Tam Thập Tứ huyệt đạo trọng yếu (P6)

Tam Thập Tứ huyệt đạo trọng yếu (P6)


Nhóm 26 đến nhóm 30


NHÓM THỨ 26
a) Phối huyệt: Thiếu thương, Thương dương, Hợp cốc.
b) Hiệu năng: thanh nhiệt giải độc, tuyên Phế, làm lợi cho yết (thực quản).
c) Chủ trị: trị các chứng cổ họng bị sưng to, hầu tý, sưng quai bị, ho nghịch, chứng nhũ nga của trẻ con, nhức răng, mất tiếng nói, đau mắt…
d) Phép châm và cứu: châm Thiếu thương và Thương dương xuất huyết, châm Hợp cốc sâu 5 phân đến 1 thốn, tả, không lưu kim, không cứu. Nói chung, căn cứ vào bệnh tình cụ thể để nhiệt thì thanh, thực thì tả, hư thì bổ, vận dụng 1 cách linh hoạt.
e) Phép gia giảm: nếu là kiêm thêm bệnh ngoại cảm phát nhiệt, yết hầu sưng đau, Tâm phiền, tiểu màu đỏ, trước hết nên châm xuất huyết các huyệt Tỉnh và Thập tuyên, sau đó châm các huyệt trên.

  • Nếu bị nhiệt độc nặng, châm thêm Quan xung, Trung xung, Thiếu trạch, xuất huyết.
  • Nếu cổ họng đau kéo dài không hết, châm thêm Chiếu hải sâu 3 phân, tiên bổ hậu tả, lưu kim 10 phút.
  • Nếu nội thương do ẩm thực đến thành thổ tả, châm thêm Trung quản, sâu 5 phân, Túc Tam lý sâu 5 phân đến 1 thốn, tiên tả hậu bổ, lưu kim 10 phút.
  • Nếu nhiệt cực sinh Phong, làm lo sợ, co giật, cắn răng, nghiến răng, mặt tái xanh, ngó thẳng lên trên…, châm thêm 12 Tỉnh huyệt, Thập tuyên và Bát tà. Như bệnh tình chuyển thành nguy hiểm, châm thêm Thủy câu, Phong phủ. Nếu đã châm như trên mà chưa thấy hồi chuyển gì thì châm thêm Bách hội, Phong phủ, Phong trì, Tiền đỉnh, Tố liêu, Mệnh môn.
  1. f) Giải phương:Thiếu dương là huyệt Tỉnh của kinh Thủ Thái âm Phế, huyệt này thuộc Mộc, mạch khí của Phế kinh xuất ra từ đây, đi theo huyệt huỳnh, du, kinh để rồi sau đó đến huyệt Hợp là Xích trạch, sau đó, lại tập hợp vào tạng. Châm cho xuất huyết nơi đây là để tà khí nhiệt độc của nội tạng. Thương dương là huyệt Tỉnh của kinh Thủ Dương minh Đại trường, huyệt này thuộc Mộc? (Kim), mạch của nó lạc với Phê châm xuất huyết nó sẽ làm thanh Phế và lợi cho cổ họng (yết), làm sơ tiết tà nhiệt.
    Châm Hợp cốc là để thông giáng kinh khí của  Dương minh, nhiệt đi từ Dương minh giáng xuống dưới để giả làm thanh được Phế khí.
    Phối cả 3 huyệt nhằm thanh nhiệt giải độc, khai phát mao khiếu, thanh Phế lợi yết, sơ tiết Trường Vị, nhằm chữa các chứng ở yết hầu, đầu mắt.
    g) Ghi chú:phối huyệt này trị các chứng ở yết hầu rất hiệu nghiệm, nhất là đối với 1 số bệnh của trẻ con càng hiệu nghiệm hơn. Tất cả lấy việc làm cho thanh tiết khí nhiệt độc của Thủ Thái ẩm Phế kinh là chính. Đó là vì Phế là cái nắp đậy, là trưởng của trăm mạch, chỗ ở cao mà vận hành xuống thấp. Nếu kinh Dương minh bị nhiệt hay là bị tà khí Phong nhiệt ngoại cảm, trước hết tà khí này phạm vào Phế. Khi mà Phế khí uất bế thì nhiệt độc công lên trên đến yết hầu. Trẻ em là thuộc khí thuần Dương, phần lớn là có nội nhiệt, tạng phủ lại rất mềm non, Vị khí chưa được sung vì thế dễ bị ngoại cảm mà cũng dễ bị nội thương. Vì thế ta thấy chúng thường bị chứng phát nhiệt, ho, nhũ nga, quai bị.  Phép châm trên rất kiến hiệu.

NHÓM THỨ 27
a) Phối huyệt: Đại đôn, Quan nguyên
b) Hiệu năng: làm thư Can, ôn kinh, điều lý Hạ tiêu, xua đuổi khí hàn thấp, vãn hội chứng quyết nghịch.
c) Chủ trị: các loại sản khí, phụ nữ bị Âm đỉnh đau bụng quặn xuống, điên giản, đái dầm, đại tiện không thông.
d) Phép châm và cứu: châm Quan nguyên sâu 3 phân, châm Đại đôn sâu 1 đến 2 phân, đều châm bổ, lưu kim 15 phút, cứu 3 đến 5 tráng.
e) Phép gia giảm: nếu hàn khí quá thịnh đến nỗi buồng trứng bị co lại dẫn đến tình trạng thiếu phúc đau, châm thêm Tam Âm giao, sâu 5 phân; châm Ấn bạch sâu 1 phân, đều châm bổ, cứu 3 tráng. Sau đó nếu phương huyệt có kết quả, nên châm thêm Tam Âm giao, sâu 5 phân, Thái xung sâu 3 phân, Hành gian sâu 3 phân, Lãi câu sâu 3 phân, Khúc tuyền sâu 5 phân, đều bổ, cứu 3 đến 5 tráng.
f) Giải phương: huyệt Đại đôn thuộc huyệt Tỉnh của kinh Túc Quyết âm Can, thuộc Mộc, Can chủ Cân mà tiền Âm là nơi tụ của tông cân. Kinh Túc Quyết âm Can quay vòng nơi Âm khí, lên trên nương theo thiếu phúc, ấp vào Vị, thuộc Can và lạc Đởm. Vì thế châm nó sẽ làm thư cho Can, bổ Can, ấm Can, làm sơ lý nguồn khí của Tam tiêu.
Huyệt Quan nguyên là giao hội huyệt giữa kinh của Tam Âm và Nhâm mạch, nó lại là mộ huyệt của Tiểu trường, là nơi tàng chứa và quan yếu của Nguyên khí. Châm bổ Quan nguyên có thể cường tinh ích Thận, làm ấm lại Hạ nguyên. Hai huyệt này phối nhau sẽ làm thư được khí Quyết âm, ấm Thận, ấm kinh xua đuổi được hàn khí ở Hạ tiêu, thăng Đương ích khí, do đó mà các chứng thuộc sán khí sẽ khỏi.
f) Ghi chú: phối huyệt này trị sán khí kết quả rất rõ ràng, nếu trị đúng phép, có thể tận được căn.

NHÓM THỨ 28
a) Phối huyệt: Ẩn bạch, Trung quản.
b) Hiệu năng: kiện Tỳ bổ khí, thăng Dương…
c) Chủ trị: Tỳ Dương không phát chẩn, vùng bụng trướng mãn, tiết tả, trung khí bất túc, mệt mỏi không còn sức, ăn không ngon, phụ nữ kinh nguyệt không đều, kinh huyết băng lậu, xích, bạch đái hạ…
d) Phép châm và cứu: châm Ẩn bạch, thông thường sâu hơn 1 phân, dùng cây ngãi cứu nhỏ cứu từ 3 đến 5 tráng; châm Trung quản, thẳng từ 5 phân đến 1 thốn, bổ, lưu kim 20 phút, cứu từ 5 đến 9 tráng.
e) Giải phương: Ẩn bạch là huyệt Tỉnh của kinh Túc Thái âm Tỳ. Đường kinh này lấy căn ở huyệt Ẩn bạch, lên trên kết với Thái dương (tức Trung quản), có khả năng bổ ích cho Tỳ Vị, điều lý khí huyết. Trung quản là huyệt của Nhâm mạch, cũng là huyệt mộ của Vị, là nơi hội của các phủ. Hai huyệt Ẩn bạch và Trung quản cùng phối nhau, có quan hệ giữa kinh lạc với nhau, ngoài ra còn có quan hệ tương hợp giữa tạng phủ và biểu lý nữa. Vì thế nó có khả năng làm kiện Tỳ, ích Vị, bổ trung ích khí, tiêu hoá ăn uống, thăng thanh, giáng trọc…
f) Ghi chú: Tỳ chủ về vận hoá, Vị chủ về thọ nạp, Tỳ Vị tương hợp nhau cùng làm nhiệm vụ ổn định trung châu, từ đó làm vững chắc cho tứ duy (các nơi như tay chân…) Phàm khi trung khí bị hãn xuống làm thương đến việc ăn uống, nên gia giảm để trị.

NHÓM THỨ 29
a) Phối huyệt: Cự cốt, Nội quan
b) Hiệu năng: tuyên thông Phế khí, khai hung giáng nghịch
c) Chủ trị: ho nghịch khí nghịch lên trên, Can hoả xung lên trên, dễ tức giận, ẩu thổ, thổ huyết, … Tất cả các chứng do tà khí nghịch lên trên.
d) Phép châm và cứu: châm Cự cốt, sâu 3 phân, tiên tả hậu bổ, mũi kim hướng xuống dưới, có cảm giác như đang mang 1 vật nặng. Châm Nội quan, sâu từ 5 đến 7 phân, tả, lưu kim từ 5 đến 10 phút, cứu 3 tráng.
e) Giải phương: huyệt Nội quan vận hành đặc biệt theo kinh Thủ Thiếu dương Tam tiêu. Tam tiêu là “quyết độc chi quan”, nó có nhiệm vụ thống lãnh các khí. Nay nếu Tam tiêu không còn làm nhiệm vụ của mình thì khí của nó sẽ nghịch loạn, kéo theo Can khí, Cung khí, Vị khí đều nghịch lên trên, như vậy là Phế khí bị ủng bế, Phế khí không còn thanh túc để giáng xuống, vì thế sẽ gây ho nghịch, suyễn…
Châm tả Nội quan là để điều hoà khí của Tam tiêu. Cự cốt là hội huyệt giữa kinh Thủ Dương minh và Dương kiểu mạch, vị trí của nó nằm ở đầu vai, tính của nó là trầm giáng xuống. Mọi thứ tà khí làm cho khí nghịch lên trên, nó đều có thể đẩy lui xuống, như vậy nó có vai trò “ở trên cao mà xuống đến dưới thấp”, tức là làm giáng được nghịch khí. Hai huyệt này phối với nhau có khả năng khai hung, giáng nghịch, giáng khí xung lên để làm an Vị, tuyên thông Phế khí, làm cho hoả khí đang nghịch lên phải theo kinh Dương minh để đi xuống. Khi tà khí bị đuổi thì bệnh sẽ khỏi. Vì thế các chứng bệnh giữa ngực bị ứ trệ đau đớn, lồng ngực bứt rứt, khí thở gấp, ho suyễn… dùng phép phối huyệt trên sẽ rất hiệu quả.

NHÓM THỨ 30
a) Phối huyệt: Thiên trụ, Đại trữ, Côn lôn.
b) Hiệu năng: xua phong, giáng nghịch, khai khiếu, tỉnh não.
c) Chủ trị: các chứng choáng váng của đầu, mắt, tình trạng mê loạn bất an, tai kêu, nhức đầu.
d) Phép châm và cứu: châm Thiên trụ, sâu 5 phân; châm Đại trữ, mũi kim hướng xuống dưới, sâu 5 phân, nếu có hàn tà thì cứu 3 tráng. Châm Côn lôn, thẳng sâu 3 đến 5 phân, cứu 3 tráng. Tất cả đều không dùng phép bổ tả, chỉ cần châm vào là được, lưu kim 10 phút.
e) Giải phương: Thiên trụ là 1 huyệt vị, nơi đó phát ra mạch khí của kinh Túc Thái dương Bàng quang, châm nó sẽ làm khai khiếu tỉnh não. Đại trữ hội huyệt của kinh Thủ Thái dương và Túc Thái dương. Cốt khí hội nhau ở huyệt Đại trữ. Cốt do tủy dưỡng, tủy do não rót xuống huyệt Đại trữ rồi do từ Đại trữ để thấm nhập vào giữa cột sống, đi xuống dưới xuyên đến xương cùng và thấm nhập vào các đốt tiết. Vì vậy nên châm huyệt này sẽ bổ tủy làm tỉnh lại đầu và mắt.
Côn lôn là huyệt Kinh của Kinh Túc Thái dương Bàng quang, châm nó để xua Phong tán Hàn, thư cân hoá thấp. Kinh Thái dương thống nhiếp Dương khí của toàn thân. Các du huyệt của ngũ tạng lục phủ đều nằm ở vùng lưng, khí của ngũ tạng đều thông với Thái dương. Cho nên, 3 huyệt này làm thông Dương, hoá Thấp, tán Hàn, giáng được nghịch khí, khai khiếu tỉnh não, điều hoà Âm Dương, dẫn dắt nghịch khí tuần hành theo kinh dần dần đi xuống dưới. Như vậy kinh khí sẽ thông sướng, nghịch khí sẽ bình, các khiếu bị bế trên đầu sẽ được trong sáng.
f) Ghi chú: phương này không dùng phép bổ và tả. Bởi vì khí cơ đang bị phiền loạn, xung lên trên đến các khiếu trên đầu. Nay nếu thi hành các phép bổ tả sẽ làm cho nghịch khí bị loạn thêm. Mục đích châm theo phương này là nhằm điều hoà khí loạn, đợi chừng nào kinh khí điều hoà, thuận hành thì nghịch khí sẽ tự đi xuống. Chúng ta phải theo dõi cái thế của khí, không nên vội vàng. Phép này cũng cho phép trị các chứng do tà khí của Phong hàn ở khách tại kinh Thái dương, chứng biểu hiện là đầu cổ (đỉnh đầu), cột sống lưng bị cứng và đau nhức. Nếu như nghịch khí vào sâu rồi ở lại không đi nữa, ta có thể suy tính để dùng phép tả. Đây là 1 trong những tâm đắc mà tôi có được trong lâm sàng.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!