CHU DỊCH HẠ KINH – 32. QUẺ LÔI PHONG HẰNG

CHU DỊCH HẠ KINH

32. QUẺ LÔI PHONG HẰNG


Chấn trên; Tốn dưới


Quẻ này là quẻ Lôi Phong Hằng.
Tốn hạ cũng là Nội Tốn, Chấn thượng cũng là Ngoại Chấn. Chấn lôi, Tốn phong, nên tên quẻ đọc bằng
Lôi Phong Hằng.


TỰ QUÁI


Tự quái: Phu phụ chi đạo, bất khả dĩ bất cửu dã, cố thụ chi dĩ Hằng.
序卦: 夫婦之道不可以不久也, 故受之以恆.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ, sau quẻ Hàm tiếp lấy quẻ Hằng là vì cớ sao?
Trước kia quẻ Hàm là nam nữ cảm nhau mới thành được phu phụ. Khi đã thành phu phụ rồi tất phải
tính cách lâu dài, lâu dài mà không đổi, ấy là phu phụ chi đạo. Vậy nên sau quẻ Hàm tiếp lấy quẻ
Hằng. (
Hằng, nghĩa là lâu dài).
Quẻ Hàm thời thiếu nam hạ ở thiếu nữ là hai người trai gái còn đương trẻ tuổi mà cảm duyệt với nhau.
Đã cảm duyệt nhau, tất thành được phu phụ. Khi đã thành phu phụ rồi thời hai người trai gái kia đã tới
kì khôn lớn mà thành trưởng nam, trưởng nữ; trưởng nam là chồng, trưởng nữ là vợ. Chồng chù trương
việc ngoài, vợ chủ trương việc trong, nam cương ở trên, nữ nhu ở dưới. Đó là lẽ thường của phu phụ.
Quẻ này Chấn trưởng nam ở quẻ ngoài quẻ trên, Tốn trưởng nữ ở quẻ trong quẻ dưới, rất hợp với đạo
phu phụ lâu dài, nên đặt tên bằng quẻ Hằng.


SOÁN TỪ


Hằng, hanh, vô cựu, lị trinh, lị hữu du vãng.
恆亨, 無咎, 利貞, 利有攸往.
Chữ Hằng nguyên có hai nghĩa: Một là không thay đổi, tức là bất dịch; một là không thôi nghỉ, tức là
bất dạ.
Hễ người ta làm việc gì, tất có đạo lí việc ấy. Xét đã đúng với đạo lí rồi, tất phải giữ cho được lâu
dài và lại hữu thường mà không thay đổi, như thế thời được hanh thông mà không tội lỗi.
Tuy nhiên, đạo lí có mặt chính có mặt phản. Theo về mặt đạo lí chính thời hằng cửu là hay, theo về mặt
đạo lí phản thời hằng cửu là dở, nên Hào từ lại răn cho rằng:
Lị trinh, nghĩa là nên hằng cửu với việc
chính, chớ hằng cửu với việc tà. Nếu hay hằng cửu với việc chính là hằng cửu bằng cách quân tử, thời

có tiến hành việc gì chắc có thành công.


SOÁN TRUYỆN


Soán viết: Hằng, cửu dã. Cương thượng nhi nhu hạ, lôi phong tương dữ, tốn nhi động, cương, nhu giai
ứng, Hằng. Hằng hanh, lị trinh, vô cựu, cửu ư kì đạo dã, Thiên địa chi đạo, hằng cửu nhi bất dĩ dã, Lị
hữu du vãng, chung tắc hữu thỉ dã. Nhật nguyệt đắc thiên nhi năng cửu chiếu, tứ thì biến hóa nhi năng
cửu thành. Thánh nhân cửu ư kì đạo nhi thiên hạ hóa thành. Quan kì sở hằng nhi thiên địa vạn vật chi
tình khả kiến hĩ.
彖曰: , 久也. 剛上而柔下, 雷風相與, 巽而動, 剛柔皆應, . 恆亨, 利貞, 無咎, 久於其道也.
地之道
, 恆久而不已也. 利有攸往, 終則有始也. 日月得天而能久照, 四時變化而能久成, 聖人久
於其道而天下化成
, 觀其所恆 而天地萬物之情可見矣.
Soán viết: Hằng cửu dã.
Hằng, nghĩa là trường cửu. Theo mặt chữ của chữ Hằng, bên tả là chữ tâm, bên hữu chữ nhất và chữ
nhật, ý nghĩa là lập tâm thường mãi mãi như một ngày.
Cương thượng nhi nhu hạ, lôi phong tương dữ, tốn nhi động, cương, nhu giai ứng, Hằng.
Nguyên hào Sơ cương quẻ Càn đổi cho Khôn mà lên ở hào Tứ. Nguyên hào Sơ nhu của Khôn thay cho
Càn mà xuống ở hào Sơ. Đó là cương thượng nhi nhu hạ. Chấn vi Lôi, Tốn vi Phong. Chấn, Tốn hợp
nhau thành một quẻ, tượng là sấm gió giúp thế lực cho nhau. Đó lại là lôi phong tương dữ. Tốn có tính
thuận, Chấn có tính động, trước Tốn mà sau Chấn. Thế là thuận với đạo lí mà động. Vì thuận mà động
nên thường trường cửu được.
Lại theo như thể quẻ, ba hào cương, ba hào nhu, thảy ứng với nhau. Đó là cương, nhu tương ứng.
Góp cả bốn câu như trên đây, tất thảy có đạo lí mà hàng cửu được nên đặt tên quẻ bằng Hằng.
Hằng, hanh, lị trinh, vô cựu, cửu ư kì đạo dã.
Quái từ nói rằng: Hằng hanh, vô cựu, lị trinh là lâu dài ở đạo chính vậy. (Chữ đây là đại danh từ,
thay chữ trinh;
kì đạo là đạo trinh chính).
Thiên địa chi đạo, hằng cửu nhi bất dĩ dã.
Tiếp lấy chữ đạo trên mà nói rộng ra, chẳng những nhân sự mà thôi đâu, dầu đến rất to lớn như đạo
trời đất cũng chỉ vì có đạo chính mới hay hằng cửu mà không thôi. Tỉ như mùa hạ thường nóng, mùa
đông thường lạnh, núi thường cao, sông thường sâu, đó là chính lí của trời đất cứ thường thường hoài.
Dầu có khi gió dữ mưa cuồng, sóng sôi núi lở, chỉ là lẽ biến hóa trời đất, đã biến hóa tức là bất trinh,
đã bất trinh tất không thường được nên nói rằng: Trời đất cũng phải trinh thời mới hằng được.
Lị hữu du vãng, chung tắc hữu thỉ dã.
Đây lại nói thâm nghĩa chữ Hằng cho đủ cả lẽ thường, lẽ biến. Hằng vẫn là lâu dài, nhưng sở dĩ lâu

dài tất phải có thể có dụng. Thể vẫn thường mà dụng thời có biến. Ở trong một thì gian lâu dài, cái lẽ
tuần hoàn thiên chuyển, không một phút nào dừng, biến động đã đến lúc cuối cùng thời lại xoay lại như
lúc bắt đầu. Mỗi một lần chung thời lại có một lần thỉ. Theo như Dịch lí cùng thời biến, biến thời
thông, thông thời lâu dài, như thế mới hằng được.
Hằng chẳng phải là chết trơ một bề đâu. Tỉ như: Việc nhà làm ruộng, hạ mộng là thỉ, trung gian cày
bừa cấy gặt, tới khi gặt tức là chung. Gặt xong rồi thời lại có lúa mà hạ mộng. Vì có được lúa mới có
mộng mà hạ lại. Đó là chung tắc hữu thỉ.
Vì chung thỉ tuần hoàn mãi mãi, mới nên được Hằng. Một việc như thế, muốn việc cũng như thế. Thể
vẫn thường mà dụng thời biến luôn luôn.
Trên kia đã nói
cửu ở kì đạo, đây lại nói: Chung tắc hữu thỉ, động tĩnh tương sinh, nhân quả tương
tục,
có như thế, mới là Dịch lí.
Nhật nguyệt đắc thiên nhi năng cửu chiếu, tứ thì biến hóa nhi năng cửu thành, thánh nhân cửu ư kì
đạo nhi thiên hạ hóa thành. Quan kì sở hằng nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ.
Đây lại nói cho đến cùng cực đạo Hằng, mặt trời mặt trăng cứ thuận theo đường lối thiên nhiên mà hay
soi dọi không bao giờ cùng. Bốn mùa hay biến hóa luôn luôn, đông thay sang xuân, xuân thay sang hạ,
hạ thay sang thu, thu thay sang đông; rét nắng, ấm lạnh, khí hậu trao đổi cho nhau, mới hay nên được
công việc hàng năm mà không bao giờ cùng. Đó là theo về phần thiên đạo.
Thánh nhân cũng in như nhật nguyệt tứ thì mà làm đạo hằng cửu, tác dụng vẫn tùy thì biến đổi mà bản
thể vẫn không bao giờ trái lầm, thiên hạ nhờ đó mà làm nên văn hóa tốt.
Xem ở nhật nguyệt tứ thì sở dĩ thường, đạo thánh nhân sở dĩ lâu mà chân tình của thiên địa vạn vật có
thể thấy được.
PHỤ CHÚ: Chữ Dịch với chữ Hằng có nghĩa tương đối. Nếu tuyệt đối Dịch thì không làm sao ra
Hằng, nếu tuyệt đối Hằng, cũng không làm sao ra Dịch được. Vũ trụ cổ kim không một giống gì là tuyệt
đối. Tỉ như ban ngày sáng, tất nhiên có ban đêm tối; nếu tuyệt đối sáng hay tuyệt đối tốt, tất không
thành được thiên tượng ở không gian. Mùa hạ nóng, tất nhiên có mùa đông lạnh; nếu tuyệt đối nóng hay
tuyệt đối lạnh, tất không thành được tuế công ở thì gian.
Nhỏ từ thân một người, khi ngủ có khi thức, khi sống có khi chết; lớn hơn đến xã hội, thế giới, loạn lâu
ngày phải trị, thịnh lâu ngày phải suy, cũng chỉ là tương đối thay đổi nhau, không thấy một giống gì là
tuyệt đối. Vậy nên trong đạo Dịch, vì Hằng mà phải có Dịch, cũng nhân Dịch mới làm nên Hằng.
Thánh nhân sợ người ta câu nệ ở chữ Hằng mà quên mất diệu lí ở chữ Dịch.
Vậy nên, Soán Truyện phải lấy tứ thì biến hóa mà thuyết minh đạo Hằng. Học giả thể nhận cho ra đạo
lí ấy thời biết Dịch với Hằng là tương thành mà không phải tương phản.


ĐẠI TƯỢNG TRUYỆN


Tượng viết: Lôi phong Hằng, quân tử dĩ lập bất dịch phương.
象曰: 雷風恆, 君子以立不易方.
Theo ở tượng quẻ, Chấn là Lôi, Tốn là Phong, sấm gió đồng thì phát hiện, thành ra quẻ Hằng.
Quân tử xem tượng ấy thời biết rằng: Công việc trời đất tuy có lúc biến động mà đạo trời đất thời vạn
cổ y nhiên. Quân tử bắt chước thế thời cuộc đời bể đâu, tình người nóng lạnh, có thay đổi mặc dầu mà
đạo tự lập của quân tử thời không bao giờ thay đổi.

Lập bất dịch phương, ấy tức là Hằng của quân tử.
PHỤ CHÚ: Mạnh Tử có nói rằng: Khổng Tử thánh chi thì giả dã 孔子, 聖之時者, nghĩa là: Thì nên
ra mà ra, thì nên ẩn mà ẩn, thì nên lâu mà lâu, thì nên chóng mà chóng. Theo như nghĩa chữ thì đó, so
với câu “lập bất dịch phương” chẳng mâu thuẫn hay sao? Không phải đâu, “thánh chi thì” với “lập bất
dịch phương” chỉ là một gốc mà không phải hai rễ. Thánh chi thì là về phần tác dụng, lập bất dịch
phương là về phần nguyên tắc.
Tỉ như: Tấm gương sáng treo ở một chốn, cái bản thể quang minh không bao giờ thay đổi, chẳng phải
là lập bất dịch phương hay sao?
Đến gặp lấy sự vật gì soi dọi vào, mới hiện ra tác dụng của mặt gương, tùy tròn mà hiện ra tròn, tùy
vuông mà hiện ra vuông, tùy đẹp mà hiện ra đẹp, tùy xấu mà hiện ra xấu, chẳng phải là thì nghĩa hay
sao?
Chúng ta đọc Dịch cần nhất là phải biết biến hóa.Ông Tô Đông Pha có câu rằng: Cứ xem ở giữa chốn
biến, thời tuy trời đất e cũng không được một giây phút, nhưng xem ở chốn bất biến, thời người với ta
thảy không bao giờ hết.
Tự kì biến giả nhi quan chi, tắc thiên địa tằng bất năng dĩ nhất thuấn; tự kì bất biến giả nhi quan
chi, tắc vật dữ ngã giai vô tận hĩ
.
自其變者而觀之則天地曾不能以一瞬, 自其不變者而觀之則物與我無盡矣.


HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN


1. Sơ Lục: Tuấn hằng, trinh hung, vô du lị
初六: 浚恆, 貞凶, 无攸利.
Sơ Lục ở dưới hết quẻ Hằng mà làm chính ứng với hào Tứ, đó là lẽ thường, nhưng người ta ở đời tất
phải biết thường mà lại biết biến. Địa vị Sơ quá thấp mà địa vị Tứ quá cao. Huống gì Tứ là dương
cương, chỉ trông lên mà không ngó xuống, trung gian lại bị hào Nhị, hào Tam gián cách. Sơ đương lúc
bởi mới, lại phận thấp hèn mà toan yêu cầu với Tứ bằng một cách quá thân mật. Thế là nệ cách thường
quá chừng sâu nên nói rằng:
Tuấn hằng. Tuấn nghĩa là sâu; tuấn hằng nghĩa là quá sâu ư nệ thường,
nệ thường mà không biết biến, té ra thành một người ngu. Nếu cứ kiên cố giữ một cách ấy, tất mắc lấy
hung nên nói rằng:
Trinh hung. Chữ trinh ở đây, chỉ có nghĩa trinh là bền chặt, không phải nghĩa trinh
là chính. Bền chặt bằng một cách tuấn hằng thời chẳng những một lúc xấu mà thôi mà lại không làm gì
được thuận lợi cả. Người xưa có câu rằng:
Giao thiển nhi ngôn thâm, nhục chi đạo dã 交浅淺而言
深辱之道也
, nghĩa là giao tình còn đương cạn mà cầu thỉnh quá chừng sâu, chỉ là cái đường lốì đi tới
nhục vậy. Câu này cũng tương tự như hào Sơ này.
Tượng viết: Tuấn hằng nhi hung, thỉ cầu thâm dã.
象曰: 浚恆之凶, 始求深也.
Có hung họa vì tuấn hằng mà nảy ra, bởi vì lúc đầu mới giao mà cầu vọng đã quá thâm thời thế nào
cũng thất bại vậy.
PHỤ CHÚ: Đời Hán như Giả Nghị mới bước chân lên triều mà toan đuổi các công thần như Giáng
Quán; đời Đường như ông Lưu Bồn mới đỗ Tiến sĩ mà vội xin với vua Đường toan đánh đổ Phiên trấn,

chính là đúng với câu: Tuấn hằng chi hung, thỉ cầu thâm dã.
2. Cửu Nhị: Hối vong.
九二: 悔亡.
Hào Cửu ở vị Nhị là dương cương ở âm vị, trái mất lẽ thường. Theo như nghĩa Hằng vẫn nên hữu hối,
nhưng vì Nhị có đức trung ứng với Ngũ, mà Ngũ cũng có đức trung. Lấy đức trung mà ứng với đức
trung, thế là hay hằng cửu ở đạo trung thời tất không việc gì phải ăn năn, nên Hào từ chỉ nói rằng:
Hối
vong.
Tượng viết: Cửu Nhị, hối vong, năng cửu trung dã.
象曰: 九二悔亡, 能久中也.
Cửu Nhị sở dĩ được hối vong, bởi vì hay hằng cửu ở đạo trung mà thôi.
PHỤ CHÚ: Dịch lí rất chú trọng chữ trung mà Hằng là rất quý trọng chữ trung lắm. Bởi vì Hằng là
thường lâu, nếu bất trung thời không thường lâu được.
Vô luận làm việc gì, nếu thái quá hoặc bất cập, tất không được lâu dài, duy có đắc trung mới được lâu
dài, nên Tượng Truyện lấy ba chữ “Năng cửu trung” để xuất ở Cửu Nhị, thời biết rằng những hào bất
trung, tất thảy là bất cửu.
3. Cửu Tam: Bất hằng kì đức, hoặc thừa chi tu, trinh, lẫn.
九三: 不恆其德, 或承之羞, 貞吝.
Dương hào ở vào dương vị vẫn là đắc chính, nếu thường giữ lấy đức chính của mình thời không gì đến
nỗi xấu.
Nhưng Tam này thời trái hẳn, quá cương bất trung mà lại toan len lỏi vào đòi với Thượng Lục, đó là
bỏ đức cương chính của mình mà theo đòi với bạn âm nhu của người, nên hằng mà không biết hằng, tự
thủ vẫn đã không xong mà e có lẽ người khinh bỉ tới nơi, nên nói rằng:
Bất hằng kì đức, hoặc thừa chi
tu.
Tu
, nghĩa là xấu hổ; thừa, nghĩa là bưng đưa tới; hoặc là nghi từ, có ý là thờ ơ. Hoặc thừa chi tu
nghĩa là e có người dâng đưa việc xấu hổ cho Tam.
Tư cách một người như Cửu Tam thời dầu có chính chăng nữa, cũng đáng xấu hổ mà thôi. Bởi vì chính
mà bất hằng thế là bỏ mất chính, nên nói rằng
Trinh lẫn.
Trinh có bao giờ lẫn đâu, vì trinh mà bất hằng mỗi lẫn.
Tượng viết: Bất hằng kì đức, vô sở dung dã.
象曰: 不恆其德, 無所容也.
Người đã bất hằng kì đức, rày trắng mai đen, sớm nóng, tối lạnh, hạng người ấy còn chốn nào dụng
thân được nữa rư?
PHỤ CHÚ: Lời hào này nên tham khảo với lời Đức Khổng trong Luận Ngữ: Nhân nhi vô hằng, bất
khả dĩ tác vu y
人而無恆, 不可以作巫醫. Nghĩa là: Người mà đã không đức thường thời đầu làm một

nghề thầy đồng bóng, thầy thuốc, cũng không thể làm mà nuôi thân được, đó thiệt là vô sở dung.
4. Cửu Tứ: Điền vô cầm.
九四: 田無禽.
Hào dương ở vị âm là xử trái mất bản vị của mình mà còn toan lân ở chốn đó, dầu có lân chăng nữa
chắc cũng chẳng nên việc gì, tượng như người đi săn mà không được cầm thú, chỉ hao tổn tâm lực mà
không thành công.
Tượng viết: Cửu phi kì vị, yên đắc cầm dã.
象曰: 久非其位, 安得禽也.
Hễ người ở đời, tất phải xử cho đúng bản vị của mình, dương cương mà ở vị âm nhu Thế là
cửu phi kì
vị
đó rồi làm sao mà còn được cầm nữa rư?
Chữ
yên cũng như nghĩa chữ hà yên đắc, nghĩa là thế nào được. Chữ cầm chỉ thí dụ bằng có thành
công.
PHỤ CHÚ: Cửu Nhị với Cửu Tứ cùng là xử phi kì vị cả, nhưng Nhị đắc trung thời được tốt, Tứ bất
trung thời kết quả xấu; mới biết trung thời mới hằng được.
5. Lục Ngũ: Hằng kì đức, trinh, phụ nhân, cát, phu tử, hung.
六五: 恆其德, , 婦人吉, 夫子凶.
Lục Ngũ ứng với Cửu Nhị, bản thân là âm nhu cư trung mà ứng với Cửu Nhị dương cương cũng cư
trung, nên cử một mực thuận tòng từ đầu đến cuối. Thế là có đức lâu dài mà được trinh chính.
Tuy nhiên, trong đạo làm người, tất cốt trước có đức dương cương mà âm nhu chỉ là phụ trợ mà thôi.
Nếu một mực âm nhu mà chỉ thuận tòng với dương cương, theo về lối thường ví dầu đàn bà như thế
thời cũng được cát. Nhược bằng trượng phu mà chỉ âm nhu thuận tòng, hằng cửu bằng một cách phụ
nhân thời là xấu lắm.
Hào này ở về quẻ khác thời không lấy gì làm xấu hổ, nhưng ở về thời đại Hằng, hằng nhu thời kém về
phần chấn tác, hằng thuận thời không phải là tài hữu vi. Vì vậy, Hào từ đã nói
hằng kì đức, trinh
lại nói
phu tử hung. Đó lại là một nghĩa tùy Thì trong Dịch.
Tượng viết: Phụ nhân trinh cát, tòng nhất nhi chung dã, phu tử chế nghĩa, tòng phụ hung dã.
象曰: 婦人吉, 從一而终也, 夫子制義, 從婦凶也.
Hễ đạo người dàn bà thời chỉ theo một người chồng cho đến cuối cùng nên lấy chữ trinh làm cát. Còn
như người đàn ông thời tự mình chế ra nghĩa, nghĩa nên theo thời theo, nghĩa không nên theo thời bỏ.
Nếu cứ thuận tòng như phụ nhân thời hung.
PHỤ CHÚ: Tượng Truyện ở đây phát minh thêm hai chữ chế nghĩa rất có ý vị.
Phụ nhân thời bảo cho phải tòng nhất chi chung, bởi vì những hạng người phụ nữ, phần nhiều là tri thức
non, nghị lực kém, không thể nào chế ra được nghĩa, thời âu là tòng nhất nhi chung cũng đã là người tốt
rồi. Nếu tự mình đã là trượng phu thời nên phải tri thức cho cao, biến thông cho hoạt, tùy thì mà chế

nên nghĩa. Tỉ như: Nghĩa nên quân chủ thời ta thờ vua, nghĩa nên dân chủ thời ta thờ dân, nghĩa nên thờ
quốc gia thời ta thờ quốc gia, nghĩa nên thờ xã hội thời ta thờ xã hội.
Chế ra nghĩa cho hợp với thì, há phải tòng nhất nhi chung mà thôi đâu. Đức Khổng Tử có câu:
Quân tử
chi ư thiên hạ dã, vô thích dã, vô mịch dã, nghĩa chi dữ tỷ
君子之於天下也, 無適也, 無莫也, 義之
與比.
Quân tử chí ở việc trong thiên hạ, không cái gì là nhất định phải mà theo hoài, không cái gì là
nhất định trái mà cự hoài, chỉ duy cho đúng với thì nghĩa thời ta làm theo.
Mạnh Tử cũng có câu rằng:
Đại nhân giả, ngôn bất tất tín, hạnh bất tất quả; duy nghĩa sở tại大人者, 言不必信, 行不必果, 惟
義所在.
Hễ những người có tài đức lớn mà gọi bằng đại nhân, chẳng phải nói điều gì cũng nhất định phải
tin, chẳng phải làm việc gì cũng nhất định quả quyết, chỉ duy cân nhắc ở nơi nghĩa, nghĩa ở chốn
nào thời ta theo đó mà nói, mà làm.
Mấy câu nói ấy, rất hợp với lối chế nghĩa; nghĩa chữ chế đây có ý như nghĩa chế tạo, chế tác; tục ta
thường nói chế canh hay rượu, v.v. cũng có ý như thế.
Nhưng mà hạng người chế nghĩa, tất phải tri thức cho cao, học vấn cho giàu, lịch duyệt cho sâu; nếu
không phải bậc thánh nhân chưa chắc đã chế được nghĩa. Vậy nên học giả nhận cho kĩ.
6. Thượng Lục: Chấn hằng, hung.
上九: 掁恆, .
Chấn, nghĩa là động rất mau, có ý là láu táu, lau chau.
Thượng Lục ở cuối cùng thể Chấn là động chi cực, lại ở cuối cùng thì Hầng là đã đến buổi bất thường;
ở vào buổi bất thường mà lại sẵn có tính động cực, chỉ dùng bằng cách lắc xắc, lau chau, Thượng Cửu
như thế mà không chịu yên. Lẽ trong thiên hạ khi nên động mà động, khi nên tĩnh mà tĩnh, có lẽ gì
Thượng Cửu bằng một cách táo động mà khỏi tai họa được rư.
Tượng viết: Chấn hằng tại thượng, đại vô công dã.
象曰: 振恆在上, 大無功也.
Ở trên hết quẻ, chính là hạng người ở trên, đã ở trên người mà chỉ thường táo động, tất đến nỗi thất bại
hung vậy.
Hễ việc trong thiên hạ, thuận thì, tòng lí mà làm thời việc gì cũng xong. Trái lại, nghịch thì, bội lí mà
làm bướng, động càn thời chỉ là làm tai họa cho thiên hạ.
Thiên hạ bản vô sự, dung nhân tự nhiễu chi 天下本無事庸人自擾之chính là lẽ ấy.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!