Tam Thập Tứ huyệt đạo trọng yếu (Phần cuối)

Tam Thập Tứ huyệt đạo trọng yếu (Phần cuối)


Nhóm 31 đến 34


NHÓM THỨ 31
a) Phối huyệt: Du phủ, Vân môn
b) Hiệu năng: thanh Phế giáng nghịch, ngưng ho, định suyễn.
c) Chủ trị: ho, khí suyễn, lồng ngực bị phiền muộn, nhiệt, thở gấp, ẩu thổ làm ngây người…
d) Phép châm và cứu: châm Du phủ, mũi kim hướng xuống phía dưới sâu 3 phân, bổ; châm Vân môn, châm thẳng sâu 3 phân, không dễ vượt quá 5 phân, tiên tả hậu bổ, nếu hàn thì cứu 3 tráng, nhiệt thì không cứu, lưu kim 10 phút.
e) Phép gia giảm : nếu ho nặng, châm thêm huyệt Nhũ căn, châm xiên, mũi kim hơi lệch lên trên, sâu 3 – 5 phân.
f) Giải phương : huyệt Vân môn là nơi phát ra mạch khí của kinh Thủ Thái âm Phế; huyệt Du phủ là nơi phát ra mạch khí của kinh Túc Thiếu âm Thận. Cả 2 huyệt đều nằm ở vị trí trên cao của ngực, thế nhưng con đường vận hành kinh mạch của chúng không giống nhau : Kinh Thủ Thái âm Phế đi từ ngực ra cánh tay, kinh Túc Thiếu âm Thận đi từ chân lên đến ngực. Kinh đi với tay thì tuyên thông phía trên, đi với chân thì có nhiệm vụ liễm và giáng xuống dưới. Chứng bệnh ho mà khí thở gấp đặt ‘tiêu’ ở Phế và đặt ‘bản’ ở Thận, Phế và Thận đồng bệnh. Phế thọ tà khí thì ho, trong lúc đó Thận hư không còn khí để nạp tàng, vì khí không còn quy về ‘căn’ mà lại đi nghịch lên trên thành ra suyễn. Vì thế thủ huyệt Vân môn là để tuyên thông Phế khí, tuyên sướng khí ở ngực, giáng được nghịch khí; thủ huyệt Du phủ là để bổ thận, nạp khí, liễm được xung khí, giáng được nghịch khí, châm thêm Nhũ căn là để làm an được xung khí, làm giáng được xung khí, nó thuận theo khí của Dương kinh, trợ cho Vân môn trong việc tuyên khí và giáng khí, trợ cho Du phủ trong việc liễm khí và nạp khí.
g) Ghi chú : ‘Ngọc long ca’ viết: “chứng suyễn khò khè nhổ ra đàm nhiều, nếu dùng kim để châm thì bệnh sẽ khỏi, châm cả Du phủ và Nhũ căn, khí suyễn phong đàm sẽ bớt dần”. Lời nói của bậc tiên sư do ở kinh nghiệm lâm sàng dồi dào, nay tổi xin trích ra đây để chúng ta tham khảo.

NHÓM THỨ 32
a) Phối huyệt: Khí hải, Quan nguyên, Trung cực, Tử cung.
b) Hiệu năng: dưỡng huyết, tư Âm, bồi bổ chân khí và Nguyên khí, bổ Mệnh môn, làm ấm Tử cung, điều hoà kinh nguyệt và đái hạ, dưỡng bào thai.
c) Chủ trị: trị các chứng Tử cung hư hàn, cửa bào môn bịi bế tắc, lâu không có thai, Âm súc, Dương nuy, bụng bị đau và trướng mãn, chuyển bào…
d) Phép châm và cứu: bị hư hàn, châm sâu từ 3 đến 5 phân, bổ, sau khi châm cứu 3 đến 5 tráng, bị thực châm sâu 5 phân đến 1 thốn, tả, không cứu.
e) Giải phương: cả 4 huyệt đều thuộc Nhậm mạch, dưới Trung cực là bào cung 3 mạch Nhậm, Xung và Đốc đều khởi lên ở bào cung và xuất ra ở Hội âm. Nhậm mạch đi từ Hội âm rối xuất ra vận hành theo bụng, Đốc mạch xuất ra từ Hội âm rồi xuất ra vận hành ở lưng, Xung mạch đi từ Hội âm để đi theo Thận kinh, cho nên người ta gọi đây là nhất nguyên tam ký : một nguồn mà 3 nhánh.
Khí hải là nơi biển sinh ra khí, là nơi tồn giữ nguyên khí. Quan nguyên là nơi mà con trai tàng tinh, con gái chứa huyết. Trung cực là hội của Mạch Nhậm và Túc Tam Âm kinh, cũng là cánh của bào cung. Tử cung là huyết thất của con gái.
Vì thế thủ huyệt Khí hải nhằm ‘ích’ cho khí ở Hạ nguyên, thủ Quan nguyên nhằm bổ sung tinh huyết, Trung cực làm điều kinh khai thông sự bế tắc. Châm Tử cung là lấy thẳng huyệt trị phần ‘tiêu’, hiệp đồng với các huyệt trên đều nhằm dưỡng huyết, điều kinh, bồi bổ nguyên khí và làm ấm tử cung. 
f) Ghi chú : Nội kinh nói : ‘con gái tuỏi nhị thất thì Thiên qúy đến, Nhâm mạch thông, mạch Thái xung được thịnh, Nguyệt sư theo đúng với ‘thời’ để chảy xuống, cho nên có thể có con’. ‘Con trai tuổi nhị bát Thận khí thịnh, Thiên qúy đến, tinh khí tràn chảy ra’. ‘Âm Dương được hòa thì có con’. Chiếc chìa khóa nằm ở chỗ ‘Âm Dương hòa’.
Âm Dương hoà thì con trai tinh khí tràn chảy, con gái Thận khí vượng và thịnh, chân Âm được sung túc, nguyệt sự theo đúng với ‘thời’ để chảy xuống : hai tinh tương hợp nhau do đó có con. Nay nếu con trai dâm dục quá độ, Âm tinh bị hư tổn, hoặc tinh bị lỏng, nhạt quan trọng hơn nữa là ở người con gái Thận khí bất túc hoặc Xung Nhậm bị hư khí huyết, ví như bào cung bị hư hàn, ứ huyết trệ và lưu lại, tinh huyết bị hư tổn, đàm thấp ủng tắc… tất cả làm cho mạch Xung và Nhậm bị hư tổn, nguyệt kinh mất điều hoà, không chảy xuống đúng thời, do đó bị băng lậu, bế kinh, tiếp là xích bạch đái hạ. Tình trạng như vậy làm sao có con được ? Dùng 4 huyệt trên để bồi dưỡng nguyên khí, làm ấm tử cung, điều lý mạch Xung và Nhậm, dưỡng huyết bổ tinh. Nếu như bị kiêm thêm đàm, thêm ứ huyết thì tùy theo chứng mà gia giảm. Nếu trị đúng phép bệnh làm sao không khỏi cho được

NHÓM THỨ 33
a) Phối huyệtThần khuyết, Khí hải, Thiên xu, Thủy phân.
b) Hiệu năng: làm ấm vùng rốn và làm tán hàn, hồi Dương, ích khí…
c) Chủ trị: trị các chứng hạ nguyên hư hàn, rốn và bụng bị lạnh, đau, hoắc loạn, thổ tả, trúng Phong, trúng đàm, đàm quyết, tiểu nhi kinh phong…
d) Phép châm và cứu : châm Khí hải sâu 5 phân, bổ, sâu khi châm cư 15 đến 20 tráng. Thần khuyết, cấm châm; chỉ cứu thôi, cứu cho đến chừng nào bệnh nhân hồi Dương mới thôi. Thủy phân không châm, cứu 15 đến 25 tráng. Thiên xu không châm, cứu 15 đến 25 tráng. Cứu bằng ngãi cứu cách gừng.
e) Phép gia giảm: nếu bệnh nhân bị ói nặng, châm thêm Trung hoãn, sâu 5 phân, cứu 5 tráng, châm thêm Thiên đột, sâu 2 phân, cứu 3 tráng. Khi nào đau bụng, ẩu thổ do khí trệ thì châm Tam tiêu du, sâu 3 phân, tiên tả hậu bổ, sau khi châm, cứu 1 tráng, châm Quan nguyên sâu 5 phân, tiên tả hậu bổ, cứu 3 tráng.
f) Giải phương : 5 huyệt này còn gọi là Mai hoa huyệt vùng bụng. Thần khuyết thuộc Nhâm mạch, có thể thông với tạng trong việc cấp cứu hồi Dương. Thiên xu thuộc kinh Túc Dương minh Vị, là mộ huyệt của Đại trương, nó hóa chất cặn bã phân lợi thanh trọc. Khí hài là “biển của Nguyên khí”, bổ Thận hồi Dương. Thủy phân thuộc Nhâm mạch, kiện Tỳ lợi Thấp, phân lợi thủy cốc. 5 huyệt phối nhau thành tá sứ, có khả năng kiện Tỳ, dứt bệnh tả, ôn trung, cứu nghịch. Châm thêm Thiên đột, Trung hoãn nhằm giáng khí trừ đàm, dứt được chứng ói. Châm thêm Tam tiêu du, Quan nguyên nhằm làm thông khí Tam tiêu, ôn bổ vùng Hạ nguyên, giải uất, tán ngưng, dứt được chứng ói mà đau.
f) Ghi chú : phàm khi Hàn tà trúng vào Tam Âm kinh thì sẽ xuất những chứng thuộc Tam Âm như đau vùng bụng, rốn, tứ chi quyết lãnh, trên ẩu dưới tả (trong phân còn có những thức ăn chưa tiêu), khi dùng ngải cứu để cứu Thiên xu là nhằm làm ấm Trường Vị để trục đuổi khí hàn tà. Phép cứu này đối với các chứng cứu cấp như hoắc loạn ẩu tả, mang lại kết quả rất rõ, như khởi tử hồi sinh. 5 huyệt phải cứu 1 lúc, không được cứu cái trước cái sau không đồng bộ. Nếu như bị ẩu thổ, cứu thêm thiên đột 1 lượt với các huyệt trên, không tăng giảm riêng, Cứu Thần khuyết thẳng cho đến khi nào bệnh tả ngưng lại mới thôi, như bệnh gần tuyệt vọng, nên cứu cho đến khi nào hồi Dương mới thôi, phải nhẫn nại trong khi cứu thì tự nhiên phải hồi Dương. Nếu như trong lòng nóng nảy, bỏ dở nửa chừng thì có khi bỏ dở cứu 1 mạng người, ta không nên xem thường. Thần khuyết cũng có tên là Khí xã, cấm châm. Nếu châm sẽ làm cho người bệnh ẩu thổ và đại tiện bất thông. Áp dụng phép cứu hay hơn dùng thuốc vì nó có thể hồi Dương không để thoát khí. Cho nên muốn trị thoát khí nên cứu huyệt này.

NHÓM THỨ 34
a) Phối huyệtXích trạch, Ủy trung.
b) Hiệu năng: làm thanh được huyết độc, tán được uế tà.
c) Chủ trị: các chứng mê loạn do hoặc loạn, Tâm phiền, thượng thổ hạ tả, đau bụng, tả ly…
d) Phép châm và cứu: châm thẳng Xích trạch sâu 5 phân, có thể dùng kim tam lăng châm xuất huyết, không cứu. Châm thẳng huyệt Ủy trung 5 phân đến 1 thốn, hoặc dùng kim tam lăng châm xuất huyết, không cứu.
e) Phép gia giảm: nếu là chứng ẩu thổ không ngừng, châm thêm Kim tân, Ngọc dịch, xuất huyết, châm xuất huyết Thiếu thương, Thương dương, châm tả Hợp cốc sâu 5 phân. Nếu trong lòng phiền loạn, châm thêm Thiếu xung Trung xung xuất huyết, châm Bách hội sâu 2 phân bình bổ bình tả. Sau khi châm mà vẫn còn đau bụng, thổ tả vẫn chưa dứt, châm thêm Trung hoãn sâu 5 phân đến 1 thốn.
f) Giải phương: hai huyệt này là hai huyệt ở tay và ở chân, có tác dụng giải cơ, thông kinh. Vì vậy nên có tác dụng thông thanh huyết độc, tán được uế tà. Do đó chống nôn mửa, ỉa chảy nên dùng công thức này.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!