CHU DỊCH HẠ KINH – QUẺ 55. QUẺ LÔI HỎA PHONG

CHU DỊCH HẠ KINH

55. QUẺ LÔI HỎA PHONG

Chấn trên; Ly dưới


Quẻ này là Quẻ Lôi Hỏa Phong. Li hạ cũng là Nội Li, Chấn thượng cũng là Ngoại Chấn. Chấn lôi, Li
hỏa, nên tên quẻ đọc bằng Lôi Hỏa Phong.


TỰ QUÁI


Tự quái: Đắc kì sở quy giả, tất đại, cố thụ chi dĩ Phong, Phong giả đại dã.
序卦: 得其所歸者, 必大, 故受之以豐, 豐者大也.
Y sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Quy Muội, tiếp lấy quẻ Phong là vì cớ sao?
Trên đây là quẻ Quy Muội, ý sắp quẻ chỉ lấy nghĩa bằng chữ quy. Quy nghĩa là có chốn về nhóm, hễ
vật gì có chốn quy kết, hay việc gì làm có kết quả, thảy gọi bằng đắc kì sở quy. Đã đắc kì sở quy, tất
nhiên thịnh lớn. Vậy nên sau quẻ Quy Muội tiếp lấy quẻ Phong. Hữu sở quy thời được Phong; Phong
nghĩa là thịnh, cũng có nghĩa là lớn. Không cần thủ nghĩa bằng chữ Muội, đó cũng là lệ biến hóa của
Dịch lí.
Theo về thể quẻ, trên Chấn dưới Li. Chấn là động, Li là minh, lấy đức minh mà động, lại động mà hay
minh, thảy là phương pháp làm cho thịnh đại, nên đặt tên quẻ bằng Phong.


SOÁN TỪ


Phong, hanh, vương cách chi, vật ưu, nghi nhật trung.
豐亨, 王假之, 勿憂宜, 日中.
Quẻ Phong này có tượng minh mà động, lấy đức minh sức động làm nên nghiệp thịnh đại, theo thì
nghĩa ấy, chắc được hanh thông, nhưng duy có đạo vương già mới làm tới nơi (Chữ
cách như nghĩa
chữ chí;
cách chi nghĩa là làm tới đó).
Hễ đã tới thì Phong, thịnh cực e có cơ suy, tượng như mặt trời lên tột cao, tất có lúc xế. Vậy nên, trong
lúc thịnh đại, thường có lẽ đáng lấy làm lo, nhưng chỉ lo suông mà thôi cũng vô ích.
Nên Quái từ răn cho rằng: Gặp lấy thì Phong vẫn đáng mừng mà cũng đáng lo, nhưng chớ nên lo suông.
Gặp thì tiết ấy chỉ nên hết sức trì dinh thủ thành, giữ làm sao mà thường thường được như mặt trời
đứng ở giữa trời, quang minh xa soi lâu dài không nghỉ. Thế là hơn lo suông nhiều lắm.
PHỤ CHÚ: Thời đại Phong hanh là một thời đại thịnh cực, chính là nhật đã trung rồi. Bây giờ làm cho

thường thường được nhật trung là việc rất khó, khi nhật đã trung mà có lẽ nào nhật cứ trung mãi rư?
Nhưng thâm ý thánh nhân cốt trọng ở chữ trung; chữ nhật chẳng qua là thí dụ. Duy chữ trung mới là
chân lí.
Lẽ trong thiên hạ từ nhất thân, nhất gia, nhất quốc cho đến thiên hạ, hễ đã đến lúc thịnh, đáng lo nhất là
quá thịnh. Hễ gặp việc đắc ý, đáng lo nhất là quá đắc ý, nên gặp thì tiết ấy phải lo sao cho khỏi quá;
giữ được khỏi quá tức là trung, chỉ một chữ trung là vừa đủ làm thuốc chữa bệnh quá thịnh, nhưng vì
tượng quẻ có Nội Li nên thêm vào chữ nhật; Li là chữ Nhật, chữ nhật chỉ là bổ túc mà thôi, thâm ý của
thánh nhân chỉ một chữ trung là đủ.


SOÁN TRUYỆN


Soán viết: Phong đại dã, minh dĩ độnng, cố Phong. Vương cách chi, thượng đại dã. Vật ưu, nghi nhật
trung, nghi chiếu thiên hạ dã. Nhật trung tắc trắc, nguyệt dinh tắc thực, thiên địa dinh hư, dữ thì tiêu
tức, nhi huống ư nhân hồ, huống ư quỷ thần hồ.
彖曰: 豐大也, 明以動, 故豐. 王假之, 尚大也, 勿憂, 宜日中, 宜照天下也. 日中則昃, 月盈則食,
天地盈虛與時消息, 而况於人乎? 而况於鬼神乎.
Soán viết: Phong đại dã, minh dĩ động, cố Phong.
Vào thì Phong là có nghĩa thịnh đại rồi, nhưng sở dĩ thịnh đại thời vì li minh mà chấn động. Lấy đức
minh mà động ra làm việc, vì vậy nên được Phong.
Phụ chú: Năm chữ
minh dĩ động, cố Phong ý nghĩa rất bao hàm đầy đủ; chữ minh phản đối với chữ
ám, chữ động phản đối với chữ tịnh.
Chẳng minh mà động thời là động càn, minh mà nằm im thời minh cũng là minh chết.
Duy đã có minh làm thể mà lại có động làm dụng mới làm nên sự nghiệp phong đại, nên nói rằng
Minh
dĩ động, cố Phong.
Vương cách chi, thượng đại dã.
Sự nghiệp phong đại, tất duy vương giả mới làm nên.
Bởi vì có đức thịnh, lại cần có vị tôn, mới đến được thì tiết phong đại. Vương giả đến lúc đó thời
những công việc sở kinh dinh rặt là việc rất lớn.
Vật ưu, nghi nhật trung, nghi chiếu thiên hạ dã.
Tuy nhiên, thì tiết đã đến lúc Phong ấy là triệu chứng suy vi đã ẩn núp ở lúc ấy, nên Quái từ nói rằng:
Vật ưu, nghi nhật trung, nghĩa là phải lo cho được như mặt trời đương trung thường soi dọi khắp
thiên hạ. Chiếu thiên hạ cốt ở đức minh, đức minh không bao giờ hôn, cũng in như nhật trung không
bao giờ xế. Vương giả ở thì Phong phải hết sức căng trì làm cho được thế.
Nhật trung tắc trắc, nguyệt dinh tắc thực, thiên hạ dinh hư, dữ thì tiêu tức, nhi huống ư nhân hồ,
huống ư quỷ thần hồ.
Tiêu đã thích Quái từ, đây Soán Truyện lại nói rộng ra ý nghĩa ngoài quẻ.
Nhân vì thì Phong là thì thực cực, hễ thịnh cực thời e suy tới nơi. Thử xem chân lí của trời đất, hễ mặt

trời đến lúc trung thời thế nào cũng xế, mặt trăng đã đến lúc tròn đầy thời thế nào cũng khuyết lần
(
Trắc: mặt trời xế; thực: mặt trăng thiếu).
Dầu rất to lớn là Trái đất mà khí số tuần hoàn vẫn có khi đầy khi hụt, theo với thì mà tiêu mà tức.
(
Tiêu nghĩa là mòn đi; tức nghĩa là nở ra; dinh nghĩa là đầy tràn; nghĩa là hụt thiếu). Khí cơ tuần
hoàn, thịnh suy đắp đổi, dầu trời đất cũng vậy mà phương chi người rư, phương chi ở đạo quỷ thần rư.
PHỤ CHÚ: Bốn chữ dinh, hư, tiêu, tức Soán Truyện chỉ nói ở quẻ Bác với quẻ Phong. Quẻ Bác thời
đạo quân tử đương tiêu mà hư, nhưng cái cơ
dinh với tức vẫn ở lúc đó nảy ra, nên thánh nhân muốn
cho ta chớ thấy
tiêu, hư mà chồn mỏi.
Quẻ Phong thời trong thiên hạ, đã đến lúc tức mà dinh, những triệu chứng tiêu với hư vẫn ngầm ở lúc
ấy, nên thánh nhân muốn cho ta chớ thấy tức, dinh mà kiêu căng. Ở quẻ
Bác có chữ dinh, chữ tức,
quẻ
Phong có chữ tiêu, chữ hư, chỉ nhân ở hai câu ấy mà gửi ý tùy thì thiết giáo, toàn bộ Dịch tất thảy
như thế.


ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN


Tượng viết: Lôi điện giai chí, Phong. Quân tử, dĩ chiết ngục trí hình.
象曰: 雷電皆至, . 君子以折獄致刑.
Chấn là lôi, Li là điện, lôi điện đồng thì đến là tượng quẻ Phong.
Quân tử xem tượng ấy, lấy đức minh của Li mà soi xét vật tình, lấy tính động của Chấn mà thi hành
bằng uy đoán, dụng đạo ấy mà làm việc hình ngục.
Đã có minh lại hay đoán thời hạ tình soi xét được thấu mà việc ngục cũng không trì trệ uy dai, chắc là
chiết đoán được lời ngục mà chóng xong được việc hình.
Đó là một việc rất lớn ở thì Phong.
PHỤ CHÚ: Tượng Truyện này chú trọng ở hai chủ uy minh. Uy mà không minh thời mắc lấy gian dối
mà không chiết được ngục nên nỗi trong thiên hạ nhiều người bị oan; minh mà không uy thường hay cô
tức mà không trì được hình nên nỗi trong nước nhiều ngục lưu trệ. Duy uy minh tinh dụng, in như lôi
điện giai chí thời chiết ngục trí hình không khó gì.


HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN


Sơ Cửu: Ngộ kì phối chủ, tuy tuần, vô cựu, vãng hữu thượng.
初九: 遇其配主, 雖旬無咎, 往有尚.
Ở vào thì Phong, muốn làm nên công nghiệp Phong, Sơ Cửu ở thể Li là sẵn có đức minh thượng ứng
với Tứ, Tứ đầu hết thể Chấn là sẵn có tính động. Tứ với Sơ gặp nhau, chính là minh với động giúp
nhau.
Vậy nên Sơ gọi Tứ bằng phối chủ, Tứ làm người phối chủ, phối hợp với Sơ, Sơ lại may mắn mà đụng
gặp lấy Tứ, giúp nhau mà nên công dụng. Có đức minh của Sơ giúp cho Tứ, mà sức động của Tứ giúp
cho Sơ mà đức minh của Sơ hữu dụng, nhờ nhau mà nên như thế. Tuy hai bên thảy dương cương, thế
quân, lực địch, nhưng tương thành không tương phản, vẫn không tội lỗi gì.
Phối nghĩa là sánh nhau, tượng như vợ chồng phối hợp; tuần nghĩa là cân địch.
Sơ với Tứ thảy dương cương nên nói rằng tuần. Tuy vẫn cân địch nhau mà giúp đỡ lợi ích cho nhau

nên Sơ đi lên theo Tứ, tất có công nghiệp đáng khen.
PHỤ CHÚ: Thông lệ ở các quẻ thời âm với dương, nhu với cương, mới là tương ứng. Duy ở quẻ
Phong này thời cốt ở minh, động tương tư. Vậy nên, Sơ minh, Tứ động, giúp nhau mà thành công, thời
lưỡng dương đồng đức lại là quý hóa lắm. Đó cũng là biến lệ trong Dịch, chỉ nên hoạt động không nên
tử.
Tượng viết: Tuy tuần, vô cựu, quá tuần, tai dã.
象曰: 雖旬無咎, 過旬, 災也.
Tượng Truyện lại phát minh Hào từ nên nói rằng: Sơ, Tứ tuy cân địch nhau, nhưng vừa quân địch thời
hay. Nếu có một phía quá hơn, tất nhiên có một phía thua, thành ra tranh thắng với nhau, e có tai vạ tới
ngay (
Tuần là cân với nhau). Đồng lực hợp tác thời việc gì cũng nên. Nếu có một bên cầu thắng, tất
nhiên không chịu tương hạ thời làm việc gì cũng thất bại nên nói rằng:
Tai.
2. Lục Nhị: Phong kì bậu, nhật trung kiến đẩu, vãng, đắc nghi tật, hữu phu phát nhược, cát.
六二: 豐其蔀, 日中見斗, 往得疑疾, 有孚發若, .
Lục Nhị làm chủ cho Nội Li lại cư trung đắc chính, vẫn là một người có đức minh, nhưng vì kẻ chính
ứng với mình là Lục Ngũ, Ngũ âm nhu bất chính, không đủ tài giúp Nhị. Ngũ lại có tính ám không sẵn
lòng tin Nhị, hiển thần mà đụng phải ám chúa nên nỗi đức minh của mình tượng như mặt trời bị mây
mù che bịt, nên Hào từ nói rằng:
Phong kì bậu, nhật trung kiến đẩu (Bậu là cái đồ để mà che bịt, vì
che bịt quá lớn nên giữa ban ngày mà lấp cả mặt trời, thấy sao Đẩu lù ra).
Hoàn cảnh Nhị khốn nạn như thế, tuy mình vẫn minh mà không khác gì hôn; nếu đi lên theo Ngũ, thời
Ngũ là người hôn ám, e thấy Nhị mà nghi ghét (
Nghi nghĩa là ngờ; tật nghĩa là ghét).
Ở vào thì Phong mà gặp lấy ám chúa như thế thời Nhị tự xử nên thế nào? Chỉ duy nên chất chứa lòng
chí thành giữ một lòng trung trinh, mong cảm phát được người trên minh, có lẽ tinh thành sở chí, kim
thạch năng khai. Thế thời kết quả cũng được tốt (
Hữu phu là chí thành của Cửu Nhị; phát nhược là
khai phát được Ngũ).
PHỤ CHÚ: Hào từ này tượng như ông Chu Công giúp Thành Vương mà bị họa lưu ngôn của Quản
Thái, ông Khổng Minh giúp Hậu Chúa mà bị họa sàm ngôn của Hoàng Hạo. Đó là
Phong kì bậu, nhật
trung kiến đẩu.
Nhưng hai người đó vì lấy chí thành cảm cách được nhân chúa, kết quả Thành Vương mất lòng nghi,
Hậu chúa biết nhận lỗi mà sự nghiệp “Chu”, “Khổng” thảy được thỉ chung. Thế là chỉ lấy hai chữ “hữu
phu” mà phát được cái mùng che lấp, đúng với
phát nhược, cát của Hào từ này vậy.
Tượng viết: Hữu phu phát nhược, tín dĩ phát chí dã.
象曰: 有孚發若, 信以發志也.
Nhị có đức minh mà xử vào địa vị làm tôi. Ngũ ở vị tôn, nhưng chất Ngũ nhu ám nên lúc đầu không
khỏi được nghi tật.
Tuy nhiên, tinh thành Cửu Nhị, uất cực tắc thông, chỉ một niềm phu tin đó, chắc cảm cách được tâm chí
của Ngũ. Có lẽ gì mà không được tốt rư?

3. Cửu Tam: Phong kì phái, nhật trung kiến muội, chiết kì hữu quăng, vô cựu.
九三: 豐其沛, 日中見沫, 折其右肱, 無咎.
Cửu Tam ở trên hết Nội Quái là ở trên hết thể minh, dương cương mà lại đắc chính, vẫn là một người
hiển minh. Nếu gặp được bạn hiền, vua thánh, vẫn cũng có thể hữu vi, nhưng khốn nạn thay! Thượng
Lục tuy chính ứng với mình, nhưng Thương là âm nhu, tài hèn chất ám, không giúp được gì cho Tam,
mà lại ở trên Tam là Cửu Tứ, thế lực mạnh, càng che mắt Tam. Tam xử vào hoàn cảnh ấy dầu có tài
năng mặc lòng mà bị bịt bùng quá nhiều lớp, in như trong mùng che quá kín nên giữa ban ngày hiện ra
cảnh tương ban đêm, nên nói rằng:
Phong kì phái, nhật trung kiến muội (Phái nghĩa là cái màu bịt;
phong kì phái lại thậm hơn phong kì hậu; muội nghĩa là đám sao nhỏ).
Giữa ban ngày mà thấy đám sao nhỏ là tối tăm quá chừng. Hai câu ấy là hình dung thời thế của Cửu
Tam, vì cảnh ngộ của Cửu Tam như thế thời dầu có muốn hành động mà không thể hành động được việc
gì, chẳng khác gì người què mất cánh tay phải (
Quăng là cánh tay; hữu quăng là cánh tay mặt, chỉ vào
hào Thượng). Tam cậy Thượng làm cánh tay, Thượng quá hư hèn, thế là cánh tay Cửu Tam bị gãy.
Ôi thôi! Thời thế sử nhiên, cũng không biết trách lỗi vào ai.
Tượng viết: Phong kì phái, bất khả đại sự dã, chiết kì hữu quăng, chung bất khả dụng dã.
象曰: 豐其沛, 不可大事也, 折其有肱, 終不可用也.
Tam ứng với Thượng, Thượng âm nhu vô tài, lại ở cuối cùng thì Phong, không chút gì giúp đỡ cho Tam
được, tay không khó thể chống trời nên không gánh nổi được việc lớn ở thì Phong. Tỉ như hữu quăng
đã chiết thời Tam chỉ là tay độc chiết, còn dùng ra làm được việc gì.
4. Cửu Tứ: Phong kì bậu, nhật trung kiến đẩu, ngộ kì di chủ, cát.
九四: 豐其蔀, 日中見斗, 遇其夷主, .
Cửu Tứ tuy bản chất dương cương mà lại ở gần hào Ngũ cũng là ở vị trên, vẫn có thể làm được sự
nghiệp Phong, nhưng địa vị của Tứ là bất trung, bất chính mà lại gặp Ngũ là âm nhu hôn ám, trở lại che
lấp, mất đức cương minh của mình, té ra đương buổi minh thịnh mà quay lại hắc ám. Vậy nên Hào từ
cũng in như Lục Nhị, chỉ là cảnh tương tối tăm mà thôi.
Nhưng may cho Tứ ở dưới có Sơ Cửu, đồng đức tương ứng với mình, Sơ đã từng nhận Tứ làm phối
chủ, bây giờ Tứ lại nhận Sơ làm di chủ mà giúp đỡ cho nhau, đồng lực hợp tác may có thành công.
Di nghĩa là bằng cân, ta thường gọi bằng vai vế. Tứ với Sơ vẫn là bạn dương cương với nhau nên gọi
bằng
di chủ.
Sơ gọi Tứ bằng phối chủ là kẻ dưới mà theo kẻ trên; Tứ gọi Sơ bằng di chủ là kẻ trên xuống theo kẻ
dưới.
Tượng viết: Phong kì bậu, vị bất đáng dã, nhật trung kiến đẩu, u bất minh dã; ngộ kì di chủ, cát hành
dã.
象曰: 豐其蔀, 位不當也, 日中見斗, 幽不明也; 遇其夷主, 吉行也.
Hào Cửu Tứ ở vào địa vị bất trung, bất chính nên nỗi bị che lấp. Huống gì Ngũ lại âm nhu, càng hôn
ám hơn Tứ nữa. Một phía thời vị bất đáng, một phía thời u bất minh nên Hào từ nói rằng:
Phong kì

bậu, nhật trung kiến đẩu.
Tuy nhiên, gặp được hào Sơ, Sơ có đức cương minh, lại đồng đức với Tứ, Tứ đi cầu Sơ là ngộ kì di
chủ làm như thế còn được cát vậy.
PHỤ CHÚ: Lục Nhị, Cửu Tứ, Hào từ sở dĩ in nhau bởi vì hai hào ấy cảnh ngộ sơ xử với những điều
trông thấy ở trước mắt mình một cách in nhau nên Hào từ cũng không cần khác lời nữa.
5. Lục Ngũ: Lai chương hữu khánh, dự, cát.
六五: 來章有慶譽, .
Lục Ngũ bản chất vẫn âm nhu là một người hôn ám, ở vào thì Phong mà lại được cư tôn vị, e cậy thì,
cậy thế mà tự thánh, tự thần, tất làm hoại mất sự nghiệp phong đại, nên thánh nhân răn rằng: Ngũ ơi, tài
chất Ngũ vẫn nhu ám, e không giữ nổi cơ nghiệp Phong, nhưng người thiên hạ ở thì này, Sơ với Tam,
Tứ thảy là người có tài dương cương mà Lục Ngũ lại có đức văn minh, trung chính, tất thảy là hạng
người nhân tài chương mỹ. Nếu Ngũ biết hư tâm cầu hiền, quên mình dụng người, rước đến hết những
hạng nhân tài ấy, giúp đỡ mọi việc cho mình thời sự nghiệp thì Phong càng ngày càng lên, nhân dân
thảy được nhờ hạnh phúc mà tiếng của Ngũ càng vẻ vang, không gì tốt lành hơn nữa.
Chương nghĩa là người có tài tốt; lai nghĩa là hết lòng mời tới; dự nghĩa là tiếng khen.
Tượng viết: Lục Ngũ chi cát, hữu khánh dã.
象曰: 六五之吉, 有慶也.
Việc tốt của Lục Ngũ là vì hay
lai chương mà được phúc khánh vậy.
6. Thượng Lục: Phong kì ốc, bậu kì gia, khuy kì hộ, huých kì vô nhân, tam tuế bất địch, hung.
上六: 豐其屋, 蔀其家, 闚其戶, 闃其無人, 三歲不覿, .
Thượng Lục bản chất đã âm nhu mà địa vị sở xử lại ở cuối cùng thì Phong, tài rất hèn mà vị rất cao, và
ở vào cuối cùng động thể là một người rất hay động; thịnh chi cực thời suy tới nơi, minh chi cực thời
hôn tới nơi, chính là một hạng người kiêu căng táo bạo, mê mẩn tối tăm in như người làm nhà, nóc rất
cao lớn mà buồng nhà lại thấp hẹp, cái nhà cao lớn ấy té ra bưng bịt chốn ở của mình. (
Ốc là nóc nhà;
gia là buồng mình ở).
Nóc nhà quá lớn mà bịt che cả buồng ở là hình dung ý mình che lấy mình nên nỗi không ai lui tới với
mình, dòm vào trong cửa, lặng tanh không một người (
Huých nghĩa là lạnh ngắt).
Cảnh tượng Thượng Lục tối tăm như thế, hãy còn u mê ám chướng, lâu đến ba năm mà không giác ngộ
một tý gì (
Địch nghĩa là thấy rõ). Người mà đã đến thế, không còn gì xấu hơn.
Tượng viết: Phong kì ốc, thiên tế tường dã, khuy kì hộ, huých kì vô nhân, tự tàng dã.
象曰: 豐其屋, 天際翔也, 闚其戶, 闃其無人, 自藏也.
Xử vào thì Phong đại chi cực mà lại ở địa vị rất cao, lấy một người nhu ám mà lại tự cao tự đại như
thế; theo về bề ngoài trông vào in như liệng tới khoảng trời mà kì thực thời tự tuyệt với người, chỉ
mình che bịt lấy mình mà thôi.
Thiên tế tường dã là hình dung địa vị cực cao; tự tàng dã là hình dung bịt bùng rất tối; tàng nghĩa là

che bịt; tường nghĩa là bay liệng; thiên tế là cao tột trời.
PHỤ CHÚ: Tên quẻ đặt bằng Phong mà Soán từ với Hào từ, tượng xấu rất nhiều, lời răn đe cũng rất
nhiều. Thế mới biết cơ tối thường núp ở lúc sáng, mầm họa thường sinh ở lúc phúc. Quẻ Phong là
minh chi cực, Tạp quái có nói rằng: Phong là một thì rất nhiều sự cố. Người gặp ở thì ấy, nếu chốc
phút không căng trì, mảy may không cẩn thận thời đã chắc đâu minh mà không phải ám, phúc mà không
phải họa đó rư! Vả lại, người ở thì ấy, cần thứ nhất là phải đồng đức đồng tâm.
Sơ với Tứ là đồng một đức dương cương mà lại biết đồng tâm với nhau nên hào Sơ
ngộ kì phối chủ;
hào Tứ
ngộ kì di chủ mà kết quả được hữu thượng và cát.
Hào Nhị, hào Ngũ là đồng một đức nhu trung mà lại hay đồng tâm nên Nhị thời hữu phu, Ngũ thời lai
chương
mà kết quả thời hai bên thảy được cát.
Duy Cửu Tam với Thượng Lục thời cương đụng lấy nhu, minh đụng lấy ám. Vì đức không đồng nhau
hóa ra mỗi người mỗi bụng, kết quả Tam bị gãy tay mà Thượng thời bỏ nhà trống, hung đến như thế
thời chi vì tội tại li tâm li đức mà thôi.
Ở về thì Phong mà tâm đức chẳng đồng còn tai họa như thế, huống gì gặp lúc truân chuyên khó khăn mà
người trong thì đó chẳng biết đồng tâm, đồng đức với nhau, còn mong làm được việc gì nữa rư?
Thánh nhân ở quẻ Phong, biến lệ cương, nhu tương ứng mà thay vào nghĩa cương, nhu đồng đức, mầu
nhiệm thay! Tinh túy thay!

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!