CHU DỊCH HẠ KINH – 41. QUẺ SƠN TRẠCH TỔN

CHU DỊCH HẠ KINH

41. QUẺ SƠN TRẠCH TỔN

Cấn trên; Đoái dưới


Quẻ này là quẻ Sơn Trạch Tổn. Đoài hạ cũng là Nội Đoài, Cấn thượng cũng là Ngoại Cấn. Cấn sơn,
Đoài trạch, nên tên quẻ đọc bằng Sơn Trạch Tổn.


TỰ QUÁI

Tự quái: Giải giả hoãn giả, hoãn tất hữu sở thất, cố thụ chi dĩ Tổn.
序卦: 解者緩也, 緩必有所失, 故受之以损.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Sau quẻ Giải tiếp lấy quẻ Tổn là vì cớ sao?
Bởi vì trên ấy là quẻ Giải. Giải nghĩa là khoan nới; thường tình người đời hễ khi nguy cấp thường hay
lo lắng, đã hay lo lắng thời khỏi thiệt hại, đến khi đã khoan nới thường quên lo, quên lo thời chắc có
thiệt hại nên sau quẻ Giải tiếp lấy quẻ Tổn.
Tổn, có nghĩa là thiệt hại, cũng có nghĩa là giảm bớt. Ý nghĩa tên quẻ thời Soán Truyện, Tượng Truyện
đã thích kĩ rồi. Ở đây không cần phải thích.
PHỤ CHÚ: Quẻ này nguyên là quẻ Thái, Nội Càn biến hào Tam mà thành ra Đoài, Ngoại Khôn biến
hào Thượng mà thành ra Cấn. Thế là nguyên quẻ Địa Thiên Thái, biến hai hào mà thành Sơn Trạch
Tổn.
Bớt hào dương ở dưới mà thêm vào trên, ở dưới tuy tổn mà trên thời được ích, cớ sao không đặt tên
quẻ bằng Ích mà lại đặt tên bằng Tổn, đó thiệt là ý tứ rất hay. Bởi vì ở trên muốn cao, tất phải dưới
cho dày, trên vững nhờ dưới làm nền. Ví như đắp tường hay xây tháp, muốn tường tháp được vững, tất
phải dưới nền cho dày và rộng thời tường tháp mới đứng yên,
Bây giờ khoét đất ở dưới, đưa đắp lên trên thời nền hỏng mà tường tháp phải đổ ngay. Thế thời tổn
dưới ích trên là việc rất nguy hiểm nên đặt tên quẻ bằng Tổn. Hễ thời đại đã đến Tổn thời nền tảng
Thái đã hỏng rồi, đó là thâm ý của thánh nhân đặt tên quẻ.


SOÁN TỪ


Tổn, hữu phu, nguyên cát, vô cựu, khả trinh, lị hữu du vãng. Hạt chi dụng, nhị quỷ khả dụng hưởng.
损有孚, 元吉, 無咎, 可貞, 利有攸往. 曷之用, 二蒉可用亨.
Tổn, hữu phu, nguyên cát, vô cựu, khả trinh, lị hữu du vãng.

Theo như tượng quẻ Tổn bớt hạ Đoài mà thêm vào Thượng Cấn, bớt nét dương ở dưới mà thêm cho
nét âm ở trên, có tượng là bớt của người dưới mà thêm cho người trên, bớt của phía trong mà thêm cho
phía ngoài, bóc lột của dân, thêm vào cho vua quan, chỉ là tượng xấu mà thôi, nhưng Quái từ không lấy
bằng tượng quẻ mà chỉ lấy nghĩa bằng tên quẻ, tên quẻ là Tổn, Tổn là giảm bớt. Đạo lí trong thiên hạ,
hễ việc gì thái quá thời phải giảm bớt cho vừa đắc trung, chỉ cốt cho đúng việc nên tổn mà tổn.
Tỉ như: Dụng độ thời bớt xa xỉ, uy quyền thời bớt lạm dụng, hình luật thời bớt hà khắc, v.v. Tổn mà
được như thế thời càng tổn càng hay, nhưng trong khi giảm bớt, tất xuất ở chí thành, tất phải thuận với
đạo lí mà cho được thập phần tốt lành. Lại tất phải xử trí cho đắc nghi mà không lầm lỗi. Nếu tổn mà
được như thế thời có thể kiên cố mà giữ lấy hoài hoài mà lại tấn hành việc gì cũng tiện lị.
Hạt chi dụng, nhị quỷ khả dụng hưởng.
Trên đây đã nói những việc tổn sở đương tổn, nhưng chỉ nói về đạo lí chung. Bây giờ trích cử lấy một
việc trong thì Tổn khiến cho chúng ta suy rộng ra để làm các việc ở thì Tổn, nên Quái từ lại nói nghĩa
trong thì Tổn nên dùng bằng thế nào.
Tỉ như: Lễ cúng hưởng yến tế chỉ cốt ở thành tín cung kính mà chẳng cần gì nhiều vật phẩm lắm.
Vì thành kính tới nơi mà lễ nghi quá giản, dầu chỉ đơn bạc có nhị quỉ cũng cảm cách được quỷ thần,
dùng làm việc hưởng tự như thế cũng tốt, đó là theo về thì nghĩa ở thì Tổn, chỉ nên như thế; cái đã nên
tổn mà tổn thời dầu ít cũng chẳng ngại gì.
Soán viết: Tổn, tổn hạ ích thượng, kì đạo thượng hành. Tổn nhi hữu phu nguyên cát, vô cựu, khả trinh,
lị hữu du vãng. Hạt chi dụng, nhị quỷ khả dụng hưởng, nhị quỷ ứng hữu thì, tổn ích nhu hữu thì. Tổn ích
dinh hư, dữ thì giai hành.
彖曰: , 损下益上, 其道上行. 损而有孚, 元吉, 无咎, 可貞, 利有攸往. 曷之用, 二蒉可用亨,
蒉應有時
, 損剛益柔有時. 损益盈虛, 與時偕行.
Soán viết: Tổn, tổn hạ ích thượng, kì đạo thượng hành.
Quẻ này sở dĩ đặt tên bằng quẻ Tổn là vì tượng quẻ Nội Quái nguyên là Càn, Ngoại Quái nguyên là
Khôn; bây giờ bớt hào Tam Càn hạ mà đem lên thêm cho hào Thượng Khôn thượng. Thế là bớt dưới
mà thêm cho trên, đạo ấy chỉ làm ích phía trên.
Tổn nhi hữu phu nguyên cát, vô cựu, khả trinh, lị hữu du vãng.
Tổn mà lấy chí thành làm những công việc đáng tổn mà lại nguyên cát, vô cựu, khả trinh thời lị hữu du
vãng.
Nguyên cát nghĩa là làm cho hoàn thiện; vô cựu nghĩa là làm cho khỏi lầm lỗi; khả trinh nghĩa
là làm cho thường hợp với lẽ chính, như thế thời tổn mà cũng có công hiệu, cũng là làm lị ích cho thì
Tổn đó vậy.
Hạt chi dụng, nhị quỉ khả dụng hưởng, nhị quỷ ứng hữu thì, tổn cương ích nhu, hữu thì.
Trên Quái từ có nói rằng: Hạt chi dụng, nhị quỷ khả dụng hưởng, ý nghĩa của Văn Vương là bảo cho
người ta ở thì Tổn nên giảm bớt về phần văn sức mà dày thêm về phần bản chất, nhưng Đức Khổng Tử
còn sợ người ta nhận lầm rằng nhất thiết văn sức dầu thì nào cũng phải bỏ, như thế thời trái với đạo

Dịch nên lại nói cho rõ thêm rằng:
Hễ việc trong thiên hạ, vô bản thời bất lập, vô văn thời bất hành, văn sức có phải khi nào cũng bỏ
được đâu, chỉ duy ở về thì Tổn thời văn đã thắng chất, phấn sức quá nhiều mà thành thực quá ít, ứng
dụng thuộc về thì ấy phải bớt hư văn, dầu giản đơn chỉ có nhị quỉ cũng đã thích dụng, ứng dụng theo thì
Tổn như thế là hay. Chẳng những văn sức có thì nên tổn mà thôi, còn suy ra cho hết đạo lí, tuy cương
vẫn nên nhiều hơn nhu, nhưng đến lúc cương đã thái quá mà nhu thời bất cập, muốn cho cương, nhu
vừa thích hợp với nhau, tất phải theo thì mà bớt phần cương để thêm vào phần nhu, đó cũng là cứu thì,
có thì phải nên như thế.
Tổn ích dinh hư, dữ thì giai hành.
Nói tóm lại, vừa đúng với nhịp phải, lả gọi bằng thì, thì nên tổn mà tổn, thì nên ích mà ích, thì nên dinh
mà dinh, thì nên hư mà hư, chỉ duy theo ở nơi thì mà lựa cách làm việc cho rập với thì, hễ đã thái quá
thời phải bớt, hễ còn bất cập thời phải thêm, hễ còn kém hụt thời phải khiến cho đầy, hễ đã quá bành
trướng thời nên khiến cho lưng. Bốn lẽ ấy, phải theo thì mà làm cho đúng.


ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN


Tượng viết: Sơn hạ hữu trạch, Tổn. Quân tử, dĩ trừng phẫn trất dục.
象曰: 善下有澤, . 君子以懲忿, 窒欲.
Quẻ này ở dưới Cấn sơn có Đoài trạch, tượng là khoét ở bề dưới mà thêm vào phía trên cao, trạch sâu
chừng nào, sơn càng thêm cao chừng ấy, nhưng lâu ngày thời chân núi phải hỏng, chân đã hỏng, tất núi
phải trúc đổ. Thế là tượng quẻ Tổn. Quân tử xem tượng ấy nên nghĩ một cách tổn trong mình.
Trong mình mà nên tổn là những cái gì? Là
phẫn với dục. phẫn nghĩa là hăng giận bằng khí huyết; dục
nghĩa là ham muốn bằng tư tình. Người đương khi khí huyết vừa hăng lên, tất nhiên khi phẫn nộ không
đúng với đạo lí, muốn cho giảm bớt cái giận, tất phải dùng bằng cách trừng.
Trừng nghĩa là dằn ép khí
giận xuống cho nó khỏi vùng lên nên nói rằng
trừng phẫn.
Muốn cho bớt tư dục, tất phải dùng một cách bằng trất. Trất, nghĩa là đương khi tình dục mới động
phải lo dằn lấp cái hạng dục không cho nó lù ra nên nói rằng
trất dục.
Nói tóm lại, phẫn và dục là hai bệnh rất lớn trong mình; chữ trừng, chữ trất là phương thuốc rất hay để
chữa bệnh ấy.
Phẫn nghĩa là giận, vì người có tính ố mới sinh ra giận. Dục nghĩa là muốn, vì người có tình ái mới
sinh ra dục; ái, ố không phải tuyệt đối xấu, nhưng ái, ố mà đúng với thiên lí thời ái, ố đắc chính nên ố
mà ố, không phải phẫn; nên áì mà ái, không phải dục; chỉ duy ái, ố mà xuất ở tư tình, hoặc vì khí huyết
bậy mà sinh ra, cái không nên ghét mà ghét, ghét sinh ra phẫn, cái không nên yêu mà yêu, yêu sinh ra
dục, muốn tổn hết những bệnh ấy, tất phải trừng phẫn, trất dục.
Tuy nhiên, trong hai điều đó, trừng phẫn có dễ hơn trất dục, bởi vì phẫn nộ thường hay phát lộ ra bề
ngoài, nếu những người có tính ôn hòa, có khí cương quyết thời trừng phẫn không khó lắm.
Duy tình dục là đầm ngấm ở bề trong, chính là nhân tâm duy nguy, nêu không phải thấu lí rất tinh, dụng
công chuyên nhất thời chưa dễ trất được dục đâu.
Xưa thầy Nhan tuy có lúc giận mà không giận lây đến ai, tuy có lầm lỗi mà chẳng lầm lỗi đến hai lần,
Đức Khổng Tử thấy thế mà khen làm hiếu học. Chúng ta phải biết trừng phẫn trất dục tất phải học vấn
thấu đáo như thầy Nhan, mới có thế làm tới nơi.

HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN


1. Sơ Cửu: Dĩ sự suyền vãng, vô cựu, chước tổn chi.
初九: 已事, 遄往, 無咎, 酌損之.
Ở về thì Tổn, chính là thì tổn hạ ích thượng, tổn cương ích nhu. Sơ là dương cương mà thượng ứng với
Tứ, Tứ là âm nhu mà cẩu ích với Sơ. Theo nghĩa thì Tổn thời Sơ nên giúp lị ích cho Tứ, nên nói rằng:
Dĩ sự suyền vãng (Dĩ sự nghĩa là nghĩ việc của mình, suyền nghĩa là lanh chóng; suyền vãng nghĩa là
gấp đi lên), nghĩ việc của mình mà đi lên giùm giúp cho Tứ theo nghĩa vụ của Sơ, như thế mới không
tội lỗi.
Tuy nhiên, địa vị bậc dưới mà làm ích cho người trên, người trên ích quá nhiều thời mình cũng chịu
tổn quá nặng, nên phải cân lường châm chước, lựa những việc đáng bớt của mình mà làm ích cho Tứ.
Tuy không nên bất cập mà cũng chẳng nên thái quá, nên nói rằng:
Chước tổn chi (Chước: cân nhắc,
châm chước, cũng có ý đong lường).
Tượng viết: Dĩ sự suyền vãng, thượng hợp chí dã.
象曰: 已事 遄往, 尚合志也.
Thượng nghĩa là trên, không phải thượng là chuộng. Sơ Cửu, nghĩa là phải làm cho Lục Tứ nên phải
nghĩ việc mình mà gấp qua, bởi vì ở về thì Tổn, có như thế mới hợp được chí người trên vậy.
2. Cửu Nhị: Lị trinh, chinh, hung, phất tổn, ích chi.
九二: 利貞, 征凶, 弗损, 益之.
Cửu Nhị có đức cương trung, nhưng ở vào thì tổn cương ích nhu, vả Nhị chính ứng với Lục Ngũ là âm
nhu bất chính.
Người ở trên mình là bất chính, lại xử vào thì tổn hạ ích thượng, chắc Ngũ thường lấy những việc mà
cầu Nhị ích cho. Nếu Nhị không biết tự trọng mà giữ lấy đức cương của mình làm những cách nhu
duyệt bất chính để giúp cho Ngũ, như thế thời tổn hại đức mình mà cũng chẳng ích gì đến Ngũ, nên
thánh nhân răn rằng: Cửu Nhị ơi! Nhị nếu muốn làm ích cho Ngũ thời nên biết rằng: Quân tử yêu người
thường lấy đức. Nhị chỉ nên lấy đức cương của Cửu Nhị, nếu không thế, Ngũ cầu Nhị làm điều bất
chính mà Nhị đi ngay, tất nhiên xấu hung (
Chinh nghĩa là bỏ đức cương trung của mình mà chịu Ngũ,
như thế tất nhiên hung).
Tuy nhiên, Nhị giữ lấy đức trinh đó há phải không làm ích cho Ngũ đâu, hễ mình đã chính kỉ tất nhiên
người cũng phải chính. Nhị không tổn hại đức cương của mình, tức là làm ích cho Ngũ đó vậy.
Phất
tổn
mà nói ích chi cũng như nói: Bất ích chi ích.
Tượng viết: Cửu Nhi lị trinh, trung dĩ vi chí dã.
象曰: 九二利貞, 中以為志也.
Hào Cửu Nhị mà lị ư trinh vì Nhị đã sẵn cương trung thời nên cố chí giữ đức ấy, nghĩa là: Chí để nơi
cương trung; trinh nghĩa là chính, nhưng Tượng Truyện lại chú trọng bằng chữ trung, bởi vì trung quý
trọng hơn chính; đã được trung tức là chính, nếu chính mà thôi thời chưa chắc đã trung. Vậy nên lấy
chữ trung bao chữ chính.

3. Lục Tam: Tam nhân hành, tắc tổn nhất nhân, nhất nhân hành, tắc đắc kì hữu.
六三: 三人行則损一人, 一人作則得其友.
Nguyên lẽ trong trời đất, lí là giống vô hình, đến hữu hình mới thành ra số, muôn việc thảy ở số mà
sinh ra, nguyên ở số chỉ có nhất với nhất đối đãi với nhau, vì nhất tương đối với nhất mới thành ra nhị,
đến nhị là vừa khéo, tức là lí
nhất âm, nhất dương chi vị đạo trong Dịch. Hễ đã đến tam thời không
nhất âm thừa thời cũng nhất dương thừa, đã thừa tất phải bớt nên nói rằng: Ba người đi thời trừ hai
người tương đối ra, dư một người, tất phải bớt người ấy đi mới đúng nguyên số; một người đi là còn
thiếu một người, trái với lẽ tương đối, tất phải thêm vào một người cho đúng lẽ tương đối, thời một
người kia tất nhiên được bạn. Bởi vì nguyên lí trong vũ trụ chỉ có tương đối mà không gì tuyệt đối, có
tương đối mớỉ vừa cân với nhau. Nếu có giống gì tuyệt đối thời cái giống đó thừa ra, thừa tất phải tổn.
Tỉ như quân quyền đã tuyệt đối cao tất nhiên phải có dân quyền để tương đối. Bởi vì quân quyền thừa,
tất phải bớt.
Lại giả như, thần quyền đã tuyệt đối trọng, tất phải có nhân quyền tương đối; khi đã có nhân quyền thời
thần quyền thừa ra, thừa tất phải bớt; suy rộng ra đến vạn sự vạn vật, chỉ có nhất với nhất đối đãi cân
nhau, đến nhị là vừa, nếu dư một cái mà thành ra tam tất nhiên phải tổn.
Hào từ ở đây chỉ mượn tượng quẻ, ba dương thảy đi thời bớt một nét dương là Cửu Tam: ba âm đểu đi
thời bớt một nét âm là Thượng Lục, như thế là tam nhân hành, tắc tổn nhất nhân.
Một hào Tam đi lên, một hào Thượng đi xuống, hai hào tương đắc mà thành ra quẻ Tổn. Sơ tương đắc
với Tứ, Nhị tương đắc với Ngũ, Tam tương đắc với Thượng, tổng chi là nhất tương đắc với nhất, như
thế là nhất nhân hành tắc đắc kì hữu.
Chỉ theo thể quẻ mà nói, tuy có ngần ấy lời nhưng đạo lí bao hàm thiệt rộng. Vậy nên tiên thánh sư
thích Hệ tử ở hào này rất kĩ.
Hệ tử nói rằng: Trời với đất chỉ nhất âm, nhất dương, giao cảm với nhau mà vạn vật nhờ đó hóa thuần;
nam với nữ chỉ một vợ, một chồng giao cấu tinh khí với nhau mà vạn vật nhờ đó hóa sinh.
Hào từ Dịch rằng:
Tam nhân hành tắc tổn nhất nhân, nhất nhân hành tắc đắc kì hữu, là nói lẽ phải
trong trời đất chỉ chuyên chú vào nhất với nhất mà thôi.
Nhân huân là có ý giao cảm thân mật. Thiên địa chỉ nói bằng khí âm khí dương. Hóa thuần nghĩa là
tạo hóa ra các loài, loài gì cũng đậm đà, dày dặn. Chữ nam, chữ nữ đây chỉ nói bằng âm, dương, tức
như trống mái, đực cái, v.v. thảy gọi bằng nam, nữ.
Cấu nghĩa là kết hợp; tinh nghĩa là tinh khí; hóa
sanh
nghĩa là sanh nở biến hóa mãi mãi. Tục Nhật Bản gọi gà mái bằng chim gái, gà trống bằng chim
trai, chính đúng với nghĩa nam, nữ ở đây.
PHỤ CHÚ: Hai chữ “trí nhất”, chúng ta nên nhận ý nghĩa cho ra. Bởi vì nguyên thỉ trong vũ trụ, chỉ có
một chữ zêrô mà bắt đầu thành ra có số. Số đầu tiên là nhất, đặt số nhất trên zêrô thành mười, cứ tiến
lên mãi thành trăm, ngàn, vạn, ức triệu, v.v. cũng chỉ thấy ở trên mấy zêrô là số nhất, đó mới biết được
nguyên lí trong vũ trụ chỉ có cái nhất, nhưng mà đã có sinh tất có thành nên lại phải có nhất nữa để
tương đối với nhất, nhất tương đối với nhất thành ra nhị, đến nhị là bao bọc hết công dụng trong vũ trụ.
Tuy nói cho đến những giống phức tạp tẳn mẳn, vạn trạng thiên hình, nhưng rút cùng chỉ nhất với nhất,
đó vậy.
Tỉ như: Nhất âm nhất dương, nhất thiện nhất ác, nhất hùng nhất thư, nhất tẫn nhất đậu, có giống gì tránh
khỏi nhất với nhất tương đối đâu, nên Kinh văn mới có hai chữ “trí nhất”, theo về đạo lí vẫn là trí nhất
mà kể về làm việc lại nên trí nhất lắm. Vô luận học thuật, văn nghệ và thực nghiệp, công tác, hễ đã làm
việc gì tất phải trí nhất việc ấy, nếu không trí nhất thời không làm nên. Người xưa có câu: Lòng mình

không dùng hai ngả. Lại có câu: Đạo lí không hai đường phải. Lại có câu: Hễ các giống không giống
nào hai bên lớn địch nhau, tất thảy là lẽ trí nhất đó vậy.
Tượng viết: Nhất nhân hành, tam tắc nghi dã.
象曰: 一人行, 三則疑也.
Hễ nhất nhân hành thời chỉ thêm vào nhất nhân nữa là vừa tương đắc, nếu ở ngoài hai người đó mà lại
thêm vào một người nữa thế là tam, thời tất nhiên bên nào cũng nghi cả.
Bây giờ thiết ra một cách thí dụ cho minh bạch, chữ nhân chớ câu nệ nhân là người, ta bỏ lơ chữ nhân
mà chỉ nói chữ nhất và chữ tam mà thôi.
Lệ như: Chú Giáp và anh Ất cặp nhau mà đi, tất nhiên Giáp phải chuyên tâm vào Ất mà Ất cũng
chuyên tâm vào Giáp; nếu đột nhiên thêm Bính vào nữa thời vì trước kia đã có Ất với Giáp rồi, bây
giờ Bính biết chuyên tâm với ai, chẳng phải là nghi hay sao?
Vả lại, Giáp hay Ất thấy Bính chắp vào, tất anh nào cũng phải chia lòng vào Bính mà cái lòng chuyên
nhất ở lúc xưa nhân đó mà sinh ra hồ hoặc, chẳng phải là nghi hay sao? Vậy nên, nhỏ từ nhất vật, nhất
sự, lớn đến nhất đảng, nhất phái, nhất chủ nghĩa, không bao giờ tránh khỏi nhất tắc đắc nên nói rằng:
Nhất nhân hành, tắc đắc kì hữu. Đọc Kinh văn thảy nên chú ý như thế, chớ nên câu nệ ở nơi mặt chữ
mà bỏ mất thâm ý của thánh nhân.
4. Lục Tứ: Tổn kì vật, sử suyền, hứu hỉ, vô cựu.
六四: 損其疾, 使遄有喜, 元吉, 無咎.
Chữ
suyền ở đây với chữ suyền ở hào Sơ tương ứng; Sơ với Tứ là bạn tương ứng, nhưng Sơ có đức
dương cương mà ở dưới, Tứ có bệnh âm nhu mà ở trên, xử vào thì tổn hạ ích thượng, tất nhiên Sơ phải
làm ích cho Tứ, vả lại Tứ cũng phải cầu ích với Sơ. Sơ muốn làm ích cho Tứ thời nên thế nào?
Chỉ duy bớt tật âm nhu của Tứ mà lấy đức dương cương của mình giúp cho Tứ khiến Tứ chóng trừ
được tật ám nhu. Như thế thời
hữu hỉ mà lại vô cựu.
Hỉ là mừng cho Tứ được mau thôi bệnh; tật là nết xấu bằng âm nhu; suyền nghĩa là lanh chóng, chữ
“suyền vãng” ở hào Sơ nghĩa là phải đi lên mau giúp cho Tứ. Chữ “sử suyền” ở hào Tứ là khiến cho
Tứ mau thôi bệnh, đồng một chữ mà công dụng khác nhau.
Tượng viết: Tổn kì tật, diệc khả hỉ dã.
象曰: 损其疾, 亦可喜也.
Tứ sẵn có tật, vẫn không lấy gì đáng mừng, nhưng vì Sơ làm ích mà giảm được bệnh cho mình thời hai
bên thảy đáng mừng đó vậy.
Sở dĩ có chữ
diệc, nghĩa là chẳng những người bớt được bệnh mừng đã đành mà người chữa lành
được bệnh cho người cũng lấy làm mừng vậy.
5. Lục Ngũ: Hoặc ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi, nguyên cát.
六五: 或益之十朋之龜, 弗克違, 元吉.
Lục Ngũ có đức nhu trung, ở được vị nguyên thủ, lại có bạn chính ứng là Cửu Nhị; Nhị có đức cương
trung làm ích cho Ngũ mà Ngũ cũng hết lòng thuận tòng với Nhị. Ở vào thì tổn hạ ích thượng mà

cương, nhu tương đắc như thế thời thiên hạ ai chẳng vui làm ích cho mình.
Thí dụ như có con rùa thiêng nặng tới mười bằng mà thình lình có người đưa tới làm ích cho mình mà
mình không thể từ chối, thụ ích bằng một cách rất tự nhiên mà lại rất to lớn, thế là bao nhiêu cái ích
của thiên hạ, thảy làm ích cho mình, chắc được tốt lành to lớn vậy.
Hoặc ích chi nghĩa là thình lình có người đưa đến làm ích cho. Bằng là một tên con số ở đời xưa, hai
bối thời gọi một bằng mười bằng, thời chu vi lớn đến hai nghìn một trăm sáu mươi thước.
Thập bằng chi quy là tỉ dụ việc ích cực kì lớn. Vi nghĩa là từ chối. Phất khắc vi nghĩa là không thể từ
chối được. Làm ích đến mười bằng là việc rất lớn mà mình không thể từ chối được nên nói rằng:
Hoặc
ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi.
Thập bằng chi quy
chỉ nói việc thụ ích rất lớn là được, không cần phải nói con rùa lớn làm gì.
PHỤ CHÚ: Theo về nghĩa quẻ thời tổn hạ ích thượng vẫn là xấu, có gì là tốt đâu, nhưng theo nghĩa hào
thời cương trung với nhu trung, đủ hai đức ấy mà ngồi chịu thiên hạ đem ích đến cho chính là tốt lớn
nhất trong thì Tổn, nên trong sáu hào, duy hào Ngũ được nguyên cát, đó chính là nghĩa tùy thì biến dịch
trong Dịch.
Tượng viết: Lục Ngũ nguyên cát, tự thượng hựu dã.
象曰: 六五元吉, 自上祐也
Hào này sở dĩ được nguyên cát vì có đức nhu trung nên thu thập được lòng người, lòng người đã quy
hướng vào thời lòng trời cũng phải bênh vực, cái nguyên cát đó là lòng trời giúp cho đó vậy. (
Thượng,
nghĩa là thượng thiên).
6. Thượng Cửu: Phất tổn ích chi, vô cựu, trinh cát, lị hữu du vãng đắc thần vô gia.
上九: 弗损, 益之, 無咎, 貞吉, 利肴攸往, 得臣無彖
Hào này ở trên hết quẻ Tổn, đương thì ích thượng, mà Thượng Cửu lại ở trên hết, tất nhiên thụ ích
được quá nhiều, ích quá nhiều tất nhiên đầy, đầy tất nhiên đổ nên thánh nhân mới dạy rằng: Thượng
Cửu ơi! Thượng ở vào cuối cùng thì Tổn, lại ở trên hết người ta, Tổn cực tất nhiên phải biến, chịu ích
quá nhiều, tất phải lo đền giả.
Thượng Cửu nên lấy đức dương cương của mình mà tùy thì thiện xử, bỏ những việc làm tổn người mà
lo những việc làm ích cho người. Như thế thời không tội lỗi, lại được chính vừa lành, ở về cuối cùng
thì Tổn mà biết làm lị ích cho người, ấy là hợp với nghĩa biến thông mà lại rất đúng với đạo nhân
thượng, chắc thiên hạ ai nấy cũng phục tòng, nếu có tấn hành những việc gì, hay có đi ở chốn nào chỉ
thấy được lòng quy phụ mà thôi, té ra nước đó là nhà của mình.
Đắc thần là được lòng người thần phục; vô gia nghĩa là không cần nhà mình riêng mới là nhà; đắc
thần vô gia
tương tự câu hóa gia vi quốc, có ý là mất hẳn giới hạn nhà với nước.
Tượng viết: Phất tổn, ích chi, đại đắc chí dã.
象曰: 弗损, 益之, 大得志也.
Người ở trên hết chúng nhân mà không chịu làm việc tổn nhân, chỉ lo làm việc ích nhân, chí nguyện
của quân tử đến lúc bây giờ mới thỏa thích lớn. Bởi vì quân tử không bao giờ muốn làm tổn người, chỉ
duy làm lị ích cho người, ích bao nhiêu thời lòng người được vui vẻ bấy nhiêu nên nói rằng: “Đại đắc

chí đã”. Chữ đắc ở đây, chính là “lạc dĩ thiên hạ”, thiên hạ vui thời mình mới vui, đó là chí của quân
tử.
PHỤ CHÚ: Bàn tóm hết cả quẻ Tổn, nguyên chữ Tổn có ba nghĩa: Một, nghĩa là tổn kỉ, như hào Sơ tổn
kỉ mà ích cho Tứ, hào Tam tổn nhất mà thêm cho Thượng; một nghĩa là tổn nhân, như tượng quẻ, tổn kẻ
dưới mà ích cho kẻ trên; một nghĩa nữa là tổn điều xấu mà ích điều lành, như ở Tượng Truyện nói
trừng phẫn trất dục; ở Cửu Nhị nói lị trinh, ở Lục Tứ nói tổn kì tật, thảy là thuộc về nghĩa ấy. Duy đến
hào Thượng Cửu thời tổn đã cùng cực rồi nên biến nghĩa tổn làm ra nghĩa ích, nên Hào từ nói
phất
tổn, ích chi
, nhưng bốn chữ phất tổn ích chi ở Thượng Cửu với Cửu Nhị văn tuy đồng mà nghĩa khác
nhau xa, hào Cửu Nhị thời bảo giữ đức mình mà không tổn là vừa đủ làm ích cho người, đến như
Thượng Cửu thời bảo chớ tổn người mà chỉ lo làm ích cho người.
Tóm xem cả sáu hào, vẫn ở chung trong một thì Tổn, nhưng vì nghĩa Tổn khác nhau mà cách làm Tổn
cũng khác nhau nên hiệu quả cũng khác nhau, đó là vì tạo nhân bất đồng thời kết quả cũng bất đồng.
Nếu bảo ràng tổn chỉ là tổn mà không ích gì trong thì Tổn thời thánh nhân còn tác Dịch làm gì.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!