích, không phải kiểu sức mà làm. Thường
tình người ta ở vào thì Tiết hay kiểu sức làm Tiết. Đã kiểu sức thời không được lâu dài nên Tiết mà
không được hanh thông. Muốn được hanh thông, tất phải an tiết như Lục Tứ.
Tượng viết: An tiết chi hanh, thừa thượng đạo dã.
象曰: 安節之亨, 承上道也.
Tứ hay an tiết mà được hanh là vì thuận thừa đạo cương trung của Cửu Ngũ vậy (Thượng là chỉ vào
Cửu Ngũ).
5. Cửu Ngũ: Cam tiết, cát, vãng hữu thượng.
九五: 甘節, , 往有尚

Chữ cam phản đối với chữ khổ.
Tiết mà lấy làm khó chịu thời gọi bằng khổ. Tiết mà xem bằng ngon ngọt thời gọi bằng cam. Toàn quẻ
Tiết, duy Cửu Ngũ là rất tốt, thân Ngũ vừa ở vị chí tôn, lại đủ cả đức dương cương, trung chính, lấy
một người tư cách rất cao, địa vị rất xứng mà làm chủ cho thì Tiết, Tiết tự một mình mà Tiết đến cả
thiên hạ, chế ra số độ, nghị được đức hạnh, tự mình tiết mà mình vui, bảo thiên hạ tiết mà thiên hạ
thuận, tiết bằng một cách ngon ngọt. Thế là
cam tiết, chắc được tốt lành. Cứ như thế mà tấn hành, tất
lại có công lớn mà đáng khen nữa.
Hào từ này chính đúng với Soán Truyện, trên kia Soán Truyện đã nói rằng: Đang vị dĩ tiết, trung chính
dĩ thông, sở dĩ cam tiết mà cát là vì thế.
Tượng viết: Cam tiết chi cát, cư vị, trung dã.
象曰: 甘節之吉. 居位中也.
Vì địa vị sở cư của Ngũ, đã được vị chí tôn mà lại được trung đạo nên cam tiết mà cát. Ngũ đủ cả
trung lại chính, nhưng Tượng Truyện chỉ nói một chữ trung.
Vì Tiết quý nhất là trung. Chính mà quá trung cũng không phải đạo Tiết. Nếu đã trung tức là chính rồi,
nên Tượng Truyện chỉ nói chữ trung.
6. Thượng Lục: Khổ tiết, trinh hung, hối vong.
上 六: 苦節, 貞凶, 悔亡.
Thượng Lục ở về cuối cùng thì Tiết là Tiết chi cực. Tiết cực là Tiết mà thái quá, quá Tiết tức là khổ
tiết, hễ khổ tiết thời bất khả trinh, nên cố thủ lấy cách ấy mãi, tất đến nỗi hung (
Trinh nghĩa là bền giữ).
Bây giờ nghĩ cách bổ cứu cho Thượng Lục: chỉ nên hối cải lỗi ấy, bớt thái quá mà làm cho thích trung,
biết hối như thế thời hung họa tan mất được.
Chữ hối vong ở đây, với chữ hối vong ở mọi quẻ, văn tuy đồng mà ý khác nhau; hối vong ở mọi quẻ là
những điều hối được vong, còn hối vong ở đây là biết hối thời vong được hung.
PHỤ CHÚ: Tiết vẫn là một đạo lí hay, nhưng cần phải đắc trung. Lục Tam bất tiết thời ta nhược mà
mắc tội lỗi bất cập. Thượng Lục khổ tiết thời trinh hung là mắc lỗi thái quá.
Đức Khổng có nói quá do bất cập, thảy không phải là thiện đạo, chỉ duy đắc trung như Cửu Ngũ mới là
cam tiết.
Tượng viết: Khổ tiết, trinh hung, kì đạo cùng dã.
象曰: 苦節貞凶, 其道窮也.
Tiết đã đến khổ là tiết cực rồi, còn cố thủ lấy khổ đó, tất nhiên không thể thông hành được, đạo ấy phải
cùng vậy.
Nên Hào từ nói rằng:
Trinh hung. Hào từ này rất giản đơn mà ý nghĩa rất sâu. Tiết vẫn nên trinh mà
trinh lấy cái khổ thời không hay. Tiết đáng không hối, nhưng khổ thời phải hối. Hối cái khổ mà làm cho
vừa đến cam thời hung mới [hết] được. Nếu nhận lầm chữ hối dính với chữ tiết thời thánh nhân có bao
giờ dạy cho người ta bất tiết đâu. Duy khổ ở tiết thời mới nên hối.
PHỤ CHÚ: Quẻ Tiết ở sau Hoán là Dịch lí rất hay, quốc gia xã hội đã trải qua một cuộc hoán tán rồi.

Phong tục đồi bại đã quá nhiều, công nghệ hoang phế đã quá lắm, trật tự đã biết bao nhiễu loạn, kinh tế
đã biết bao cùng quẫn, sinh sản lực tất kém sút hơn xưa, đạo đức mới toan đánh đổ cái cũ. Nếu khi ấy
mà không dùng đạo Tiết, sống xa xỉ ngày càng lung tung, thế vật chất ngày càng bành trướng làm nguy
hiểm cho thế đạo biết đến chừng nào.
Vậy nên sau thì Hoán rất cần là phải có Tiết, đường tài chính có tổn tiết mới hay, đường giáo dục phải
tiết văn cho vừa thích, ở quân luật phải tiết chế cho nghiêm minh, ở triều đình thời phải sùng trọng
danh tiết, công việc làm Tiết rất nhiều, nhưng tổng chi, chỉ là bổ tệ ở sau lúc Hoán.
Nhưng mà Tiết tất phải cho đắc trung, quá khổ thời nhân tình bất kham, quá cam thời nghĩa lí không
đúng, nên trong sáu hào, theo địa vị mỗi hào mà cốt cho đáng vị, đáng vị tức là hợp thì.
Vị mỗi hào chính là thì mỗi hào. Tiết đúng với thì thời hay, Tiết không đúng với thì thời không hay.
Sơ Cửu, Lục Tứ, Cửu Ngũ, rặt đúng vị mà Tiết đúng với thì nên Ngũ cát, Tứ hanh, Sơ vô cựu. Cửu
Nhị, Lục Tam rặt là bất đáng vị mà Tiết trái với thì, vậy nên Nhị hung mà Tam ta nhược.
Lại xem ở mỗi hai hào dếnh nhau thời hào nghĩa trái nhau. Sơ dếnh với Nhị, Sơ bất xuất hộ đình thời
vô cựu, Nhị bất xuất môn đình thời lại hung. Đó là Nhị trái với Sơ. Tam dếnh nhau với Tứ, Tứ đắc
chính thời là an tiết, Tam bất chính thời bất tiết. Đó là Tam trái với Tứ. Ngũ với Thượng dếnh nhau,
Ngũ cương mà đắc trung thời Tiết mà cam, Thượng quá trung thời tiết mà khổ, ấy là Thượng trái với
Ngũ. Mỗi hai hào dếnh nhau mà vẫn hai hào trái nhau. Thánh nhân sở dĩ bày đặt như thế, há phải xuyên
tạc đa sự đâu.
Than ôi! Loài người phức tạp, vật tình bất tề, tiết vẫn là hay mà không thể cấm người ta toàn không bất
tiết, mà huống gì thì Hoán vừa qua, đạo Tiết chưa thịnh làm thế nào mà khỏi trái nhau rư?
Thánh nhân chỉ duy đem chân lí mà bày vẽ cho người ta, ai hay thời chứ, ai dở thời dè. Tiết rư? Bất
Tiết rư? Thời tùy ở người học Dịch.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!