CHU DỊCH HẠ KINH- QUẺ 59. QUẺ PHONG THỦY HOÁN

CHU DỊCH HẠ KINH

59. QUẺ PHONG THỦY HOÁN

Tốn trên; Khảm dưới


Quẻ này là quẻ Phong Thủy Hoán. Khảm hạ cũng là Nội Khảm, Tốn thượng cũng là Ngoại Tốn. Tốn
phong Khảm thủy, nên tên quẻ đọc bằng Phong Thủy Hoán.


TỰ QUÁI


Tự quái: Đoái giả duyệt dã, duyệt nhi hậu tán chi, cố thụ chi dĩ Hoán, Hoán giả ly dã.
序卦: 兌者悅也, 悅而後散之, 故受之以渙, 渙者離也.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Đoái tiếp lấy quẻ Hoán là vì cớ sao?
Trên đây là quẻ Đoái, Đoái nghĩa là duyệt, duyệt đã đến cực rồi, tất đến nỗi ly tán, đó là một nghĩa,
thường tình người ta, lúc lo buồn thời khí uất kết mà khi duyệt lạc thời khí thư tán, lại là một nghĩa,
thảy là nghĩa duyệt rồi mà tán. Vậy nên sau quẻ Đoái tiếp lấy quẻ Hoán. Theo về tượng quẻ, Tốn
phong ở trên Khảm thủy, gió đi ở trên nước, nước đụng lấy gió thời Hoán tán tứ tung, nên đặt tên quẻ
bằng Hoán; Hoán nghĩa là tan tác.


SOÁN TỪ


Hoán hanh, vương cách hữu miếu, lị thiệp đại xuyên, lị trinh.
渙亨, 王假有廟, 利涉大川, 利貞.
Quẻ này phản đối với quẻ Tụy. Tụy nghĩa là nhóm; Hoán nghĩa là tán.
Ở quẻ Tụy thời Tụy vẫn có lẽ hanh, theo về lẽ thường thời Hoán đáng lẽ là không hanh, nhưng vi Dịch
lí biến hóa bất trắc, việc trong thiên hạ, có cái lấy tụ làm hanh, cũng có cái lấy tán làm hanh.
Túc như: Tập quyền vào trung ương mãi thời thành ra họa chuyên chế, muốn cứu họa ấy, tất phải phân
quyền cho nhân dân. Tập sản vào tư bản gia mãi thời kinh tế ở xã hội tất đến nỗi khủng hoảng. Muốn
cứu họa ấy tất phải công sản cho xã hội. Lại như, nghị trường nhiễu loạn, tất phải giải tán nghị viện;
quân đội bạo hoành, bỏ kỉ luật, họa nhân dân, tất phải giải tán quân đội.
Đại loại như những việc trên đây thảy là lâm cơ ứng biến, tùy thì chế nghị. Ví như, chữa bệnh tà thực,
tất phải tán tà. Tụy mà hanh chẳng qua là sự thường; duy Hoán mà hanh mới là công dụng thần diệu của
Dịch, nên Quái từ nói rằng:
Hoán hanh, nghĩa là ở vào thì Hoán mà xử trí cho đúng với thì tất nhiên
được hanh, nhưng mà sở dĩ làm được hanh, tất trước hết phải có căn bản, thứ nữa phải có thủ đoạn.
Căn bản là cái gì? Là cốt ở tinh thần. Bắt đầu làm công việc Hoán phải chất chứa tấm lòng chí thành,

chỉ biết vì nước vì dân mà không chen vào một tý tư lợi, tượng như ông vương đến nhà tông miếu, cốt
đem tinh thần mình mà cảm cách được tinh thần tổ tiên, tôn chí thành như thế thời bắt tay làm việc
Hoán thiên hạ mới tin lòng mình mà khỏi sinh ra đám phản đối; ấy là căn bản làm đạo Hoán.
Lại còn phải có thủ đoạn, hễ xã hội đương lúc tối tăm, dân tình còn quen giữ thói ngoan cố, chứa
những kết tập đã lâu ngày mà một mai khiến cho giải tán, việc lạ lùng bởi mới thường đến nỗi nhân
tình kinh cụ, dư luận phân vân. Nếu phấn dung trực tiền vẫn có cơ nguy hiểm. Lúc bây giờ muốn làm
đạo Hoán tất phải có sức óc cho sâu xa, có sức gan cho to lớn, mạo hiểm cảm vi, trông bờ thảy tới,
tượng như một người có gan vượt qua sông lớn, đó là thủ đoạn.
Có căn bản tốt như thế, có thủ đoạn hay như thế thời làm những công việc ở thì Hoán như các việc ở
trên đây còn ngại gì mà không được hanh thông.
Tuy nhiên, thì Hoán là thì khó xử, việc Hoán là việc bất thường. Nếu người đứng lên vũ đài ấy mà tà
tâm tiểu trí, lấy một cách bất chính mà xông vào trước mắt muôn mũi sặt thời chẳng những tai hại ở
thân mình mà lại làm hại đến toàn xã hội. Thế thời đạo Hoán ấy làm nên chúng phản thân ly, chẳng tai
hại lắm hay sao! Nên Quái từ nói rằng:
Lị trinh, nghĩa là ở thì Hoán làm việc Hoán, nhất thiết phải giữ
cho được đạo chính. Hễ giữ được đạo chính thời Hoán chỉ một đám mà Tụy được cả Đồng Nhân,
Hoán chỉ tạm thì mà Tụy được rất trường cửu, chẳng phải lị mà hanh hay sao?
PHỤ CHÚ: Chúng ta xem ở quẻ Tụy, Quái từ có chữ hanh, đến quẻ Hoán, Quái từ cũng có chữ hanh.
Mâu thuẫn thay! Quái lạ thay! Thiệt không gì bằng Dịch lí.
Đạo lí trong thiên hạ chỉ có tương đối mà không tuyệt đối, tuyệt đối Tụy mới hanh vẫn không phải,
tuyệt đối Hoán mới hanh cũng không phải.
Hễ một phía nên nhóm lại, tất có một phía tan đi, tất có tan được một phía đi thời mới nhóm được một
phía lại; chỉ tranh nhau là hai phía đó. Phía nào hợp với thời thế, thích với nhân tình, đúng với nhân
đạo thời nhóm đó là hạnh phúc cho loài người. Phía nào trái với thời thế, chống với nhân tình, không
hợp với nhân đạo thời tan được nó lại hạnh phúc cho loài người càng lớn.
Vậy nên trong Dịch đã nói rằng: Tụy hanh, lại nói rằng: Hoán hanh. Đạo lí vì có tương đối mới hay
tương thành, thiệt chí lí bất dịch như thế, há phải như người hai lưỡi, rắn hai đầu, rày bảo người ta
Tụy, mai bảo người ta Hoán mà dụng đâu cũng nói hanh đâu, xin học giả chớ nhận lầm nghĩa ấy.


SOÁN TRUYỆN


Soán viết: Hoán hanh, cương lai nhi bất cùng, nhu đắc vị hồ ngoại, nhi thượng đồng. Vương cách hữu
miếu, vương nãi tại trung dã. Lị thiệp đại xuyên, thừa mộc hữu công dã.
彖曰: 渙亨, 剛來而不窮, 柔得位乎外而上同. 王假有廟, 王乃在中也. 利涉大川, 乘木有功也.
Soán viết: Hoán hanh, cương lai nhi bất cùng, nhu đắc vị hồ ngoại, nhi thượng đồng.
Hoán vì sao mà được hanh rư? Bởi vì theo về thể quẻ, hào Cửu nguyên ở quẻ Càn mà lại thay vào hào
Nhị thành ra Khảm, hào Lục nguyên ở quẻ Khôn mà lên thay vào hào Tứ thành ra Tốn. Như thế là
dương cương tấn lần mà không mắc lấy khốn cùng, âm nhu ở Ngoại Quái mà thông đồng với kẻ trên
mình,
nhu chỉ vào Lục Tứ, Ngoại Quái, thượng chỉ vào Cửu Ngũ.
Cứ theo tượng quẻ như thế thời là cương, nhu đủ hai ngón, trong ngoài chung một lòng, ở thì Hoán làm
việc Hoán mà đủ cả thể, dụng như thế, còn sợ gì chẳng hanh thông.
Tòng lai làm việc thiên hạ, chỉ một mực cương mà thôi thời thái cương tắc chiết; chỉ một mực nhu mà
thôi thời thái nhu tắc phế; mà huống gì hoán tán, há thiên cương hay thiên nhu mà làm xong được rư?

Duy như quẻ Hoán này dương cương đã bất cùng, âm nhu lại đắc vị, đủ cả cương, nhu như thế mới làm
nên được Hoán mà hanh.
Nói trái lại, nếu cương mà bị khốn cùng, nhu mà bị khốn cùng, nhu mà không đắc vị, cương chẳng ra
cương, nhu chẳng ra nhu, thời Hoán bao nhiêu càng khốn đốn bấy nhiêu, còn làm gì nên hanh được
đâu. Ý nghĩa hai câu ở Soán Truyện lại tinh diệu thứ nhất là câu:
Nhu đắc vị hồ ngoại nhi thượng
đồng
. Cương vẫn là quân tử, nhu vẫn là tiểu nhân, nhưng trong lẽ việc đời vô tiểu nhân bất thành quân
tử nên không thể bỏ được nhu.
Nhưng tất phải cương trong, nhu ở ngoài mà lại cho nó đắc vị hồ ngoại mà lại bắt buộc cho nó phải
thượng đồng. Như thế thời quân tử dụng sự trong, tiểu nhân phụng lệnh ở ngoài làm công việc Hoán có
khó gì đâu? Soán Truyện thích nghĩa hai chữ
Hoán hanh, chỉ hai câu ấy thiệt là tinh mật.
Vương cách hữu miếu, vương nãi tại trung dã.
Quân tử lại nói rằng: Vương cách hữu miếu, bởi vì làm nên nghiệp vương là căn bản trong lòng mà
thôi.
Xưa nay, người làm nên nghiệp vương, tất phải đánh tan chính phủ cũ mà muốn đánh tan chính phủ cũ,
trước phải thu phục lòng người, đem lòng mình đặt vào trong lòng dân, như thế là tại trung đó vậy.
Lấy lòng mình mà thu phục được lòng dân, cũng in như lấy tinh thần mình mà nhóm được tinh thần tổ
tiên. Vậy nên nói:
Vương cách hữu miếu.
Thầy Mạnh Tử có nói rằng: Thu được hết dân có một cách, thu được lòng dân tức là được dân.
Đắc kì tâm chính là nghĩa chữ
tại trung. Vương cách hữu miếu chỉ là nói thí dụ. Theo như thường tình,
người ta rất thành kính chỉ là ở trước mặt thần nên mượn chữ
vương cách hữu miếu mà hình dung đạo
chí thành cảm nhân. Vậy nên, Soán Truyện thích nghĩa rằng: Nãi tại trung nghĩa là cốt trong lòng mà
không phải tại hình thức ở bề ngoài làm công việc thì Hoán, tất căn bản ở tinh thần.
Lị thiệp đại xuyên, thừa mộc hữu công dã.
Quái từ lại nói rằng: Làm công việc Hoán ở thì Hoán in như vượt qua sông lớn, qua sông tất cần phải
có thuyền làm công việc Hoán tất cần phải có tài mạo hiểm; đó chính là cây gỗ làm thuyền để qua
sông, tức là cậy tài năng mà làm nên việc Hoán.
Sóng cao như núi, nước lớn bằng trời mà bỗng chốc qua sông tới bờ, rảnh hết tai, tan hết nạn, ấy là
nhờ công vào đâu, chỉ nhờ vào cây thuyền mà thôi nên nói rằng:
Thừa mộc hữu công.
(Thừa nghĩa là cưỡi, mộc là cây gỗ làm thuyền lái). Cưỡi cây gỗ mà qua được sông tỉ như cậy nhân tài
mà làm nên việc Hoán.
PHỤ CHÚ: Dịch học vẫn có tượng, nhưng gốc cốt ở lí. Vì lí mà vô hình, tượng là hữu hình nên phải
mượn tượng hữu hình mà tỏ rõ lí vô hình. Như Quái từ ở đây nói rằng: Lị thiệp đại xuyên mà Soán
Truyện lại thích rằng: Thừa mộc hữu công dã. Thế thời chỉ nói việc chèo thuyền qua sông hay sao?
Không phải, Thiệp xuyên là chỉ nói bằng cách mạo hiểm, thừa mộc là chỉ nói bằng cách nương tựa
nhân tài.
Kinh Thư: Vua Cao Tổ nói với ông Phó Duyệt rằng: Như cách qua sông lớn, ta phải dùng mày làm
thuyền lưới, chinh là nghĩa Quái từ đây.


ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN

Tượng viết: Phong hành thủy thượng, Hoán. Tiên vương dĩ hưởng vu đế, lập miếu.
象曰: 風行水上, . 先王以享于帝立廟.
Tốn ở trên Khảm, tượng là gió đi ở trên nước, gió đánh nước, nước phải tan, đó là tượng quẻ Hoán.
Tiên vương xem tượng ấy mà biết rằng: Lí trong thiên hạ, nhóm lâu ngày tất phải tán, khi đã tản tất phải
lo nhóm lại mà muốn cho nhóm lại được không gì bằng thống nhất được nhân tâm.
Muốn thống nhất được nhân tâm, tất phải xem ở chốn nhân tâm tín ngưỡng, vật sinh ra gốc ở trời nên
nhân tâm tín ngưỡng không gì bằng trời. Người sinh ra gốc có tổ nên nhân tâm sùng bái không gì bằng
tổ tiên.
Tiên vương muốn cho nhân tâm thống nhất mà khỏi mắc phải vạ tan tác chia lìa, tất trước phải giữ
mình có chốn làm gương, nhóm hết tinh thần mình cho cảm cách đến trời, đến tổ tiên, mong khiến cho
người trong một nước, ai nấy cũng lấy trời làm gốc, lấy tổ tiên làm cha. Vậy nên đặt lễ tế thần thượng
đế, khiến cho dân biết kính trời; dựng nhà miếu tế tổ, khiến cho dân chớ quên tổ. Đó rặt là lấy tinh thần
của mình mà liên lạc với tinh thần của người, chính là phương pháp để thống nhất nhân tâm đó vậy,
nhân tâm đã thống nhất, còn lo gì hoán tán nữa đâu?
PHỤ CHÚ: Ở trên Quái từ chỉ nói công việc làm Hoán là vì có cái nên tan mà phải tan. Ở đây Tượng
Truyện lại nói những công việc cứu Hoán là chuyên nói về việc nên nhóm, có một phương diện nhóm
mới là nên một phương diện tan; đã có một phương diện tan tất cần có một phương diện nhóm; nhóm
được phía này, mới tan được phía kia, đã tan được phía kia, lại nhóm được phía này.
Soán từ, Soán Truyện với Tượng Truyện ý nghĩa bổ trợ cho nhau; kì thực, lẽ trong thiên hạ, không bao
giờ chỉ có tụ mà không tán, cũng không bao giờ chỉ có tán mà không tụ; chỉ cốt ở người ta biết tùy thì
biến hóa, dữ thời tránh lành thời theo mà thôi.


HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN


1. Sơ Lục: Dụng chửng mã tráng, cát.
初六: 拯馬壯, .
Sơ Lục ở đầu hết quẻ, chính là bắt đầu vào thì Hoán, vừa lúc đầu chia lìa tan tác mà thu thập cho rất
mau, chắc còn có lẽ dễ. Sơ Lục âm nhu, tài hèn sức yếu mà đương lấy hoàn cảnh như thế, chẳng gay go
lắm hay sao? Nhưng may thay ở trên mình có Cửu Nhị là bạn dương cương đắc trung, có tài chữa vớt
được thì Hoán.
Sơ vì nhu thuận nên biết ỷ thác vào Cửu Nhị, tượng như người đi đường được con ngựa khỏe, dầu xa
mấy cũng đi tới nơi, ở lúc đầu thì Hoán mà cứu vớt được mau như thế, chắc là tốt lành, nên nói rằng:
Mã tráng cát. (Mã tráng, chỉ vào Cửu Nhị).
Tượng viết: Sơ Lục chi cát, thuận dã.
象曰: 初六之吉, 順也.
Sơ Lục mà được cát, vì biết nương tựa người hay, vừa thuận với thì nghĩa vậy.
2. Cửu Nhị: Hoán, bôn kì kỉ, hối vong.
九二: 渙奔其杌, 悔亡.

Ở vào thì Hoán, nhân tình chểnh mảng, cuộc đời chia lìa, người ở vào thì này, thiệt dễ có việc hổỉ lắm;
nhưng Cửu Nhị bản thân đã có tài dương cương mà ở dưới mình lại có Sơ Lục, Sơ còn dựa cậy vào
mình làm ngựa khỏe, mình nên dựa cậy vào Sơ làm ghế ngồi, chung vai liền cánh, dỡ đần với nhau ở
giữa hội lưu ly.
Người cô lập mà mình có bầy, người chia lìa mà mình sum họp, thiệt là một việc đáng may cho Nhị,
nên Hào từ khuyên cho rằng: Nhị ơi! Ở vào thì Hoán thiệt là đáng lo, nhưng có hào Sơ kia giùm giúp
với Nhị là cái ghế dựa Cửu Nhị đó, Nhị gấp chạy tới mà nương thân vào, tất được an lành mà hối
vong. (
Kỉ nghĩa là cái ghế dựa, chỉ vào Sơ; bôn kì kỉ nghĩa là cúi xuống mà cầu thân với Sơ). Ý Hào
từ này chỉ bảo cho người ta cần có bạn mới an. Nhị cầu được Sơ thời địa vị mới an vững.
Tượng viết: Hoán, bôn kì kỉ, đắc nguyện dã.
象曰: 渙奔其杌, 得愿也.
Nhị nương tựa vào Sơ là cương, nhu tương tế, in như người tựa được ghế mà ngồi được vững là bằng
lòng rồi vậy.
3. Lục Tam: Hoán kì cung, vô hối.
Ở vào thì Hoán tán, cứ lẽ vẫn không gì tốt, nhưng mà theo về đạo Hoán thì có cái nên tan mà tan thời
những người biết cách tan lại càng hay lắm.
Lục Tam âm nhu lại bất trung chính, e chỉ là một người tư kỉ mà thôi, nhưng ở vào vị dương, lại chính
ứng với Thượng Cửu Ngoại Quái, lại là một người có lòng lo việc đời, nên Hào từ khuyên cho rằng:
Lục Tam ơi! Địa vị Tam với bạn hữu Tam có thể làm một người tốt trong thì Hoán. Nếu Tam hay toan
vứt cái mình riêng của Tam mà lo gánh việc đời chắc không gì phải ăn năn.
Cung nghĩa là mình riêng; hoán kì cung cũng như chữ phỉ cung ở quẻ Kiển; nghĩa chữ Hoán này
không phải như nghĩa tên quẻ, chỉ học bằng Hoán là tan, tan cái thân mình nghĩa là hy sinh cái lị riêng
của nhất kỉ.
Tượng viết: Hoán kì cung, chí tại ngoại dã.
象曰: 渙其躬, 志在外也.
Hoán kì cung là chí ý của Lục Tam, bỏ mình vì người, cốt lị ích ở phía ngoài mà thôi.
4. Lục Tứ Hoán kì quần, nguyên cát, hoán hữu khưu, phỉ di sở tư.
六四: 渙其群, 元吉, 渙有丘, 匪夷所思.
Quẻ này từ hào Tứ sắp lên, phát minh nghĩa đặc biệt trong quẻ Hoán, mà Hào từ Lục Tứ nghĩa lí lại rất
cao sâu, xin theo mặt chữ giải thích qua, còn như ý sâu xa, xin học giả tâm đắc.
Hoán là thì tan rồi, tan thời trông có bầy, tan thời trông được nhóm, đó là ý tứ người tầm thường ai
cũng như thế.
Nhưng Lục Tứ thời lại trái hẳn; Tứ tiếp cận với Cửu Ngũ, Ngũ là quốc trưởng, Tứ là đại thần.
Tứ lấy đức nhu thuận mà giúp đỡ với Ngũ. Ngũ lại có đức cương trung, cương, nhu tương tế, giùm sức
mà gánh việc đời, toan cứu thiên hạ ra khỏi vòng hoán tán nên đem công tâm công đức, xem người

[trong] nước rặt là bầy của mình nên vứt bỏ phe phái riêng, để nhóm bầy chung cả nước. Thế là tốt
lành lớn đó rồi.
Vì tan bằng một cách đại công như thế mà kết quả được thiên hạ thảy khuynh hướng vào Tứ, bầy nhỏ
tuy tan mà bầy lớn càng sắp gò sắp đống (
Hoán nghĩa là tan; khưu nghĩa là nhóm). Vì tan nhỏ mà té ra
được nhóm lớn, thiệt không phải sức óc người thường mà tư tưởng được đến nơi (
Quần nghĩa là bầy
riêng;
khưu nghĩa là gò đống; di nghĩa là tầm thường; nghĩa là nghĩ, cũng có nghĩa là tư tưởng).
PHỤ CHÚ: Ba hào ở quẻ dưới, chỉ là ở thì Hoán mà lo cho khỏi Hoán. Đến Lục Tứ này thời lại lấy
một cách Hoán mà làm cho mất hết Hoán. Người ta chỉ biết tan là tan mà không biết cách tan của Cửu
Tứ, đó chính là làm cho nên nhóm, nên nói rằng:
Phỉ di sở tư.
Tan cái rất ít mà nhóm được cái rất nhiều; tan bầy của mình mà nhóm được bầy cả thiên hạ. Công việc
to lớn như thế, thủ đoạn lạ lùng như thế, há người thường mà nghĩ được hay sao?
Ông Lão Tô thích Hào từ này có nói rằng: Ôi! Những đám bầy riêng kia là ý thánh nhân muốn tan được
xong để hỗn nhất thiên hạ đó vậy.
Sách
Mạnh Tử cũng có câu rằng: Những việc quân tử làm, chúng nhân vẫn không biết được.
Ý nghĩa mấy câu ấy, chính là
Hoán kì quần, phỉ di sở tư.
Tượng viết: Hoán kì quần, nguyên cát, quang đại dã.
象曰: 渙其羣, 元吉, 光大也.
Ở vào thì Hoán, bảo rằng không nên hoán tán mà nên lo kết hợp chắc ai cũng biết, nhưng chỉ là tư
tưởng của người thường mà thôi.
Nếu kết hợp chỉ là bầy nhỏ thời phe này phái nọ nhóm càng nhiều thời hoán tán càng lớn, chỉ duy như
Lục Tứ, tan quách bầy riêng của một mình mà nhóm được bầy chung của cả nước, như thế mới là
nguyên cát mà quảng đại (Chữ
quang phản đối với chữ ám muội, nghĩa là chủ nghĩa cực minh bạch,
tổng chi càng rõ ràng;
đại là phản đối với hiệp tiểu, nghĩa là quy mô rất rộng rãi, sự nghiệp rất lớn
lao).
5. Cửu Ngũ: Hoán, hạp kì đại hìệu, hoán vương cư, vô cựu.
九五: 渙汗其大號, 渙王居, 無咎.
Cửu Ngũ có đức dương cương, trung chính mà lại được ở vị chí tôn xử vào thì Hoán hay tán bố hiệu
lệnh lớn, thì nhân phát chính, thuyết phục được lòng người, nhưng hiệu lệnh phát ra đi khắp cả trong
ngoài, tượng như giọt mồ hôi ở thân người, nhuần thấm khắp tứ thể nên nói:
Hoán hạn kì đại hiệu.
Vả lại, sau lúc hoán tán, người đau kẻ khổ trông mong ơn cứu tế của nhà nước thời lại nên tán tài phát
túc, tan hết những kho tàng chứa trữ của nhà vua, để chu cấp cho dân cùng trong nước; xử trí ở thì
Hoán mà được như thế là rất đúng với thì nghĩa, chẳng gì lầm lỗi nữa.
Trong các Hào từ, duy hào Tứ, hào Ngũ, mỗi hào dùng đến hai chữ Hoán, vì mỗi câu có một chữ Hoán
là một công việc. Như hào Ngũ đây nói:
Hoán hạn kì đại hiệu là tán bố hiệu lệnh, ấy là một công
việc;
hoán vương cư là tan phát đồ chứa trữ, lại là một công việc (Chữ nghĩa là đồ chứa trữ).
Ông Lục Tuyên Công có nói rằng: Tan những chứa trữ nhỏ mà thành được chứa trữ lớn, chính là nghĩa
hoán vương cư đó vậy. Ở vào thì Hoán mà hay lấy cách Hoán cứu được hoán, trước kia Lục Tứ tan
bầy nhỏ thành được bầy lớn. Nay Cửu Ngũ tan chứa trữ nhỏ, để thành được chứa trữ lớn, hình thức
khác nhau mà tinh thần in nhau. Chứa trữ nhỏ là cái gì? Là kho tàng của nhà công. Chứa trữ lớn là cái
gì? Là nhân tâm của ức triệu người thu tóm vào một chốn.

Sách Đại Học có câu: Tài tán tắc dân tụ財散則民聚, vì của có tan thời dân mới nhóm. Tán tiểu sự
dĩ thành đại sự
散小事以成大事là đạo lí ấy.
Tượng viết: Hoán vương cư vô cựu, chính vị dã.
象曰: 渙王居無咎, 正位也.
Cửu Ngũ có đức chính, được ở vị chí tôn. Ở trong một nước, tất nên tan của mình để thu lòng dân. Vì
vậy nên Hoán vương cư mới được vô cựu.
6. Thượng Cửu: Hoán, kì huyết khử, dịch xuất, vô cựu.
上九: 渙其血去, 逖出, 无咎
Toàn quẻ Hoán sáu hào, Sơ, Nhị, Tứ, Ngũ thảy bất tương ứng, duy Thượng Cửu này thời có Tam làm
chính ứng. Ở vào thì Hoán mà mình có người viện ứng là việc đáng may cho Thượng lắm. Thượng lại
có tài dương cương ở vào thì Hoán chi cực. Hoán đã cực rồi, không lẽ Hoán hoài, chắc là cái dấu
thương cũ đã trừ khử được mà lại có thể thoát ra khỏi vòng kinh cụ. Huyết khử, dịch xuất, chung đợi
lấy một chữ Hoán, nghĩa là tan được những cái xấu.
Hoán kì huyết thời trừ bỏ được dấu thương hại.
Hoán kì dịch thời thoát khỏi được việc kinh sợ. Như thế là được vô cựu ở cuối cùng thì Hoán vậy
(
Huyết là máu là dấu bị thương hại; dịch là tượng phải kinh sợ).
Tượng viết: Hoán kì huyết, viễn hại dã.
象曰: 渙其血, 遠害也.
Hào từ Thượng Cửu là vì đã đến thì Hoán chi cực rồi thời tuy vô vi như Thượng Cửu nhưng cũng
tránh được họa hại vậy (Chữ
hại tức là chữ huyết, chữ dịch; chữ viễn tức là chữ khử, chữ xuất).
PHỤ CHÚ: Hoán với Tụy, hai quẻ phản đối mà cũng là hai quẻ tương đối.
Theo về đại vận của tạo hóa, mây kết mãi mà không tan thời thành ra mật vân bất vũ, nước trữ mãi mà
không tan thời thành ra thủy ứ tắc xú; dầu đến thực sự của loài người cũng không lẽ gì Tụy mãi mà
không Hoán, vả cũng tất phải trải qua Hoán, mới đến được Tụy, chỉ tranh nhau ở chữ thì mà thôi. Thì
chính là cái la bàn châm chỉ phương hướng cho ta làm việc. Thì nên Tụy mà Tụy thời làm việc Tụy
mới đúng thì. Thì đã đến lúc Hoán mà không làm việc Hoán, tức là trái thì, trái thì tức là bội đạo.
Nên Dịch ở quẻ Tụy nói rằng
Tụy hanh, nhưng tới quẻ Hoán cũng nói rằng Hoán hanh. Nếu chỉ Tụy
hanh mà Hoán bất hanh thời không phải là Dịch lí.
Duy Quái từ ở hai quẻ, chúng ta không nên đối chiếu, mà cần biết diệu dụng của thánh nhân.
Hai quẻ chung một chữ hanh, đành là lí trong thiên hạ. Tụy vẫn hanh mà Hoán cũng vẫn hanh được.
Nhưng sở dĩ chung nhau một câu
vương cách hữu miếu là vì cớ sao? Bởi vì làm việc thiên hạ, vô luận
lúc thường hay lúc biến, cảnh thuận hay cảnh nghịch, căn bản của người làm việc không bao giờ không
cốt ở chí thành; chí thành là tinh thần thuộc về vô hình nên phải mượn việc tế tự mà hình dung tinh thần
của chí thành.
Loài người dầu gian nguy đến thế nào, nhưng dối người, dối bạn vẫn không giả dối được. Đến như
khinh khi thiên thần, khinh khi tiên tổ thời dầu thất phu thất phụ cũng ít có. Vậy nên Soán từ hai quẻ
chung có câu
vương cách hữu miếu, nghĩa là gặp thì Tụy mà làm việc Tụy, gặp thì Hoán mà làm việc
Hoán. Tổng chi, phải căn bản ở chí thành, in như một người vào chủ tế mà tinh thành [của] mình đối

chất được thần minh, có căn bản như thế thời làm việc Tụy vẫn hay, mà làm việc Hoán cũng tốt. Duy
đến thủ đoạn, thời tùy thì mà khác nhau. Vậy nên quẻ Tụy thời có câu
lị kiến đại nhân mà không câu lị
thiệp đại xuyên
. Đến quẻ Hoán thời có câu lị thiệp đại xuyên mà không câu 1ị kiến đại nhân. Đó là
nhân thủ đoạn khác nhau nên Quái từ cũng có phân biệt.
Bởi vì thì Tụy là việc thường, cảnh thuận, đoàn thể vẫn có sẵn mà cơ sở vẫn không động giao, chỉ cốt
một người đại đức đại tài để làm lãnh tụ cho quần chúng là cốt nổi việc, kì thực không gì là nguy hiểm,
nên chỉ nói lị kiến đại nhân mà không nói lị thiệp đại xuyên.
Đên như thì Hoán, việc Hoán thời khác hẳn, cảnh đã nghịch, việc cũng biến, đoàn thể cũ đã hủ bại, cơ
sở cũ đã động giao, chế độ cũ đã không thể bảo tồn được. Ngoài xét ở xã hội, trong xét ở nội tình,
những việc nên đánh tan rất nhiều mà muốn chẳng đánh tan cũng chẳng phương pháp gì thay đổi (?).
Ở vào thời đại ấy mà muốn thổi gió quét mây, khoét đê trổ nước thời những cảnh tượng nguy hiểm biết
là bao nhiêu, tất phải có can đảm cho rất lớn, thấy phong ba mà không sợ, có tài liệu cho rất đủ, mệt
chèo chống mà không nao; in như qua thuyền sóng lớn, vững gan cầm lái thời sóng gió tha hồ, đồng bạn
chèo sào thời bờ kia hẳn tới, công việc làm nổi Hoán, há phải một người đại tài đại đức mà làm xong
rư!
Nên Quái từ không có câu
lị kiến đại nhân mà có câu lị thiệp đại xuyên, vì thủ đoạn Hoán với thủ
đoạn làm Tụy khác nhau, chỉ duy căn bản thời in nhau mà thôi.
Hai Quái từ chung nhau một câu vương cách hữu miếu mà khác nhau lị kiến đại nhân với lị thiệp đại
xuyên, mới biết được ý thánh nhân khi viết Kinh, thiệt rất thâm diệu.
Bây giờ xem riêng sáu hào quẻ Hoán thời nghĩa tùy thì càng thêm phát minh.
Sơ là bắt đầu vào thì Hoán, nên chưa trước thủ thực hành, còn mong cứu chữa được Hoán, Nhị thời
tấn vào giữa Nội Quái. Hoán mà chưa có thể cứu Hoán được rõ ràng. Tam thời gần đến đoạn giữa
Hoán, mới bắt tay làm việc Hoán, nhưng phải tan tự mình tan đi nên nói rằng Hoán kì cung. Đến Tứ là
vừa lúc trung gian thì Hoán, công việc Hoán đã đến lúc phát triển, nhưng phải tan tự bè riêng mình tan
đi, nên nói rằng Hoán kì quần, phỉ di sở tư. Đến Ngũ thời công việc Hoán đã tới ngày thu công, tới lúc
đó tất phải ban bố hiến pháp mới, tan sạch hết tiền của riêng nên nói rằng Hoán hạn đại hiệu, hoán
vương cư. Chữ đại hiệu là không phải hiệu lệnh tầm thường, vương cư mà còn Hoán thời những cá
nhân tư tích còn kể vào đâu. Theo công việc Hoán đến lúc đó thời những giống gì đáng tan, đã tan sạch
ráo, vô số cái nhỏ tan, quay lại đúc nên cái lớn, vô số cái riêng tan, quay lại gây nên cái chung. Hoán
chi cực mà Tụy, Tụy đến lúc đó mới nhóm được thiệt lớn. Xã hội kiến thiết, vũ trụ đại đồng, rặt là
công hiệu kết quả của Hoán

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!