Tam Thập Tứ huyệt đạo trọng yếu (P5)

Tam Thập Tứ huyệt đạo trọng yếu (P5)


Nhóm 21 đến Nhóm 25


NHÓM THỨ 21
a) Phối huyệt: Túc Tam lý, Lao cung
b) Hiệu năng: thanh tả Hoả khí trong Tâm và Vị, khai được sự nghẽn tắc ở ngực, giáng được khí nghịch.
c) Chủ trị: trị Tâm và Vị có nhiệt khí, Tâm hoả bốc lên trên đưa đến làm cho Tâm thống, phản Vị, phiền muộn, muốn ói. Bệnh thương hàn kết ở ngực, bĩ khối làm cho bứt rứt, trướng mãn, hay ợ không dễ chịu, nuốt nước chua, mệt mỏi.
d) Phép châm và cứu: châm Lao cung sâu từ 3 đến 5 phân. Châm Túc Tam lý sâu 1 thốn, đều dùng phép tả, không cứu, lưu kim 5 phút.
e) Giải phương: Lao cung là huyệt huỳnh của kinh Thủ Quyết âm Tâm bào lạc. Chữ “huỳnh” có nghĩa là nước từ mới trong suối ra còn chảy rất nhẹ, nó chữa được huyết khí uất trệ do sự mệt nhọc làm thương tổn, nó làm cho thư làm cho thông sự uất kết của thất tình, nó sở trường về vai trò làm nhẹ được nhiệt khí làm bứt rứt và trướng mãn ở lồng ngực. Nó dẫn Hoả đi xuống, phối với Túc Tam lý, có thể thăng, có thể giáng, có thể khai có thể bế. Nó sở trường về tả được Hoả tà ở Tâm và Vị, giảm khí xung nghịch, giáng tà nhiệt mà không có hậu quả xấu, kết quả rất thần tốc.
Khi châm tả Lao cung có thể làm thanh được Tâm hoả, nó chỉ có thể trục được hoả ra khỏi bên ngoài Bào Lạc mà thôi, nó không thể làm cho Hoả giáng xuống và ra ngoài thân thể. Như vậy Lao cung chỉ thanh tả Hoả ở Thượng tiêu còn Túc Tam lý làm giáng được Hoả từ Trung Tiêu. Hai huyệt này phối lại nhau có thể chữa bệnh ngang hàng với “Tả lâm thang”.

NHÓM THỨ 22
a) Phối huyệt: Tam Âm giao
b) Hiệu năng: tư âm, kiện tỳ, bổ huyết, ích tinh.
c) Chủ trị: trị các chứng hư lao, ho, nguyệt kinh không đều, bế kinh, băng lậu, kinh huyết khô thiếu, phúc thống, sán, hà, trưng, tụ, chuyển bào…
d) Phép châm và cứu: châm Tam Âm giao sâu 3 phân đến 1 thốn. Bệnh hư thì bổ, bệnh thực thì tả, thông thường bình bổ bình tả, hoặc tiên bổ hậu tả, hoặc tiên tả hậu bổ, tất cả đều nên biện chứng cho rõ trước khi châm, châm bổ hư thì sau khi châm nên cứu 3 đến 5 tráng, lưu kim 15 phút, châm tả thực thì không lưu kim, không cứu.
e) Giải phương: Tam Âm giao là hội huyệt của 3 kinh Túc Thái âm Tỳ, Túc Thiếu âm Thận, Túc Quyết âm Can. Tuy nó thuộc vào kinh Tỳ nhưng cũng là giao hội huyệt của Túc Tam Âm kinh cho nên nó có thể tư Can Âm, còn có thể bổ Thận Dương, là 1 trong những huyệt quan trọng của phụ khoa. Nó làm thông được khí trệ, sơ tán khí ở Hạ tiêu, điều hoà huyết thất ở tinh cung, phù chính đuổi tà, … Các phương như “Lý trung”, “Kiến trung” và “Bát trân thang” còn kém nó.
f) Ghi chú: huyệt Tam Âm giao còn có thể dùng để bảo vệ sức khoẻ, xem phần cứu dưỡng sinh.

NHÓM THỨ 23
a) Phối huyệt: Tam Âm giao, Chí âm
b) Hiệu năng: tuyên thông Hạ tiêu, lý khí, vận hành được ứ huyết.
c) Chủ trị: trị các chứng nan sản, tử thai, bào y không ra, chuyển thai vị, kinh bế…
d) Phép châm và cứu: Tam Âm giao, châm sâu từ 5 phân đến 1 thốn, tiên bổ hậu tả. Châm huyệt Chí âm sâu 1 phân, tả. Sau khi châm cứu 3 đến 5 tráng, lưu kim 5 phút. Nếu muốn chuyển thai vị, không châm chỉ cứu 3 đến 5 tráng là được.
e) Giải phương: Chí âm là Tỉnh huyệt của kinh Túc Thái dương Bàng quang. Tỉnh là nơi khi khí xuất ra, ví như dòng nước từ nguồn chảy ra. Bàng quang và Thận cũng làm biểu lý nhau. Nay châm và cứu Chí âm là điều lý khí ở Hạ tiêu, đuổi được ứ huyết (khí) sinh ra khí mới.
Tam Âm giao là giao hội huyệt của Túc Tam Âm mà cũng là nơi then chốt của Tam Âm kinh. Khi phối huyệt này có thể lý khí, điều huyết, tuyên thông Hạ tiêu, ích Âm khí để Âm khí hạ hành…
Phó Thanh Chủ nói: “Nan sản là do ở huyết hư”, “nan sản là do ở khí nghịch”. Khí nghịch mà được điều lý, huyết hư mà được bổ, ích, thai nhi làm sao không xuống được.
f) Ghi chú: làm hạ thai (bao gồm cả tử thai) nên phối 4 huyệt sau đây sẽ rất hiệu nghiệm.
Bổ Đơn điền, tả Túc Tam lý, Tam Âm giao, tiên bổ hậu tả, sau đó là tả Chí âm. Sau khí châm Chí âm dùng cây ngải cứu to bằng hạt lúa mạch cứu 3 tráng.

NHÓM THỨ 24
a) Phối huyệt: Đại chùy, Nội quan
b) Hiệu năng: khai hung, lợi khí, ôn Dương hoá khí, trừ đàm ẩm
c) Chủ trị: ho, nhiều đàm, khí suyễn, hung cách đầy, phiền muộn, hoặc thở gấp,  đàm kéo khò khè, cách tích thủy…
d) Phép châm và cứu: châm Đại chùy sâu từ 5 đến 8 phân, tiên bổ hậu tả. Châm Nội quan sâu từ 3 đến 5 phân, tiên tả hậu bổ. Tất cả đều lưu kim 10 phút cứu 3 tráng.
e) Giải phương: Đại chùy là hội huyệt của Thủ Tam Dương kinh và Đốc mạch. Nội quan là huyệt lạc của kinh Thủ Quyết âm Tâm bào lạc, nó vận hành riêng vào với kinh Thủ Thiếu dương Tam tiểu, tương thông với Âm duy mạch, khởi lên ở giữa lồng ngực thuộc vào Bào lạc, đi xuống dưới xuyên qua cách đến bụng, thông cả Thượng tiêu, Trung tiêu và Hạ tiêu. Các đường kinh Âm đi từ tức lên trên đến bụng, xuyên qua cách đến ngực, vì thế nó trị các tật bệnh thuộc vùng ngực.
Thủ Đại chùy nhằm điều hoà khí của Thái dương khi mà khí được điều hoà thì thủy sẽ tự nó được lợi Châm phối với Nội quan là nhằm tuyên thông Dương khí ở Tâm, thông lợi được các màn mỡ (Tam tiêu) sơ thông được ứ tắc. Khi mà Tam tiêu được thông sướng thì nước uống sẽ đi tới Bàng quang, đàm sẽ tự trừ. Phối huyệt có thể sánh với “Đại Thanh long”, “Tiểu Thanh long thang” và “Linh quế truật cam thang”…
f) Ghi chú: Kinh Thủ thiếu dương Tam tiêu và Thủ Quyết âm Tâm bào lạc cùng quan hệ lạc thuộc. Tam tiêu là 1 trong lục phủ, là 1 phủ mà ngoại vi rộng nhất trong các phủ. Nan kinh nói: “Tam tiêu là con đường thông lộ, con đường chung thỉ của khí”. Nội kinh nói: “Tam tiêu là quan năng khai thông lạch nước, đường thủy đạo xuất ra từ đây”. Như vậy là Tam tiêu đã thống lãnh nguồn khí, có tác dụng sơ thông thủy đạo. Phàm khi uống nước thành chứng thủy ẩm, đàm tích, khí trệ, phần lớn có quan hệ với Tam tiêu. Khi thủy nhập vào Vị, từ Vị thẩm thấu ra, trải qua con đường của Tam tiêu để đạt xuống tới Bàng quang, vì thế Tam tiêu có vai trò sơ thông thủy đạo. Nếu thủy đạo được thông sướng, lạch nước không bị bế tắc thì con đường nước chảy sẽ không có lý do “đọng” lại. Giả sử con đường “màu mỡ” của Tam tiêu bị tắc trệ không thông thì con đường nước chảy cũng sẽ bế tắc, như vậy là khí hoá không vận hành gây nên chứng “ẩm” vậy.
Do đó khi thủ huyệt Nội quan để tuyên thông Dương khí ở Tâm, để sơ lợi Tam tiêu, rồi phối thêm Đại chùy để điều hoà khí của Thái dương. Dùng 2 huyệt này sẽ trừ được chứng “đàm ẩm” rất tuyệt.

NHÓM THỨ 25
a) Phối huyệt: Ngư tế, Thái khê.
b) Hiệu năng: Tuyên Phế khí, thanh nhiệt khí, tư Âm, giáng Hỏa.
c) Chủ trị: các chứng hư lao, cốt chưng, phát nhiệt, ho, khạc ra huyết…
d) Phép châm và cứu: châm Thái khê sâu 3 phân, bổ. Châm Ngư tế, sâu 2 phân, tả, không cứu, lưu kim 10 phút.
e) Giải phương: huyệt Ngư tế là huyệt huỳnh của kinh Thủ Thái âm Phế, đây thuộc huyệt Hoả trong ngũ du. Khi châm tả huyệt này là làm thanh Phế Hoả. Thái khê là du huyệt của kinh Túc Thiếu âm Thận, nó cũng là 1 trong 12 Nguyên huyệt thuộc Thận kinh. Châm bổ huyệt này là để tư Thận Âm, thoái hư nhiệt, thượng thì thanh, hạ thì tư, làm cho Âm Dương giao nhau theo quẻ Thái. Nó có giá trị như “Thanh táo cứu Phế thang”. Thủ Ngư tế là làm thanh Phế, nhuận Phế; Châm Thái khê là bổ Thận Âm nhằm chế Tâm Hoả. Khi Hoả không còn bốc lên thì kim sẽ không bị khắc, các chứng hư lao sẽ được bình…
f) Ghi chú: phối huyệt này còn trị được sự tổn thương do tửu sắc gây ra, điều lý được ý niệm dục tính. Các chứng bệnh thuộc hư lao như thân thể gầy yếu, ngũ tâm phiền nhiệt, ho khan, khạc ra huyết, Tâm hồi hộp, khí thở ngắn, cốt chưng lao nhiệt. Truy ra nguyên nhân gây bệnh, chúng ta thấy nó do ham mêm sắc tửu, tư lự quá độ, nguyên nhân này đã chiếm đến 8 hoặc 9 phần 10. Sự ham muốn trên làm thương cả Tỳ lẫn Thận, Âm tinh hao tổn, Vị không còn thọ nạp, cơ nhục bị khô cằn. Thận hư tinh tổn, Thủy không còn nuôi dương Mộc, Mộc lại sinh Hỏa, như vậy là Mộc Hỏa “hình” kim, bốc lên đến Phế. Phế là 1 tạng mềm, non, khi nó bị Hoả khắc sẽ mất đi khả năng tiêu giáng gây nên bệnh. Do đó, châm Thái khê làm “quân” tư bổ Thận Âm, châm huyệt Ngư tế làm “thần” nhằm tả Kim Hoả. Thần phụ cho quân, quân trợ cho thần, quân và thần hợp lực, đó là phép trị.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!