Huyền Thoại Xa Tiền Thảo

Huyền Thoại

Xa Tiền Thảo

Xa Tiền Thảo là một loại dược thảo mọc khắp vùng Đông Nam Á, từ núi cao cho tới đồng bằng, đâu cũng có thể tìm thấy dễ dàng. Chỉ cần chú ý chung quanh sân nhà, bên lề đường, sau vườn, sẽ thấy Xa Tiền Thảo mọc khiêm nhường nhưng không hề thiếu vắng. Tuy người ta vứt bỏ coi như một thứ cỏ dại, nhưng Xa Tiền Thảo là một vị thuốc hay và đã được trọng dụng từ xưa.

Trong các sách thuốc cổ như “Hoa Thị Trung Tàng Kinh” “Danh Y Biệt Lục” “Chân Nam Bổn Thảo” “Bổn Thảo Hối Ngôn” đều có ghi chép rõ ràng cây thuốc Xa Tiền Thảo, hạt gọi là Xa Tiền Tử. Trung dược dùng nhiều Xa Tiền Thảo, còn Nhật Bản trái lại dùng nhiều Xa Tiền Tử.

Tính chất: Khí hàn, vị cam, không độc.

Tác dụng chính của Xa Tiền Thảo là lợi tiểu, giải nhiệt và tiêu đàm. Vì thế, khi trị bệnh viêm thận, viêm bàng quang, viêm đường tiểu, đại tiểu tiện ra máu hay ho khan, vị thuốc này thường được dùng. Ngoài ra còn có thể điều chỉnh chất dung dịch trong dạ dày, hoặc trị đường tiểu bị nhiễm độc, tháo chảy cấp tính hay mạn tính.

Trị được vết thương đâm chém đứt tay chân. Cầm được máu, tiêu được ứ huyết.

Xa Tiền Thảo nhổ nguyên rễ lá rửa sạch để dùng tươi hay sao vàng, hoặc phơi khô, tán bột để dành. Xa Tiền Thảo nên thu hoạch vào mùa hạ, rửa sạch đất phơi khô. Tại Trung Hoa nơi sản xuất nhiều nhất là các tỉnh Giang Tây, An Huy, Giang Tô.

Hình dáng của dược thảo cũng hơi khác nhau tùy theo địa phương. Có thứ lá hơi giống lỗ tai lợn nên được gọi là Trư Nhĩ Thảo. Ngoài ra cũng còn được gọi là Mã Đề Thảo, Y Mã Thảo và hơn 10 tên khác nữa.

Ở Việt Nam, Xa Tiền Thảo mọc khắp các cánh đồng, dọc theo mé ruộng, bên lề đường, sau vườn hoang. Xa Tiền Thảo mọc ở ruộng nhiều nước thì dùng để ăn sống hoặc làm rau luộc. Xa Tiền Thảo mọc trên khô, có thể dùng cả thân lá, rễ, hạt để làm thuốc. Lá Xa Tiền thảo hình bầu dục, lá hơi cong khum lại và có 5 gân. Sau ba tháng, Xa Tiền ra hoa, nụ nở màu đỏ tía, hoa từng chuỗi có nhiều hạt, sắc vàng đậm, sao vàng lên có mùi thơm.

Xa Tiền Thảo có thể dùng một mình hay dùng chung với các vị thuốc khác.

Công dụng trị tê thấp, đi tiêu chảy, mắt đỏ có màng mây, chảy máu cam, tiểu ra máu, cầm máu vết thương hoặc mụn nhọt đã vỡ rồi, thấp nhiệt di tinh, ứ huyết, tích huyết, tiểu ra sạn. Cách dùng tùy trường hợp: giã lấy nước uống sống, đắp hay dùng bột. Tính chất của Xa Tiền là thông lợi được hơi nước làm cho khí ẩm ướt nóng nhiệt ở bàng quang có thể khơi thông ra được, nhưng vì quá lợi hoạt, chạy xuống mạnh, nên người khí sụt yếu, hay thận khí đã hư thoát thì đừng nên dùng.

Xem đơn thuốc nên cẩn thận , đừng nhầm hai tên cùng có chữ Tiền là Xa Tiền (Plantago Major L) với Mã Tiền (Strychnos nux-vomical)

Xa Tiền thảo mọc khắp nơi, cao độ 1 gang tay, không độc.

Mã Tiền, cũng còn có vài tên khác nữa, trái lại rất độc.

Mã Tiền là một loại cây gỗ, cao hơn 10 thước mọc trong rừng núi.. Hạt Mã tiền rất độc, chuyên trị nhức mỏi, thần kinh tê liệt, có tính chất sát trùng. Đông y hay dùng trong những thang thuốc rượu để xoa bóp khi thân thể bị bầm dập hay sưng nhức mỏi , nhưng không xoa vào vết cắt bị thương . Rất độc.

Huyền thoại phát hiện ra vị thuốc quý đã cứu tính mạng của một đoàn quân, cả người lẫn ngựa, xảy ra vào năm thứ 8 dương lịch.

Triều nhà Tiền Hán, Vương Mãng phế bỏ cháu của Hán Tuyên Đế là Nho Tử Anh, tự lập làm vua, đổi Quốc hiệu là Tân. Lúc bấy giờ vua Quang Vũ nhà Hán chưa dựng được nhà Đông Hán.

Trong lịch sử Trung Quốc, Vương Mãng là người đầu tiên đã làm việc soán ngôi đoạt vị. Vương Mãng vì có cháu là Hiếu Nguyên Hoàng Hậu nên năm Vĩnh Thủy nguyên niên (16 năm trước dương lịch) được phong tước Tân Đô Hầu. Vương đối đãi với bộ hạ, quân lính rất tốt, bao giờ cũng có thái độ thân thiết lo lắng cho cấp dưới nên ai cũng mến phục.

Ông được phong chức Đại Tư Mã. Khi vua Ai Đế băng hà, Vương Mãng dùng áp lực bắt buộc Bình Đế lên làm vua, lại còn ép gả con gái cho Bình Đế lúc ấy mới 9 tuổi. Vương Mãng nắm tất cả quyền sinh sát của Triều đình trong tay và được gọi là An Hán Công.

Giai đoạn thứ hai là Mãng ám sát Bình Đế, phò Nho Tử Anh lên làm vua. Mặc đầu bên ngoài tỏ ra phò ấu chúa, thực ra đã bắt đầu tự xưng là Phó Hoàng Đế. Hai năm sau, tức là vào năm dương lịch thứ 8, ra mặt cướp ngôi tự mình làm vua, đổi quốc hiệu là Tân. Người đời sau ghi chép sử gọi là thời kỳ Tân Mãng.

Cướp ngôi xong, Vương Mãng bắt đầu thay đổi tất cả Nho học kinh điển, định cải cách triệt để tất cả mọi chế độ hiện hành. Về danh xưng, Mãng đổi chức tước của các quan, đổi tên tất cả các địa phương, quận huyện. Mãng bổ dụng các quan lớn đều ở kinh đô hay ở 5 tỉnh lớn nhất để dễ kiểm soát.

Về kinh tế, Mãng chỉ huy các giá hàng hóa, lập ra chế độ lục quản, tức là quản chế rượu, muối, đồ sắt, tiền, núi non và sông hồ. Mãng phái các quan thu thuế những nơi này rất nặng. Ngoài ra còn tịch thu tất cả đất đai trong nước làm Vương điền, biến thành của cải riêng của vua.

Tất cả mọi nếp sống đều đảo lộn. Người dân biến thành nô lệ, không có một chút tự do nào nên lòng người oán giận lên đến cực điểm. Đồng thời mùa màng bị mất vì nạn châu chấu ăn sạch tất cả mọi thứ hoa màu. Dân chúng vừa nghèo lại vừa đói nên chỉ cầu mong cho con cháu nhà Hán chóng nổi dậy khôi phục giang sơn.

Lúc bấy giờ người có thế lực nhất của dòng dõi nhà Hán là Lưu Dân và Lưu Tú, hậu duệ của Trường Sa Vương, con vua Hán Cảnh Đế. Hai anh em này khởi binh năm 22 dương lịch, phò một người bà con xa là Lưu Huyền lên làm vua.

Trong đám bộ hạ của Lưu Tú có Mã Vũ tướng quân, trước là bộ hạ của Lưu Huyền. Khi Mã Vũ thấy Lưu Tú là người có tài và biết dùng người nên theo phò tá Lưu Tú rất tận lực. Mã Vũ vốn người Hồ Dương, trước đã từng phục vụ dưới quyền nhiều Tướng khác, từng đánh nhiều trận, lập nhiều chiến công. Đến khi thành bộ hạ Lưu Tú, mỗi khi ra trận đều đi đầu, lòng dũng cảm và tư cách đầy nhân nghĩa của Mã Vũ đã được Lưu Tú để ý và tín nhiệm.

Quân của Mã Vũ rất can đảm và thiện chiến, nên địch quân mới nghe tên đã sợ. Các Tướng khác cũng đều thán phục tài năng và đức độ của Mã tướng quân.

Nhà Hán lại lên, Mã Vũ được thăng chức Đãi Trung Kỵ Đô Úy tương đương như chức Tổng Tư Lệnh thời nay. Về sau lập thêm nhiều công trận, được phong Hầu đời đời cha truyền con nối để phục vụ nhà Hán.

Đến đây lịch sử vị thuốc Xa Tiền Thảo được phát hiện để giúp nhà Đông Hán thành công.

Mã Vũ có một người lính mã phu chuyên việc săn sóc xe và ngựa. Người này thông minh và cẩn thận nên rất được tin cậy. Một vị Tướng quân cầm binh thời ấy, ngoài tài giỏi và khỏe mạnh, vấn đề quan trọng nhất là ngựa vì nếu không có ngựa chiến hay thì dù Tướng anh hùng đến đâu cũng không thể ra trận thắng địch dễ dàng được.

Khi Mã tướng quân nghe tin có một người Đội Trưởng chuyên giữ ngựa đã từng tham gia hàng trăm trận, có đủ tài năng và dũng cảm xứng đáng ở trong đoàn quân của mình, bèn lập tức tuyển dụng Đội Trưởng ấy làm Mã phu săn sóc ngựa Tư Lệnh.

Đội trưởng này hiểu là Tướng Quân tin cậy tài mình nên mới giao phó ngựa qúi riêng, nên không buồn vì phải làm chức Mã Phu, trái lại còn cảm động vì thấy được tin cậy. Về sau, lúc Mã Vũ tướng quân được Hán Vũ Đế phong Hầu, Ông đã đem tất cả phần thưởng công lao chia cho người mã phu có công săn sóc ngựa quí phân nửa cũng không phải là quá đáng.

Hôm ấy, trời vào hạ, Mã tướng quân đang đuổi đánh địch quân, chiêng trống vang trời, quân lính rầm rộ, tiến lui rầm rập theo lệnh truyền từ Trung quân tới các đội chung quanh. Chẳng bao lâu, quân của Mã tướng quân đã đánh đuổi quân địch chạy xa, nhưng quân của ông bị lọt vào một nơi rừng rậm hoang vu chung quanh chẳng có bóng người.

Vùng này ở phía Bắc, nằm giữa hai sông Hoàng Hà và Chuẩn Hà, tức là phía Tây Nam của Bình Nguyên Hoa Bắc. Đó là một vùng khi mưa thì mưa thật nhiều, hoa màu cỏ cây úng nước chết hết. Trái lại khi nắng thì một giọt nước cũng khó tìm được.

Mùa khô năm ấy nóng hơn tất cả các năm trước. Mưa Xuân chờ mãi không thấy đến, cảnh vật mùa Xuân đáng lẽ nẩy mầm, thì trái lại cả vùng chỉ còn một vài giống cỏ sống sót rải rác khắp nơi trên đồng ruộng hoang vu.

Trận đánh đã kéo dài quá lâu, nên người và ngựa đều mệt mỏi, Mã Vũ tướng quân bèn ra lệnh dừng quân, dựng lều nghỉ ngơi, tạm thời dùng nước và lương thực mang theo.

Khi Mã tướng quân biết mình nhầm lẫn thì đã quá muộn. Ông không nên cho đóng quân tại đây, vì mặc dầu trong quân có lương thực cho người, nhưng không mang theo lương thực cho ngựa. Sáng hôm sau chỉ trừ ngựa Tướng quân và một số ít ngựa của các Tướng thân cận, còn toàn thể ngựa của đoàn quân đều đói lả không còn sức lực để đứng dậy nổi.

Đoàn quân lúc ấy lâm vào cảnh bốn bề đầy nguy hiểm bao vây, chung quanh không có một thứ cỏ cây, hoa quả gì ăn được. Binh lương đem theo cũng rất ít, lại thêm trời nóng nực kinh khủng làm lính và ngựa cứ từ từ ngã gục. Một số đông người và ngựa vì uống nước trong vùng nên bị sình bụng và đi tiểu ra máu.

Bệnh này theo Trung y là một chứng sốt do thấp nhiệt tụ lại ở bàng quang quá mạnh nên sinh bệnh. Triệu chứng là đường tiểu tiện rất đau đớn. Tiểu ra máu. Lưỡi dày và mạch tim đập nhanh. Nói gọn là viêm đường tiểu cấp tính.

Mã tướng quân muốn hạ lệnh rút lui lập tức vì nếu không ra khỏi nơi này thì cả đoàn quân sẽ bị chứng bệnh viêm bàng quang, không còn di động được nữa. Nhưng tình hình bệnh tật đã xảy ra rất trầm trọng, dù muốn lui quân cũng đã quá muộn, Quân y chỉ còn cố tìm cách cứu chữa ngay tại chỗ mà thôi.

Người Mã phu lo giữ lương thực và nước cho Tướng quân và ngựa, dù đã hết sức cẩn thận không hề dám lãng phí, nhưng cũng không cứu vãn được tình thế. Đoàn Mã phu dưới quyền và mấy con ngựa của Tướng quân cũng bị đi tiểu ra máu như cả đội kỵ mã. Nguy cơ đến ngay bên cạnh, không còn chạy đâu cho thoát.

Mã tướng quân suốt ngày không hề bước ra khỏi doanh trướng một bước. Vị Tướng anh hùng nhất trong các Tướng của Lưu Tú, giờ đây trông tiều tụy như một bộ xương khô.

Đối với con nhà Võ, thắng bại là chuyện thường. Thân làm Võ tướng, sống chết đều không ngại. Ví dụ Mã Tướng quân có bỏ mạng sa trường, cũng không hề giảm bớt vinh quang của một Võ tướng, nhưng hoàn cảnh trước mắt thật bi thảm, không lẽ bị tiêu diệt một cách uất ức thế này! Không biết có cách gì cứu cả đoàn quân ra khỏi cảnh chết không phải ở sa trường, mà chết bệnh một cách thảm khổ. Mã Tướng quân mấy đêm liền lo lắng không ngủ, đã cảm thấy quá mệt mỏi mê thiếp đi.

Sáng hôm sau, Mã phu của Tướng quân cũng bị bệnh nhưng cố nén đau đớn, gắng dậy đi thăm chừng mấy con ngựa quý, thầm nghĩ chắc chúng nó cũng đang lăn lộn đau đớn, như tất cả những con ngựa khác của đoàn quân.

– Tướng quân! Tướng quân, xin Tướng quân mau ra đây xem!

Mã Tướng quân đang ngủ say bỗng giật mình thức dậy vì nghe tiếng gọi của Mã phu.

Tướng quân tưởng mình đang bị quân địch bao vây, vội vàng vùng dậy xách kiếm chạy ra khỏi trướng. Chung quanh cảnh vật vẫn im lìm, không hề có dấu vết quân địch. Các Tướng cũng như quân đều nằm vật vã trong lều, bên ngoài không có một ai, trừ Mã phu, mặt mày hớn hở đang đứng bên cạnh xe Tư lệnh với ba con ngựa.

Mã Tướng quân tưởng tên mã phu của mình đau đớn quá hóa điên, nên đến gần định an ủi, nhưng bỗng cảm thấy hình như Mã phu muốn nói gì, muốn báo một tin gì lạ lùng. Mắt hắn sáng ngời và đầy những tia chớp sung sướng.

– Có chuyện gì lạ không?

– Thưa tướng quân, có chuyện lạ lắm. Lúc tôi đến thăm ngựa, thấy nó đang tiểu tiện, tôi cố ý nhìn xem còn có máu nhiều không thì thấy không có tí máu nào cả. Đang định báo tin cho Tướng quân thì thấy mấy con ngựa khác cũng tiểu tiện mà không có chút máu nào. Tôi đoán chắc chúng nó lành bệnh rồi nên vội vàng đến báo cáo.

Mã Vũ Tướng quân nghe xong lập tức ra lệnh cho binh sĩ điều tra xem tất cả ngựa của đoàn quân như thế nào. Kết quả báo cáo đều giống nhau: ngựa đã khỏi bệnh.

Mã phu vốn rất thông minh, nhất định muốn biết tại sao ngựa bỗng dưng lành bệnh. Lúc ấy Mã phu chú ý nhìn xem ngựa ăn cỏ, nhận thấy tất cả cỏ chung quanh vùng cắm trại đều bị ngựa ăn sạch hết, gần cạnh xe của Tư lệnh còn sót ít nhiều. Trong đó có thứ cỏ lá giống như tai lợn được ngựa ăn một cách thích thú ngon lành nhất. Khi Mã Tướng quân xem đám cỏ Mã phu báo cáo, cũng đồng ý là ngựa thích ăn nhất, bèn truyền lệnh họp tất cả các Tướng đến trước xe Tư lệnh và dõng dạc nói:

– Quý vị Tướng quân dũng cảm thiện chiến. Chúng ta chiến đấu dưới lá cờ của Đại Tướng Quân Quang Vũ Đế, đang đi đến con đường chiến thắng vẻ vang hoàn toàn. Sự rủi ro xảy ra làm chúng ta xuýt bị bệnh tật tiêu diệt toàn thể đại quân. Bây giờ tôi xin chư Tướng quân theo lệnh tôi. Tất cả đều chú ý nhìn xem thứ cỏ mọc ở trước cỗ xe. Chính thứ cỏ dại này sẽ cứu chúng ta thoát nạn. Chúng ta nên nhân danh Quang Vũ Đế cảm tạ Trời Phật Thánh Linh, cảm tạ các Ngài đã ban ân cho chúng ta cơ hội phục hồi nhà Hán. Bây giờ xin chư Tướng lập tức trở về đội ngũ, truyền lệnh nhổ hái tất cả thứ cỏ mọc trước xe cho ngựa ăn. Ngoài ra cũng nấu cỏ này lấy nước cho tất cả quân lính uống. Chúng ta lành bệnh, nhất định sẽ thành công.

Các Tướng nhận lệnh xong, bèn gọi thứ cỏ chữa được bệnh không tên ấy là “ Xa Tiền Thảo”, nghĩa là cỏ mọc trước xe, và ai nấy về đội ngũ của mình lo thu hái thật nhiều “ Xa Tiền Thảo”. Kết quả là toàn thể quân đội lành bệnh, cất tiếng hoan hô “ Xa Tiền Thảo vạn tuế” vang dậy khắp một vùng đóng quân.

Mấy hôm sau, Mã Vũ Tướng quân đứng trên xe Tư lệnh, chỉ huy cuộc truy kích địch quân. Sau khi ông thắng trận về Kinh đô ra mắt Quang Vũ Đế, trình bày mọi việc xong. Câu chuyện sự tích dược thảo “ Xa Tiền Thảo” được phổ biến khắp nơi.

Mã Vũ Tướng quân được phong tước Dương Hư Chầu, còn người Mã phu thông minh có công lớn tìm ra vị dược thảo quí giá vì mến tài đức nên không nhận chức tước, quyết tâm theo chủ tướng suốt đời để săn sóc bầy ngựa quý.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!