CHU DỊCH HẠ KINH – 31. QUẺ TRẠCH SƠN HÀM

CHU DỊCH HẠ KINH

31. QUẺ TRẠCH SƠN HÀM


Đoái trên; Cấn dưới


Quẻ này là quẻ Trạch Sơn Hàm.
Cấn hạ cũng là Nội Cấn, Đoài thượng cũng là Ngoại Đoài. Đoài trạch, Cấn sơn, nên tên quẻ đọc bằng
Trạch Sơn Hàm.


TỰ QUÁI


Tự quái: Hữu thiên địa nhiên hậu hữu vạn vật, hữu vạn vật nhiên hậu hữu nam nữ, hữu nam nữ nhiên
hậu hữu phu phụ, hữu phu phụ nhiên hậu hữu phụ tử, hữu phụ tử nhiên hậu hữu quân thần, hữu quân thần
nhiên hậu hữu thượng hạ, hữu thượng hạ nhiên hậu lễ nghĩa hữu sở thố.
序卦: 有天地然後有萬物, 有萬物然後有男女, 有男女然後有夫婦, 有夫婦然後有父子, 有父子
然後有君臣, 有君臣然後有上下, 有上下然後有禮義有所錯.
Ý sắp đặt thứ tự quẻ. Nguyên đầu tiên có trời đất, vậy sau mới có vạn vật; đã có vạn vật, vậy sau mới
có trai gái; đã có trai gái, vậy sau mới có âm dương giao kết mà thành phu phụ; đã có phu phụ, vậy sau
mới có công sinh dục mà thành cha con; đã có cha con, vậy sau mới có trật tự ở loài người, mới nảy ra
quân thần; đã có quân thần, vậy sau mới có chế độ mà chia làm thượng hạ; đã có thượng hạ, vậy sau
mới có chốn mà sắp đặt nên lễ nghĩa.
Thiên địa là nguyên tổ của vạn vật, phu phụ là nguyên thỉ của loài người. Sở dĩ Thượng Kinh đặt quẻ
Càn, quẻ Khôn ở đầu. Hạ Kinh đặt quẻ Hàm, quẻ Hằng ở đầu mà sau quẻ Hàm tiếp lấy quẻ Hằng là ý
nghĩa như thế. Thiên địa là nhị thể nên chia ra làm hai quẻ, để hình dung cái đạo của trời đất, trai gái
thời hợp nhau mà thành phu phụ, nên quẻ
Hàm với quẻ Hằng thảy là hai thể hợp làm một quẻ, để chỉ
rõ cái nghĩa của phu phụ.
(
Hàm, nghĩa là cảm).
Quẻ này
Đoài ở trên, Cấn ở dưới, Đoài là thiếu nữ, Cấn là thiếu nam, cảm với nhau rất thân thiết,
không chi bằng thiếu nam, thiếu nữ. Vậy nên, lấy ý nhị thiếu cảm nhau mà đặt tên quẻ bằng
Hàm.
PHỤ CHÚ: Quẻ Hàm với quẻ Hằng thảy là quẻ nhất nam nhất nữ, nhưng quẻ Hàm thời thiếu nam phải
hạ ở thiếu nữ. Vì bắt đầu nam nữ tương cảm có như thế mới thành phu phụ. Nếu trái lại, bắt thiếu nữ
cầu với thiếu nam mà nữ phải hạ nam, thế là nữ bất trinh mà nam cũng không cảm làm sao nên được
Hàm. Đến như quẻ Hằng thời sau khi phu phụ đã thành rồi nghĩa phải vợ thừa thuận chồng nên trưởng
nam ở trên, trưởng nữ ở dưới. Nếu trái lại, trưởng nữ trên, trưởng nam dưới là trái nghĩa phu phụ thời
làm sao hằng cửu được. Ý sắp quẻ, với đặt tên quẻ của thánh nhân là lí do như thế. Thượng Kinh thủ

Càn, Khôn là nói chung nguyên lí của toàn vũ trụ; Hạ Kinh thủ Hàm, Hằng là bàn riêng về phần nhân
sự, nhưng nếu không nhân sự thời lấy gì mà thành vũ trụ, bốn quẻ đặt đầu hai Kinh, rất có ý nghĩa.


SOÁN TỪ


Hàm, hanh, lị, trinh, thú nữ, cát.
咸亨, 利貞, 取女吉.
Hàm, nghĩa là cảm, lại một nghĩa là tất thảy. Vật tình tương cảm không gì thân thiết hơn nam nữ, quẻ
này thiếu nam thiếu nữ kháp nhau mà lại nam hạ nữ, chính là cảm tình rất thân mật.
Nếu suy ra đến triều đình, quốc gia, xã hội, cho đến khắp loài người mà tới đâu cũng cảm ứng thân
thiết với nhau như thế thời tất nhiên thảy được hanh thông. Nên nói rằng:
Hàm hanh (Hàm hanh: đã
cảm tất nhiên thông).
Tuy nhiên, loài người vẫn nhờ có cảm nhau mới có thể ăn ở với nhau được mà thành ra xã hội, nhưng
mà động cơ cảm có nguyên nhân vì chính, có nguyên nhân vì tà; nguyên nhân vì chính thời cảm mà đằm
thắm lâu dài, nguyên nhân vì tà thời cảm đã không ra gì mà kết quả tất xấu.
Tỉ như: Trai gái mà cảm nhau bằng cách tà dâm, tất nhiên trước nồng sau đạm; trên dưới mà cảm nhau
bằng cách nịnh hót giả dối, tất nhiên hữu thỉ vô chung.
Bởi vì: Tương cảm đã bất chính, có bao giờ lợi đâu, nên Quái từ lại răn cho rằng:
lợi trinh. Lợi trinh,
nghĩa là: Hễ cảm thời thông, nhưng tất phải cảm cho chính, nếu biết theo đạo ấy, lấy tình cảm nhau mà
tương hợp, lấy đạo chính mà tương giao, theo lối ấy mà cưới con gái làm vợ thời chắc được tốt lành
.
PHỤ CHÚ: Hàm hanh, lị trinh là nói chung đạo lí tương cảm trong thiên hạ. Thú nữ, cát là nói riêng
bằng một việc vợ chồng, nhưng ý nghĩa vẫn dếnh với chữ trinh. Trái lại, thú nữ mà bất trinh thời làm
gì được cát.
Nguyên chữ Hàm, nghĩa là cảm, sao không đặt tên quẻ bằng cảm mà đặt tên bằng Hàm?
Bởi vì, Cảm gốc ở công lí mà không phải cảm bằng tư tâm. Nếu lấy tư tâm mà cảm thời ứng lại cũng
chỉ là tư tâm, không lấy gì nên được đạo cảm. Chữ cảm vì có chữ tâm ở dưới nên không lấy chữ cảm
đặt tên quẻ mà đặt bằng Hàm, vì chữ Hàm là vô tâm, duy vô tâm mới là chân cảm.


SOÁN TRUYỆN


Soán viết: Hàm, cảm dã. Nhu thượng nhi cương hạ, nhị khí cảm ứng dĩ tương dữ, chỉ nhi duyệt, nam hạ
nữ, thị dĩ hanh, lị, trinh, thú nữ cát dã. Thiên địa cảm nhi vạn vật hóa sinh, thánh nhân cảm nhân tâm
nhi thiên hạ hòa bình. Quan kì sở cảm nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ.
彖曰: 咸感也. 柔尚而剛下, 二氣感應以相與, 止而說, 男下女, 是以亨利貞, 取女吉也. 天地感而
萬物化生
, 聖人感人心而天下和平, 觀其所感而天地萬物之情可見矣.
Soán viết: Hàm, cảm dã.
Hàm nghĩa là cảm, nhưng trước khi cảm thời chỉ là Hàm, nghĩa là hai bên thảy chỉ tự nhiên mà tương
hợp. Vì tự nhiên tương hợp nên cảm duyệt càng sâu. Hàm là tạo nhân mà cảm là kết quả. Xem chữ
Hàm không có chữ tâm mà chữ cảm thời thêm vào chữ tâm ở dưới thì sẽ biết.

Nhu thượng nhi cương hạ, nhị khí cảm ứng dĩ tương dữ, chỉ nhi duyệt, nam hạ nữ, thị dĩ hanh, lị,
trinh, thú nữ cát dã.
Theo về thể quẻ thời hào nhu biến được cương mà lên làm Đoài, hào cương biến được nhu mà xuống
làm Cấn, Cấn sơn, Đoài trạch, hai khí âm dương cảm ứng mà hòa hợp với nhau.
Theo về đức quẻ thời Cấn có tính chỉ, Đoài có tính duyệt, yên lặng mà hòa duyệt.
Theo về tượng quẻ thời Cấn tượng là thiếu nam, Đoài tượng là thiếu nữ, nam trước cầu nữ mà chịu ti
hạ với nữ, góp mấy câu trên đây, rặt hợp với đạo tương cảm. Vậy nên nói rằng:
Hanh, lị trinh, thú nữ,
cát.
PHỤ CHÚ: Chỉ nhi duyệt là thích chữ trinh ở Quái từ. Hễ thường tình đã duyệt thời hay võng động,
động mà duyệt thời cách duyệt hay sai, duy chỉ mà duyệt thời cách duyệt mới đắc chính.
Sách
Luận Ngữ có câu: Nhất nhật khắc kỉ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên 一日克己復禮, 天下歸仁
, nghĩa là: Mình lo trừng trị tư tâm mình, hoàn phục được thiên lí nên thiên hạ tự nhiên quy hướng
vào đức nhân của mình. Đó là
chỉ nhi duyệt (Chữ chỉ có ý như chữ tính).
Thiên địa cảm nhi vạn vật hóa sinh, thánh nhân cảm nhân tâm nhi thiên hạ hòa bình. Quan kì sở
cảm nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ.
Đây nói cho rộng hết lí cảm ứng, cảm rất to không gì bằng trời đất, trời lấy khí dương mà hạ cảm với
đất, đất lấy khí âm mà thượng cảm với trời, âm dương giao cảm với nhau mà vạn vật thảy được hóa
sinh.
Chữ
hóa thuộc về phẩn khí, chủ sinh thuộc về phần hình. Tỉ như con tước hóa ra được con cáp, cỏ hủ
hóa ra được con đóm, v.v. đó là hóa. Có giống sinh bằng thai, có giống sinh bằng trứng, v.v. đó là
sinh.
Đạo cảm của thánh nhân, cũng in như đạo cảm của trời đất, thánh nhân khuếch sung đức chí thành, phát
triển đạo đại công, cảm động được lòng ức triệu người mà thiên hạ được đến hòa bình.
Xem ở nơi những cách sở cảm mà chân tình của thiên địa vạn vật có thể thấy được.
Chữ
tình gốc ở chữ tính mà ra, nhưng tính thời tịch nhiên bất động thuộc về phần thể, tình thời cảm
nhi toại thông
thuộc về phần dụng, nên tính thời khó thấy mà tình thời có thể thấy được. Tình thiên địa
cốt ở nơi sinh vạn vật, mà tình vạn vật cốt ở nơi ứng với thiên địa. Tỉ như: Gặp Xuân, Hạ thời vật gì
cùng sinh trưởng, gặp Thu, Đông thời vật gì cũng thu tàng. Đó chính là tình cảm ứng của thiên địa, vạn
vật. Thấy được tình thiên địa thời thấy được tình thánh nhân nên không cần nói đến thánh nhân chi tình.
Thánh nhân với thiên hạ cũng như thiên địa với vạn vật. Duy người có triết học thời mới nhận ra được.
Tượng viết: Sơn thượng hữu trạch, Hàm. Quân tử, dĩ hư thụ nhân.
象曰: 山上有澤, . 君子以虛受人.
Tượng Truyện không theo ý nghĩa Quái từ, không lấy bằng nghĩa nam nữ tương cảm mà chỉ lấy bằng
tượng quẻ. Cấn là sơn mà ở dưới, Đoài là trạch mà ở trên, tượng là ở trên núi có cái chằm nước, vì
sơn có vững thủng xuống mà đựng được trạch, trạch vì trong lòng rỗng không mới đựng được nước.
Quân tử xem tượng biết được rằng: Có rỗng không trong lòng mình, chẳng cho giống gì tiên nhập vi
chủ mới dung thụ được người, nên lấy một cách hư trung để thụ nhận.
Hư trung nghĩa là không rỗng trong lòng, tức là chữ vô ngã mà cũng là vô tư. Hễ trong lòng mình mà

trước sẵn có tư ý, hoặc lợi dục riêng, thời té ra trung mãn. Trung mãn nghĩa là trong lòng chét đặc,
còn dung thụ được gì nữa, nên quân tử dĩ hư thụ nhân.
PHỤ CHÚ: Tâm thuật người ta, theo về bản thể thời tất phải trung thực, trung thực, nghĩa là trong chất
chứa lòng chí thành, nếu bất thành thời vô vật nên cần phải trung thực.
Theo về cách ứng dụng thời lại phải trung hư. Trung hư nghĩa là không rỗng trong lòng, chớ có tư ý vật
dục vào chiếm trước bộ phận trung tâm mình. Nếu tự ý vật dục đã lọt trước vào trung tâm mình thời
thành ra trung mãn, tâm người ta đã trung mãn rồi, tất không dung nạp được đạo lí của thiên hạ cổ kim
nên lại cần phải trung hư.
Chúng ta nghiên cứu tâm lí học, nên phải đủ cả hai phương diện ấy. Vậy nên học Dịch lại phải xem quẻ
Đại Súc nói chữ “đốc thực”, quẻ Hàm nói chữ “hư”, hai nghĩa đó vẫn bổ túc cho nhau.


HÀO TỪ VÀ TIỂU TƯỢNG TRUYỆN


1. Sơ Lục: Hàm kì mẫu.
初六: 咸其拇.
Hào này ở dưới hết Hạ Quái, tượng như ngón chân cái ở dưới hết thân người mà lại thượng ứng với
hào Tứ, nghĩa là dưới thấp mà cảm ứng với trên xa, sức cảm còn hèn mọn, chưa lấy gì cảm động được
lòng người. Tượng như chỉ động một ngón chân cái thời chưa động được mấy. Nên nói rằng:
Hàm kì
mẫu
(Mẫu: ngón chân cái).
PHỤ CHÚ: Hào từ với Quái từ thủ nghĩa khác nhau, Hào từ thủ tượng bằng thân người. Kể tự dưới kể
lên thời địa vị Sơ chính đứng với mẫu. Lên nữa thời Nhị là bắp chân, Tam là trái vế, đến Tứ thời đúng
ở lòng bụng, Ngũ là trên lưng, Thượng là miệng mép.
Hễ lên từ nào thời sức động mạnh từ ấy, cảm mà chuyên bằng động thời cảm không hay nên sáu hào cốt
ở tĩnh, tĩnh mà cảm được người thời cảm mới hữu lực.
Sơ Lục
hàm kì mẫu là có hơi động mà chưa thiệt động nên không nói cát hung.
Tượng viết: Hàm kì mẫu, chí tại ngoại dã.
象曰: 咸其拇, 志在外也.
Hào từ nói rằng hàm kì mẫu là Sơ Lục chí tại ứng với Cửu Tứ vậy. Ngoại là chỉ vào hào Tứ ở Ngoại
Quái. Sơ tuy có chí tại ngoại mà chưa thiệt động hung nên nói rằng:
Hàm kì mẫu.
2. Lục Nhị: Hàm kì phì, hung, cư cát.
六二: 咸其腓, , 居吉.
Phì
là trái bắp chân, hễ sắp sửa đi thời nó động trước, tượng như một người có tính táo động.
Lục Nhị sở xử chính đúng với chốn phì, Nhị lại thượng ứng với Ngũ nên thánh nhân có lời răn rằng:
Nhị tuy muốn cảm ứng với Ngũ nhưng Nhị phải biết: Nhị là người dưới, Ngũ là người trên; người
dưới muốn cảm được người trên tất mình phải trước tự trọng lấy mình, im lặng mà chờ người trên cầu
mình, mới có lẽ hay. Nếu anh gấp bốn tẩu, nóng lên cầu Ngũ ứng với mình, té ra cách cảm bằng bắp
chân, chân chưa đi mà bắp đã động, e đến nỗi xấu.

Nhưng vì Nhị là người trung chính nên thánh nhân lại khuyên cho rằng: Thấy người sang bắt quàng làm
họ, Nhị không đến nỗi thế, Nhị cứ tự trọng lấy thân, ngồi lặng an ở chờ Ngũ tới cầu minh thời cát. Nói
hàm kì phì, hung là răn cho Nhị không nên động. Lại nói cư cát là khuyên cho Nhị nên giữ cách tĩnh.
Tượng viết: Tuy hung, cư cát, thuận bất hạì dã.
象曰, 雖凶, 居吉, 順不害也.
Lục Nhị tuy hung, nhưng biết cư tĩnh thời được cát là vì thuận theo đạo lí thời không tai hại gì vậy.
3. Cửu Tam: Hàm kì cổ, chấp kì tùy, vãng lẫn.
九三: 咸其股, 執其隨, 往吝.
Cổ là trái vế ở trên đầu gối là một giống không đủ sức tự động, chân có động thời mới động theo. Cửu
Tam xử ở địa vị trên Nội Quái, ví vào thân người thời tượng như trái vế, vì có tính cương táo hí động,
thấy người động mà động theo. Ở trên Tam có hào Tứ, Tứ động thời Tam động theo, in như cái vế theo
chân mà động đến nỗi mất tự do của mình, nên Hào từ răn rằng:
Hàm kì cổ, chấp kì tùy, vãng lẫn.
Nghĩa là: Cảm người mà chỉ dùng bằng một cách như cái vế, chỉ cầm giữ lấy cách theo người, cứ thế
mà đi hoài, tất nhiên mắc lấy xấu hồ.
Tượng viết: Hàm kì cổ, diệc bất xử dã, chí tại tùy nhân, sở chấp hạ dã.
象曰: 咸其股, 亦不處也, 志在隨人, 所執下也.
Hàm kì cổ là hào Tứ bất xử thời hào Tam cũng bất xử vậy (
Bất xử: không an ở).
Nhưng hào Tam há phải có sức tự động đâu, chỉ là chí ở theo người, thấy người động mà động theo,
cách trì thủ của Tam thiệt là ti hạ lắm vậy.
4. Cửu Tứ: Trinh cát, hối vong, đồng đồng vãng lai, bằng tòng nhĩ tư.
九四: 貞吉, 悔亡, 憧憧往來, 朋從爾思,
Toàn quẻ Hàm sáu hào thảy thủ tượng bằng thân người. Hào Sơ là mẫu; hào Nhị là phì; hào Tam là cổ.
Đến hào Tứ này sơ xử dưới thượng thể, vừa đoạn giữa nhân thân, chính đúng vào bộ phận tâm mà tác
dụng của tâm là cốt biết hay nghĩ, vả lại, hào Tứ tuy có tính dương cương mà lại ở vào thể Đoài thời
có tính hòa duyệt, chính là một hạng người nặng vì cảm tình. Vậy nên, Hào từ không thủ tượng bằng
hình thể mà chuyên nói về tinh thần.
Trinh, cát, hối vong nghĩa là đạo cảm người có trinh nhất mới
được cát mà mất hết những việc đáng ăn năn.
Chủ trinh ở đây, nghĩa là chí công vô tư, hư trung vô ngã, cảm người bằng một cách tự nhiên. Cứ lấy lẽ
đại công chí chính mà ứng phó với đời, không
cần cầu người ứng mà người tự nhiên ứng vào mình,
như thế mới là trinh cát.
Trái lại, một phương diện mình lo cảm người mà một phương diện thời lại mong người ứng lại với
mình. Tỉ như câu trong
Kinh Thi nói: Đầu ngã dĩ đào báo chi dĩ lí, thành ra mình đeo đào cho người
mà mong người đeo lí giả lại cho mình. Thế là cảm đã hữu tâm mà ứng cũng xuất ở hữu tâm, chỉ là
đồng đồng vãng lai mà thôi. Đồng đồng có ý như săn săn sóc sóc, hoặc mình vãng mà mong người lai,
hoặc thấy người vãng mà mình mới lai, cảm với nhau bằng một cách dụng tâm cố ý như thế là gọi bằng
đồng đồng vãng lai.

Hễ đã đồng đồng vãng lai thời dầu có kẻ lai, cũng chẳng qua những người mình có vãng.
Nhưng bằng theo mấy loại đó, phạm vi không gì rộng, đoàn thể không gì to, xung xăng qua lại, cũng
chẳng qua những người mà bụng mày nghĩ tới nơi mà thôi, như thế là
bằng tòng nhĩ ti. Hệ tử giải thích
Hào từ này rất hay, xin thích dịch ra cho tường.
Vì có hai chữ vãng lai với một chữ ti mà diễn thành một thiên đạo lí, bao hàm vạn tượng, tóm hết lí vũ
trụ vào trong mấy câu: đó mới biết cách thánh nhân học Dịch. Xin độc giả chịu khó mà nhận xét cho
đến nơi.
Hệ tử nói rằng: Thiên hạ hà tư hà lự, thiên hạ đồng quy nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự. Thiên hạ
hà tư hà lự, nhật vãng tắc nguyệt lai, nguyệt vãng tắc nhật lai, nhật nguyệt tương thôi nhi minh
sinh yên; hàn vãng tắc thử lai, thử vãng tắc hàn lai, hàn thử tương thôi nhi tuế thành yên. Vãng
giả khuất dã, lai giả thân dã, khuất thân tương cảm nhi lị sinh yên; xích quặc chi khuất, dĩ cầu
thân dã; long xà chi trập, dĩ tồn thân dã; tinh nghĩa nhập thần, dĩ trí dụng dã, lị dụng an thân, dĩ
sùng đức dã; quá thử dĩ vãng, vị chi hoặc tri dã, cùng thần trí hóa, đức chi thịnh dã.
子曰: 天下何思慮, 天下同歸而殊途, 一致而百慮. 天下何思慮, 日往則月來, 月往則日來, 日月
相推而明生焉 寒往則暑來
, 暑往則寒來, 暑寒相推而歲成焉. 往者屈也, 來者伸也, 屈伸相感而
利生焉
. 尺蠼之屈以求伸也, 龍蛇之蟄 以存身也, 精義入神以致用也, 利用安身以崇德也, 過此
以往
, 未之或知也, 窮神知化, 德之盛也.
Đạo lí trong thiên hạ, chỉ có một lẽ cảm với ứng, cảm bằng tự nhiên mà ứng cũng tự nhiên, có cần gì
phải dụng tư tâm tư lự đâu (
Tư: ngẫm nghĩ bằng bụng riêng; lự: tính toan bằng mẹo vặt).
Kể dọc thời cổ vãng đến kim lai, kể ngang thời khắp năm châu bốn bể, thiên hạ đường đi tuy khác nhau
mà đến lúc quy kết thời in nhau, sắp đặt tuy có trăm lối mà cuối cùng chỉ tóm vào một lẽ. Như thế thời
đạo lí trong thiên hạ cần gì phải ngần nghĩ bằng bụng riêng, cần gì phải tính toan bằng mẹo vặt. Thử
xem lí cảm ứng lớn rất cùng cực đến vũ trụ, rất nhỏ đến một giống vật gì, cũng chỉ là cảm ứng đắp đổi
nhau mà thôi. Cảm là động cơ, đã có cảm tất có ứng, mà cái ứng đó quay lại làm cái cảm, tạo nhân
trước thành ra kết quả sau, mà kết quả sau, lại làm tạo nhân cho sau nữa.
Tỉ như mặt trời chạy qua cảm cho mặt trăng thời mặt trăng ứng lại với mặt trời; mặt trăng chạy qua
cảm với mặt trời thời mặt trời ứng lại cho mặt trăng.
Nhật nguyệt đôi bên nhất vãng thời nhất lai, nhất lai thời nhất vãng, xô đẩy nhau hoài mà tia sáng tự
nhiên nảy nở ra, mùa rét qua cảm được nắng thời nắng ứng lại; mùa nắng qua cảm được rét thời rét
cũng ứng lại. Nhất hàn nhất thử, vãng vãng lai lai, xô đẩy nhau hoài hoài mà công việc trong một năm
tự nhiên thành tựu.
Trên đây là cảm ứng hiệu quả ở giữa chốn hữu hình mà chỉ thuộc về phần không gian, lại xem đến phần
thì gian thời càng không phút nào nghỉ.
Tỉ như, trong một thời giờ đó nhưng tất cũng có mấy phút trước là vãng, lai có mấy phút sau là lai;
vãng là cái đã qua đi là co rút lại, lai là sắp sửa tới là kéo dài ra. Khuất thân cảm ứng với nhau, vì có
khuất mới có thân, vì có thân mới có khuất; khuất thân cảm nhau hoài hoài mà lị ích mới nảy nở ra. Đó
lại là lí cảm ứng thuộc về phần tinh thần vậy.
Lí khuất thân đó chứng nghiệm vào giống vi vật càng minh bạch lắm.
Khuất, nghĩa là co rút lại; thân, nghĩa là thẳng dài ra, tức như giống sâu xích quặc (Xích quặc: chúng
ta thường gọi con sâu đo). Khi nó co rút lại là cốt cầu cho được ngay thẳng mình nó ra. Kìa giống
rồng, rắn, khi nó nấp dưới đất, ngầm dưới vực, cốt cầu giữ thân nó để sẽ chờ ngày bay lượn vậy
(
Khuất ấy là cảm, cầu thân ấy là ứng, trật ấy là cảm, tồn thân ấy là ứng). Xem lẽ khuất thân như hai
giống trên kia thời khí cơ cảm ứng không chốn nào không quân tử, vì thế mới suy ra làm đạo dưỡng
tâm tu thân thời như sau này nói.

Toan phát triển ra sự nghiệp, trước phải lo bồi dưỡng lấy trí thức, nghiên tìm nghĩa lí cho thấu được
chốn tinh vi, thâm nhập đến thần diệu, tức sở dĩ suy ra làm công dụng cho tới nơi vậy. Đã lợi tiện ở
nơi công dụng, lại càng an định tâm thân mình để khiến cho đức nghiệp càng cao lớn vậy, vì có tinh
nghĩa nhập thần mà được trí dụng ứng cho, lại vì có lợi dụng yên thân mà được sùng đức ứng cho. Khi
đã trí dụng sùng đức rồi thời từ đó mà tiến lên mãi mãi, rất mực thần diệu, vô thể vô phương, không
thể lấy mắt người thường mà trắc lường được. Sách
Mạnh Tử có câu: Thánh nhi bất khả tri chi, chi
vị thần dã
聖而不可知 之, 之謂神也, chính là tới địa vị ấy.
Sở dĩ “vị chi hoặc tri”, bởi vì khi sau đã trí dụng sùng đức cùng cực thần diệu rồi, biết hết lẽ biến hóa
rồi là thánh đức quá chừng thịnh đó vậy.
PHỤ CHÚ: Hệ tử thích Hào từ quẻ Hàm mà suy rộng đến nhật nguyệt hàn thử là đạo lí rất lớn.
Xét lại đến xích quặc, long xà là sự vật rất nhỏ. Kìa con sâu đo, nó co lại, lại ngay ra, nó ngay ra, lại
co lại, chúng ta chẳng mấy người để ý đến nó, thánh nhân nhân nó mà suy biết đạo lí cảm ứng khuất
thân, mới biết rằng lẽ trong thiên hạ, không giống gì nhỏ mà không đạo lí.
Phật Tổ có câu: “Xương khô cây hủ, tất thảy có tính Phật”. Trang Tử cùng có câu: “Giống khô hủ cũng
hóa ra được thần kì”, thảy là lẽ ấy. Làm một người tu thân thiệp thế chỉ cần có hai chữ: “tri”, “hành”.
Tinh nghĩa nhập thần là thuộc về phần tri, vì tri được tinh mới hành được đáo, tức là trí dụng. Lợi dụng
yên thân là thuộc về phần hành. Vì hành được tới nơi thời tri càng tăng tiến, tức là sùng đức.
Thầy Vương Dương Minh chủ trương thuyết
tri hành hợp nhất, nghĩa là tri với hành hợp nhau làm
một việc. Hễ tri đã đến nơi tất nhiên hành được đến nơi, vả đã tri tất phải hành. Nếu bảo rằng tri được
mà không hành được thời cái tri đó không phải là chân tri, nên thánh nhân dạy cho ta hai chữ tinh
nghĩa. Trong thiên hạ, hễ có việc gì, tất có nghĩa của việc ấy, ta trước phải tinh thấu cho đến nghĩa của
việc ấy, khi tinh thấu được nghĩa của việc ấy, tất nhiên làm được hoàn toàn công dụng của việc ấy. Đó
lại là lấy tri mà vun đắp cái nền tảng cho hành. Khi đã tri dụng rồi là hành đã có thành hiệu rồi thời
nhờ đó mà thêm phần cao đức mình. Đó lại là nhân hành mà mở rộng thêm phạm vi cho tri. Ví như biết
được đường chắc chắn, tất nhiên đi đến nơi mà lại trải qua một lần đi càng thêm biết được đường.
Nghĩa
tri hành hợp nhất của thầy Vương dương Minh rất đúng với nghĩa câu tinh nghĩa nhập thần
của Khổng Tử.
Nước Nhật Bản trước hồi Duy Tân rất sùng trọng Vương học, bao nhiêu chí sĩ gây nên sự nghiệp Duy
Tân thảy con nhà Vương học.
Tượng viết: Trinh cát, hối vong, vị cảm hại dã, đồng đồng vãng lai, vị quang đại dã.
象曰: 貞吉, 悔亡, 未感害也, 憧憧往來, 未光大也.
Trinh thời được cát mà lại hối vong. Vì sơ cảm được đại công mà không mắc hại bằng tư cảm vậy.
Đồng đồng vãng lai thời chỉ bằng tòng nhị ti mà thôi, không lấy gì quang đại vậy (Chữ
vị ở đây như
nghĩa chữ
phi).
5. Cửu Ngũ: hàm kì muội, vô hối.
九五: 咸其腾, 无悔.
Muội là đám thịt ở trên lưng, ở trên bụng mà lại trái với bụng, lấy tượng toàn quẻ mà thủ nghĩa bằng
thản người thời Cửu Ngũ chính xử vào vị muội; muội là không thấy được tâm nên thánh nhân thủ tượng
bằng muội mà răn cho Ngũ rằng: Ngũ muốn cảm được người thiên hạ, tất phải dùng đạo chí thành tự

nhiên, không thấy được tư tâm, như thế thời hợp được đạo chính mà không đến nỗi hối.
Tượng viết: Hàm kì muội, chí mạt dã.
象曰: 咸其腾, 志末也.
Hào từ sở dĩ phải răn hàm kì muội bởi vì Ngũ dây dướng với Nhị lại duyệt với Thượng. Thánh nhân
ghét nó tâm chí đê mạt mà răn cho như vậy (
Mạt: đê hèn).
6. Thượng Lục: Hàm kì phụ, giáp, thiệt.
上六: 咸其辅, , .
Thượng Lục bản chất âm nhu mà ở vào thể Đoài làm chủ cho thể duyệt lại ở cuối cùng quẻ Hàm là
cảm chi cực, muốn cảm người quá mà vẫn không chí thành, chỉ uốn nắn ở nơi miệng lưỡi, toan dùng
cách ngôn ngữ động nhân, in thói thường tiểu nhân, nữ tử nên Hào từ nói rằng: Hàm kì phụ, giáp, thiệt
(
Phụ: mép, giáp: má, thiệt: lưỡi; tất thảy là giống để mà nói, chỉ dùng cách nịnh hót mà cảm động
người nên tượng như thế).
Tượng viết: Hàm kì phụ, giáp, thiệt, đằng khẩu thuyết dã.
象曰: 咸其辅頰舌, 縢口說也.
Lẽ trong thiên hạ, duy chí thành mới cảm được lòng người, kia chỉ múa miệng uốn môi, cảm gì được ai
(
Đằng có ý như múa men, hào này, ở trên hết quẻ nên thủ tượng bằng miệng lưỡi).

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!