CHU DỊCH HẠ KINH – 50. QUẺ HỎA PHONG ĐỈNH

CHU DỊCH HẠ KINH

50. QUẺ HỎA PHONG ĐỈNH

Ly trên; Tốn dưới


Quẻ này là quẻ Hỏa Phong Đỉnh. Tốn hạ cũng là Nội Tốn, Li thượng cũng là Ngoại Li. Li hỏa, Tốn
phong, nên tên quẻ đọc bằng Hỏa Phong Đỉnh.


TỰ QUÁI


Tự quái: Cách vật giả, mạc nhược Đỉnh, cố thụ chi dĩ Đỉnh.
序卦: 革物者, 莫若鼎, 故受之以鼎.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Cách tiếp lấy quẻ Đỉnh là vì cớ sao?
Trên kia là quẻ Cách. Cách, nghĩa là biến cách, biến cách được giống vật, không gì bằng Đỉnh. Đỉnh,
nghĩa là cái vạc, vạc để dùng nấu các giống, biến đồ sống mà làm ra đồ chín, đổi giống cứng hóa ra
giống mểm là công dụng cách được vật mà dễ thấy nhất là Đỉnh. Vậy nên sau quẻ Cách tiếp lấy quẻ
Đỉnh.
Quẻ này đặt tên bằng Đỉnh, có hai lí do: Một lí do thủ tượng, xem toàn thể sáu vạch, dưới hết một nét
đứt đôi là chân vạc, giữa ba nét liền là thân vạc, ruột đặc là đồ trữ trong vạc. Lên nữa một nét đứt đôi
là hai tai vạc, lại lên một nét liền ở trên là đòn khiêng vạc, ấy là tượng như cái vạc.
Lại một lí do bằng thủ nghĩa, Tốn hạ là mộc, Li thượng là hỏa, mộc vào giữa hỏa là có nghĩa nhen đốt,
tượng như người ta nấu ăn, đồ nấu ăn lớn nhất là vạc, lấy cả tượng cả nghĩa nên đặt tên quẻ bằng Đỉnh.
PHỤ CHÚ: Dịch là bộ sách đủ cà thiên đạo, nhân sự. Thiên đạo là thuộc về phần hình nhi thượng,
nhân sự là thuộc về phần hình nhi hạ. Hình nhi thượng gọi bằng đạo, đã đủ hết trong tám quẻ. Hình nhi
hạ gọi bằng khí, khí là đồ dùng, đồ dùng cần thứ nhât lại là đồ đùng để mà ăn uống. Vậy nên trung gian
lọt vào hai quẻ
Tỉnh với Đỉnh.
Tỉnh là đồ cung cấp cho người ta về việc uống. Đỉnh là đồ cung cấp cho người ta về việc ăn. Vì thế
mà hai quẻ cặp liền với nhau, thánh nhân muốn cho người ta biết trong lưỡng gian, có đạo mới sinh ra
khí, có khí mới chở được đạo. Tỉnh, Đỉnh chẳng qua mượn hai giống khí để hình dung đạo lí thuộc về
nhân sự, nhưng mà nhân sự tất phải thường thay đổi, nên trung gian quẻ Tỉnh, quẻ Đỉnh chét vào quẻ
Cách. Đó là ý tứ sắp đặt rất có công phu.


SOÁN TỪ

Đỉnh, nguyên cát, hanh.
, 元吉亨.
Đỉnh chỉ theo về tượng quẻ với nghĩa, quẻ mà đặt tên bằng Đỉnh, Quái từ lại chỉ theo bằng tài quẻ mà
nói.
Có tài biến cách được vật, đổi cái sống mà làm cái chín, hóa cái cương làm cái nhu. Thủy, hỏa hai
giống khác nhau mà chung nhau làm công dụng tiện lị cho nhân sinh, in như cái Đỉnh nấu được đồ ăn;
tài người ta nuôi được người nuôi được mình, in như công dụng Đỉnh, tất nhiên nguyên hanh.


SOÁN TRUYỆN


Soán viết: Đỉnh tượng dã. Dĩ mộc tốn hỏa, phanh nhậm dã, thánh nhân phanh dĩ hưởng thượng đế, nhi
đại phanh dĩ dưỡng thánh hiền. Tốn nhi nhĩ mục thông minh, nhu tấn nhi thượng hành, đắc trung nhi ứng
hồ cương, thị dĩ nguyên hanh.
彖曰: 鼎象也, 以木巽火, 亨飪也, 聖人亨以亨上帝, 而大亨以養聖賢. 巽而耳目聰明, 柔進而上
, 得中而應乎剛, 是以元亨.
Soán viết: Đỉnh tượng dã.
Tên quẻ đặt bằng Đỉnh là thủ tượng bằng cái vạc. Nguyên chữ Đỉnh có hai nghĩa: Một nghĩa thuộc về
danh từ, Đỉnh là vạc mà những khí dụng gì to lớn cũng gọi bằng Đỉnh. Sách xưa có câu
đỉnh khí, đỉnh
đồ,
thuộc về nghĩa ấy.
Lại một nghĩa thuộc về động từ với hình dung từ, Đỉnh là vuông. Đỉnh là chính, như nói rằng:
đỉnh
thịnh, đỉnh yên, đỉnh lực,
thuộc về nghĩa ấy. Ở quẻ Đỉnh đây kiêm cả mấy nghĩa mà nghĩa trọng nhất là
thủ tượng bằng cái Đỉnh nên nói rằng:
Đỉnh tượng dã.
Dĩ mộc tốn hỏa, phanh nhậm dã, thánh nhân phanh dĩ hưởng thượng đế, nhi đại phanh dĩ dưỡng thánh
hiền.
Theo như hai thể quẻ, Tốn là mộc, Li là hỏa, Tốn lại có nghĩa là vào, lấy mộc đưa vào lửa, lửa đốt
mộc mà nấu chín được đồ ăn là công việc thuộc về nâu nướng đó vậy.
Phanh nhậm nghĩa là nấu nướng, nhất thiết công việc thuộc về nấu nướng thảy gọi bằng phanh nhậm.
Người ta thường vẫn xem việc nấu nướng là nhỏ nhen, nhưng theo Dịch lí thời phanh nhậm lại cũng là
việc lớn. Nên Soán Truyện mới cử ra hai việc rất lớn: Một là hưởng tế thần thượng đế; một là phụng
dưỡng bậc thánh hiền.
Thuở xưa, các bậc thánh hiền sở dĩ trọng việc phanh nhậm, há phải vì nuôi khẩu phúc mà thôi rư? Vì
lẽ bán bản phản thỉ mà có lẽ tế thần thượng đế thời dùng đến phanh nhậm, nên nói rằng:
Phanh dĩ
hưởng thượng đế.
Vì muốn tỏ rõ được ý tôn đức há hiển nên đặt ra lễ lộc dưỡng thánh hiền thời càng
cần đến phanh nhậm, nên nói rằng:
Đại phanh dĩ dưỡng thánh hiền. Đó là kể công dụng của Đỉnh mà
kể cho đến rất to lớn thời như hai việc ấy.
Nhưng hưởng thượng đế thời chỉ một chữ
phanh, dưỡng thánh hiền thời nói đại phanh, rất có ý nghĩa.
Bởi vì hưởng thượng đế thời cổt ở chữ thành mà đồ phanh nhậm vừa chút đỉnh là xong nên chỉ nói một
chữ phanh là tỏ ý không cần gì đồ nhiều. Đến như dưỡng thánh hiền thời tuy cốt tinh thành, nhưng mà
cũng cần kiêm cả vật chất, thánh hiền không lẽ không ăn mà làm được việc, phụng dưỡng cho phong

hậu, mới tỏ rõ được tinh thành. Vậy nên nói rằng: Đại phanh (Đại phanh nghĩa là những đồ cung
dưõng thật phong hậu).
Hai việc như trên đây là việc thánh vương của đời xưa nên trùm lấy hai chữ thánh nhân.
Tốn, nhi nhĩ mục thông minh, nhu tấn nhi thượng hành, đắc trung nhi ứng hồ cương, thị dĩ nguyên
hanh.
Đây chỉ lấy tài quẻ mà thích hai chữ nguyên hanh. Theo như thể quẻ: Lí có tượng là mục, hào giữa quẻ
Li ở Ngoại Quái có tượng là nhĩ, Tốn, Li hợp mà nên quẻ, thế là có đức tốn thuận mà lại có tài bằng
nhĩ mục thông minh.
Li là quẻ âm, bây giờ ở Thượng Quái, Lục Ngũ lại ở được ngôi tôn ứng với Cửu Nhị là dương cương,
thế là,
nhu tấn nhi thượng hành, đắc trung nhi ứng hồ cương.
Người ta nếu có tài thông minh, có chất nhu tốn, có đức đắc trung mà lại có bậc dương cương ứng viện
cho mình, cương, nhu tịnh dụng ra làm việc đời thời có việc gì mà chẳng đại thông đâu. Vì vậy nên
được nguyên hanh.


ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN


Tượng viết: Mộc thượng hữu hỏa, Đỉnh. Quân tử dĩ chính vị ngưng mệnh.
象曰: 木上有火, , 君子以正位凝命.
Ở trên Tốn mộc có Ly hỏa, tượng là củi nhen lửa ở dưới Đỉnh mà những đồ phanh nhậm trong Đỉnh
mới thành công. Đó là tượng quẻ Đỉnh.
Quân tử xem tượng ấy, thấy được Đỉnh có tượng nghiêm trọng đoan chính thời công dụng nó mới nên.
Quân tử mới lấy thân mình làm Đỉnh cho trong đời, nghiêm trọng đoan trang chính ở vị mình. Kẻ trên
nhắm xuống, kẻ dưới trông lên thời mệnh lệnh phát hành mới được thống nhất tề chỉnh, đó là chính vị
ngưng mệnh mà làm công dụng Đỉnh của quân tử.
Vị nghĩa là ngôi tồn. Chính vị nghĩa như câu: Cung
kỷ chính nam diện
恭己正南面trong Luận Ngữ, nghĩa là: Cung kính uy nghi ở giữa mình mà chính
ngôi Nam diện (Ngôi vua đời xưa ngồi tất trở mặt về hướng Nam nên nói rằng Nam diện).
Ngưng nghĩa là nhóm tụ ở một chốn mà không tán loạn. Vị có nghiêm chính thời mệnh lệnh mới được
ngưng tụ. Nếu vị không chính thời mệnh không ngưng. Ví như: Đỉnh không nghiêm trọng thời công
phanh nhậm không thành.
Ở sau lúc biến cách rồi càng nên như Tượng Truyện đây. Vậy nên ở quẻ Cách có chữ “cải mệnh”.
Cách rồi sang Đỉnh, lại cần có chữ “ngưng mệnh”; đó cũng là nghĩa tùy thì ở Dịch vậy.


HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN


1. Sơ Lục: Đỉnh điên chỉ, lị xuất bĩ, đắc thiếp dĩ kì tử, vô cựu.
初六: 鼎顛趾, 利出否, 得妾以其子, 無咎.
Sơ Lục ở dưới hết quẻ Đỉnh, tượng như chân vạc, bây giờ lại thượng ứng với Cửu Tứ, té ra vạc chổng
chân lên trời, đáng lẽ là không gì tốt, nhưng may thay! Sơ mới bắt đầu vào thì Đỉnh, tượng như Đỉnh
mới đem ra mà chưa bắc lên bếp, tất phải úp Đỉnh xuống mà thổ những đồ dơ bụi ra, nên nói rằng:
Đỉnh, điên chỉ, lị xuất bĩ (
Điên chỉ nghĩa là dốc ngược chân lên; nghĩa là đồ dơ bụi).
Đỉnh mà dốc ngược chân vẫn trái lẽ thường, nhưng vì dốc ngược chân mà đổ đồ dơ bụi ra hết, cũng

tượng như Sơ Lục vẫn không tài đức gì mà tình cờ được Tứ giúp cho, may cứu được những việc thất
bại, bù được những chốn khuyết điểm, cũng là đáng may cho Sơ, lại cũng in như người có vợ rồi, tình
cờ lại gặp được một thiếp, nó vẫn ty tiện chẳng quý gì, nhưng vì được nó mà lị dụng bằng công sinh
con. Việc thiên hạ thường nhân lúc bại mà nảy ra công, nhân người tiện mà sinh ra quý, chính là tượng
Sơ Lục này.
PHỤ CHÚ: Hào từ này chỉ là nghĩa tùy thì trong Dịch thời quẻ này là thì Đỉnh, Đỉnh sở dĩ quý hóa là
cốt những đồ phanh nhậm trong lòng Đỉnh. Sơ là chân Đỉnh, chỉ có công dụng đỡ Đỉnh. Bây giờ đã
điên chỉ, còn gì làm công, may vì thì còn ở Sơ, nhân điên chỉ mà xuất được bĩ, cũng in như đắc thiếp
dĩ lị kì tử, chẳng qua thì may nhịp đỏ mà Sơ cũng được vô cựu, cũng in như vạc chưa bắc lên bếp mà
diên chỉ, té ra thành việc hay. Đó là tình thế ngẫu nhiên.
Chúng ta làm việc không thể nhận Hào từ này làm thường lệ, mới là biết được Dịch.
Tượng viết: Đỉnh điên chỉ, vị bội dã, lị xuất bĩ, dĩ tòng quý dã.
象曰: 鼎顛趾, 未悖也, 利出否, 以從貴也.
Đỉnh tuy điên chỉ, nhưng có lúc nhân đó mà đổ được bụi, chưa lấy gì làm trái lí vậy.
Bởi vì, lẽ thường trong thiên hạ, tất bỏ được cũ mới nạp được mới, tất đổ được cái xấu, mới đưa được
cái tốt vào. Sơ Lục được lị xuất bĩ, nhân thế mà đắc thiếp dĩ kì tử, cũng thuận theo với nghĩa quý vậy
(Chữ
quý phản đổi với chữ bĩ; xấu cũ tất là bĩ, mới đẹp tức là quý).
2. Cửu Nhị: Đỉnh hữu thực, ngã cừu hữu tật, bất ngã năng tức, cát.
九二: 鼎有實, 我仇有疾, 不我能即, .
Cửu Nhị có đức dương cương, ở vị trung, tượng như trong lòng vạc đã chứa đầy đồ ăn. Đỉnh đã hữu
thực, tất có lúc cung cấp cho người dùng. Nhị có tài dương cương, tất có ngày ra làm việc lớn, nhưng
vì ở gần Sơ Lục là một người nhu ác, thấy Cửu Nhị thượng ứng với Ngũ mà sinh lòng ghen tuông,
muốn dèm pha hãm hại Nhị. Thế thời Sơ chính là người cừu Cửu Nhị, nhưng mà chẳng hề gì, bản thân
Nhị vẫn là quân tử, chính ứng với Ngũ lại là nghĩa vụ đang nhiên, dầu Sơ có thù ghét mặc lòng, nhưng
Nhị vẫn một mực giữ được đạo chính, đối đãi với Sơ bằng một cách bất ác nhi nghiêm, tất nhiên Sơ
không dám tới gần, chẳng làm gì thả được ngón hãm hại. Như thế là
ngã cừu hữu tật, bất ngã năng
tức
(Ngã cừu nghĩa là thù oán với ta, chỉ vào hào Sơ. Tật nghĩa là ghen ghét. Tức nghĩa là tới gần).
Người thù của ta, tuy có ghen ghét nhưng không tới được gần ta. Thế thời ta được tốt lành. Hào từ nói
như thế là răn cho Nhị phải đề phòng Sơ đó vậy.
Tượng viết: Đỉnh hữu thực, thận sở chi dã; ngã cừu hữu tật, chung vô vưu dã.
象曰: 鼎有實, 慎所之也, 我仇有疾, 終無尤也.
Đỉnh đã hữu thực, chính là một hạng người có tài khí, chẳng lo trong đời không dụng đến mình, chỉ nên
cẩn thận ở đường đi nước bước cho khỏi đến nỗi lầm đường (
Chi nghĩa là đi).
Sở dĩ đã biết cẩn thận thời dầu ngã cừu hữu tật mà kết quả không tội lỗi vậy (
Vưu nghĩa là tội lỗi).
3. Cửu Tam: Đỉnh nhĩ cách, kì hành tắc, trĩ cao, bất thực, phương vũ, khuy hối, chung cát.
九三: 鼎耳革, 其行塞, 雉膏不食, 方雨, 虧悔終, .

Cửu Tam dương cư dương vị, ở về địa vị lòng vạc, chính là một hạng người có chất tốt sẵn, nhưng vì
ở trên là Ngũ không phải chính ứng với mình, Thượng tuy là chính ứng với Tam nhưng lại bị gián cách
vì Tứ, Ngũ, tượng như tai vạc đương lúc biến cách mà vạc chưa cất lên được, thành ra đường lối đi
còn bị chẹt lấp chưa được thông (
Nhĩ nghĩa là quai vạc, quai vạc còn đương thay đổi thời vạc chưa có
thể khiêng lên được).
Tỉ như: Người có tài mà chưa gặp thì đắc dụng, tuy có đạo đức văn minh, ví như một vị đồ ăn rất ngon
là mỡ chim trĩ mà chưa được đem ra cho người ăn.
Cao nghĩa là dầu mỡ, có đức văn minh như trĩ cao
mà đụng lúc người ta bất thực, không thể nào trong lòng không ăn năn.
Tuy nhiên, người đã hữu tài, há lẽ vô dụng; huống gì Lục Ngũ là bậc người thông minh, thấy Tam có tài
dương cương, cương, nhu tương đắc, e chẳng rày thời mai Tam, Ngũ tất ngộ hợp nhau, tượng như âm,
dương giao hòa mà sắp sửa mưa, không còn những việc ăn năn, như lúc khi xưa nữa (
Phương vũ nghĩa
là đương toan mưa).
Ngũ đã cần đến Tam, thời Tam dụng được tài mình mà làm việc đời, kết quả chắc cũng được tốt lành.
PHỤ CHÚ: Hào từ Cửu Tam cũng tương tự như hào Tam quẻ Tỉnh. Cửu Tam quẻ Tỉnh thời nói rằng
tỉnh điệp bất thực, hào Tam quẻ Đỉnh thời nói rằng trĩ cao bất thực.
Nước giếng tuy trong, mỡ trì tuy béo nhưng đương lúc người ta chưa biết dùng mà ăn, chính tượng như
sĩ quân tử ôm tài mà chưa gặp thì, chẳng phải là một việc đáng đau hay sao?
Ông Hàn Vương Tốn, tức Hàn Tín, khi vị ngộ, có câu hát rằng: Buổi mặt trăng chưa mọc, bầy sao bé
nhố nhăng, lúc vận tốt chưa tới, tay hào kiệt dở dang, chính như tượng hai hào ấy. Tới khi gặp Tiêu Hà
tiến lên Hán Cao Tổ mới hiện ra một người quốc sĩ vô song mà làm nên nghiệp tru Tần diệt Hạng,
chính là gặp vương minh tịnh thụ kì phúc cát đó vậy. Quân tử gặp thì đen rủi, dầu có lẻ loi trong đời,
cũng nên
tố vị nhi hành là tốt.
Tượng viết: Đỉnh nhĩ cách, thất kì nghĩa dã.
象曰: 鼎耳革, 失其義也.
Hào Cửu Tam có tài dương cương, vẫn đáng được Cửu Ngũ tín dụng, nhưng vì thì vận chưa thông,
tượng như Đỉnh nhĩ đương lúc biến cách thời chiếu theo với nghĩa Đỉnh còn trái mất đó vậy.
Tới lúc âm dương hòa mà sắp sửa mưa thời trên minh dưới tài, đôi bên hòa hợp, mới là xứng với
nghĩa Đỉnh.
4. Cửu Tứ: Đỉnh chiết túc, phúc công tốc, kì hình ốc, hung.
九四: 鼎折足, 覆公錬, 其形屋, .
Cửu Tứ ở quẻ trên, lại thân cận với Lục Ngũ là vị chí tôn, có trách nhiệm bằng gánh việc thiên hạ, tất
phải cần những hạng người tài trí trong thiên hạ giùm sức với mình, mới có thể cất nổi gánh nặng,
tượng như vạc có chân mới đỡ nổi các thức đồ ăn trong vạc. Bây giờ Cửu Tứ lại trái hẳn, không lượng
tài lực mình mà dám đỡ lấy gánh nặng, lại không hay cần hiền trí gánh giúp cho mà chỉ hạ ứng với Sơ
là âm nhu tiểu nhân. Tứ đã hư hèn mà Sơ lại nhu ám. Thế nào chẳng gãy đòn đứt gióng mà hỏng gánh
rư? Chẳng khác gì vạc gãy chân mà đổ đồ ăn của nhà công rư? đến nỗi phải chịu hình phạt rất nặn.
(
Thúc nghĩa là đồ ăn nấu trong vạc; ốc là một thứ hình phạt nặng. Sách Chu Lễ có chữ ốc tru). Hào
này Hệ tử thích kĩ, xin tiện dịch ra đây:

Hệ từ nói rằng: Ở vị nào tất xứng với đức, nếu đức mỏng mà vị lại tôn, tất nhiên vị phải trúc; hễ mưu
một việc gì, tất phải lựa theo với trí, nếu trí quá nhỏ mà mưu quá lớn, tất nhiên mưu phải hỏng; gánh gì
tất phải lựa theo sức, nếu sức hèn mà gánh quá nặng, tất nhiên gánh phải đổ, như những hạng người ấy
chẳng những làm tai hại cho nước mà lại rước tai họa vào bản thân, chẳng bao giờ tránh khỏi sự xấu
ấy.
Hào từ quẻ Cửu Tứ quẻ Đỉnh là trách những hạng người không đủ sức gánh nặng mà dám gánh gượng.
Dịch viết: Đỉnh chiết túc, phúc công (thúc) kì hình ốc, hung, ngôn bất thăng kì nhậm dã.
Nhậm nghĩa là
gánh nặng.
Bất thăng nghĩa là không đủ sức cất nổi gánh.
Tượng viết: Phúc công tốc, tín như hà dã.
象曰: 覆公觫, 信如何也.
Cửu Tữ ở ngôi tôn, gánh việc nặng mà đến nỗi gãy chân vạc, đổ đồ công, thiệt quá lạ cho Tứ kia. Tứ
tự tín ra sao mà dám làm như thế (Chữ
Tín đây cũng như nghĩa chữ tự tín; hễ cái gì mình tự chắc trong
mình gọi bằng tín).
5. Lục Ngũ: Đỉnh hoàng nhĩ, kim huyện, lị trinh.
六五: 鼎黄耳, 金鉉, 利貞.
Lục Ngũ ở chính giữa Thượng Quái là đúng vào chốn quai vạc mà lại có đức trung, tượng như quai
vạc sắc vàng mà đòn khiêng vạc lại làm bằng sắt.
Vì Ngũ có đức trung lại ở vào vị trên cao nên thí dụ bằng
hoàng nhĩ; mà lại ở vào vị dương cương,
trên tiếp với Thượng Cửu cũng dương cương nên nói rằng
kim huyện, có trung đức đại tài như thế,
không còn nghi gì nữa, duy chỉ trông cho Ngũ giữ được kiên cố trinh chính mà thôi.
Tượng viết: Đỉnh hoàng nhĩ, trung dĩ vi thực dã.
象曰: 鼎黄耳, 中以為實也.
Lục Ngũ bản chất thông minh mà lại tín nhiệm người cương minh, lấy đức trung làm đồ chất chứa trong
lòng Đỉnh, nên Hào từ nói rằng
đỉnh hoàng nhĩ. Chữ thực ở đây với chữ đỉnh hữu thực ở Cửu Nhị
nghĩa có khác nhau chút đỉnh. Chữ thực ở hào Nhị chỉ là đầy đồ trong lòng vạc, chữ thực đây là đầy tài
đức trong lòng.
6. Thượng Cửu: Đỉnh ngọc huyện, đại cát, vô bất lị.
上九: 鼎玉鉉, 大吉, 無不利.
Công dụng của Đỉnh quan hệ ở hào Thượng. Bởi vì hào Thượng ở trên hết quẻ Đỉnh, lại địa vị đúng
miệng Đỉnh, tính chất dương cương mà lại xử vị âm nhu, Cương chẳng quá cương, nhu chăng quá nhu.
Ở vào cuối cùng thì Đỉnh là Đỉnh đã đến lúc thành công, tượng như dụng bằng đòn ngọc sẽ đổ cất vạc
nên Hào từ thí dụ bằng
đỉnh ngọc huyện. Ngọc là một giống dương cương mà hòa thuận. Thượng Cửu
cương, nhu thích nghi, cũng in như ngọc huyện, được như thế, chắc là tốt lành lớn mà không việc gì là
chẳng lị.
Tượng viết: Ngọc huyện tại thượng, cương, nhu tiết dã.

象曰: 玉鉉在上, 剛柔節也.
Thượng Cửu là một nét dương ở trên hết quẻ, tượng như cái đòn xâu vào quai vạc, vả lại tính chất hào
Thượng, vừa cương vừa nhu, vừa đúng chừng mực nên thủ tượng bằng ngọc huyện mà được đại cát vô
bất lị.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!