PHẦN THỨ NHẤT: MỘT SỐ ĐIỂM CẦN THIẾT TRONG CHÂM CỨU

PHẦN THỨ NHẤT

MỘT SỐ ĐIỂM CẦN THIẾT TRONG CHÂM CỨU

                                                               

Đặc điểm của phép chữa bệnh bằng châm cứu

  1. Khá nhiều loại bệnh dùng châm cứu có kết quả: Sách vở xưa đã ghi chép báo cáo điều trị của bệnh viện trong và ngoài nước, cũng nói lên phạm vi giải quyết của châm cứu khá rộng rãi ( nội, ngoại, san phụ, nhi)
  2. Gặp những bệnh thích hợp, châm cứu phát huy tác dụng nhanh chóng như: bất tỉnh,

đầy chướng bụng, đau dây thần kinh, viêm họng cấp, cơn hen xuyễn, cơn đau dạ dày…

  1. Chữa bệnh bằng châm cứu không cần dùng đến phương tiện phức tạp: một số kim châm, dài,ngắn khác nhau, một ít ngải cứu, một ít bông và cồn 75 độ, cho phép người thầy thuốc châm cứu phục vụ tốt người bệnh.

 

Tóm tắt bệnh hậu chủ trị của 12 kinh chính và mạch  nhâm, đốc

Kinh Thủ thái âm phế

+ Đường đi: Từ huyệt trung phủ ở ngực đi ra mé trong cánh tay đến tận móng tay cái ở huyệt Thiếu thương.

+ Bệnh hậu tóm tắt: khó thở, hen, tức ngực, đau họng, đau vai, cánh tay, đau dọc theo đường kinh này đi qua, có khi sợ lạnh hoặc lòng bàn tay nóng, cảm thương hàn phát sốt, đổ mồ hôi..

+ Chủ trị: Bệnh ở ngực, phế.

Kinh thủ quyết âm tâm bào

+ Đường đi: Khởi từ huỵêt Thiên trì cạnh đầu vú đi lên rồi theo đường giữa mé trong cánh tay, cánh tay, lòng bàn tay ra huyệt Trung xung đầu ngón tay giữa.

+ Bệnh hậu tóm tắt: Tức ngực, lòng bàn tay nóng, mặt đỏ, da vàng, hay cười, tim hồi hộp, thỉnh thoảng nhói buốt hoặc sưng đau, co thắt tại những vùng kinh này đi qua.

+ Chủ trị: Bệnh ở ngực, tim và bệnh thần chí.

Kinh thủ thiếu âm tâm:

+ Đường đi: Khởi từ huyệt Cực tuyền dưới nách ra mé trong cánh tay, cẳng tay, bàn tay đến huỵêt Thiếu xung ở đầu ngón út về phía trong.

+ Bệnh hậu tóm tắt: Đau tức ngực, khát nước, lòng bàn tay nóng, hay sợ, hồi hộp, sưng họng, đau dọc theo đường đi của  kinh này.

+ Chủ trị: bệnh ở ngực, tim và bệnh thần chí.

Kinh thủ dương minh đại trường:

+ Đường đi: Khởi từ huyệt Thương dương đầu góc móng dọc ngón tay trỏ, chạy dọc theo mé ngoài ngón trỏ, cẳng tay, cánh tay qua vai, cổ, lên mặt đến huyệt nghinh hương ở bên  cạnh mũi.

+ Bệnh hậu tóm tắt: Mắt vàng, răng đau, cổ đau, miệng khô, đổ nước mũi, cổ sưng đau hoặc đau dọc theo đường đi của đường kinh này đi qua.

+ Chủ trị: Bệnh ở đầu, mặt, mắt tai, mũi, miệng, răng họng(phía mặt trước) và bệnh phát sốt.

Kinh Thủ thiếu dương tam tiêu

+ Đường đi: Khởi từ huyệt Quan xung ở góc móng của ngón tay đeo nhẫn chạy dọc theo mé ngoài cánh tay lên cổ đến đuôi lông mày tại huyệt Ty trúc không

+ Bệnh hậu tóm tắt: Đau họng, ù tai, điếc tai, đau mắt hoặc đau sưng, tê co thắt những nơi kinh này đi qua.

+ Chủ trị: Bệnh ở đầu tai, mắt họng, ngực,sườn( phía mặt bên) và bệnh phát sốt.

Kinh Thủ thái dương tiểu trường

+ Đường đi: Khởi từ huyệt Thiếu trạch đầu ngón tay út về phía ngoài, chạy theo mé ngoài cánh tay lên cổ, mặt đến huyệt Thính cung trước tai.

+ Bệnh hậu tóm tắt: Sợ lạnh, ghê rét, diên cuồng, méo  mặt, liệt mặt, họng sưng đau, sôi bụng, đầy bụng, đau bụng táo kết, ỉa chảy, phù nề, sưng đau, hoặc tê dại, co thắt những nơi kinh này đi qua.

+ Chủ trị: Bệnh ở đầu, cổ, mặt, tai, mũi,họng( phía mặt sau) và bệnh phát sốt.

Kinh túc thái âm tỳ

+ Đường đi: Khởi từ huyệt ẩn bạch góc trong của móng chân cái chạy theo mé trong bàn chân, cẳng chân, đùi lên bụng, ngực đến huyệt huyệt Đại bao.

+ Bệnh hậu tóm tắt: Đau lưỡi, cứng lưỡi, ăn vào nôn ra, đau bụng, đau dạ dày, tiêu hóa kém, ỉa lỏng, vàng da, không ngủ được, người mệt mỏi, tê đau, co thắt những nơi kinh này đi qua.

+ Chủ trị: Bệnh tràng vị, tiết niệu, tiêu hóa và bệnh ở ngực, bụng.

Kinh túc thiếu âm thận:

+ Đường đi: Khởi từ huyệt Dũng tuyền dưới gan bàn chân đi dọc phía trong bàn chân,

cẳng chân, đùi lên bụng, ngực đến huyệt Du phủ.

+ Bệnh hậu tóm tắt: Mắt mờ, choáng mặt, sắc mặt đều sạm, đói không muốn ăn, miệng nóng lưỡi khô, tim hồi hộp, không yên, sợ hãi, đau lưng, di tinh, phù nề, người yếu xanh, lạnh hoặc dau ở những vùng kinh này đi qua.

+ Chủ trị: bệnh ở bộ phận sinh dục, tiết niệu, đau bụng dưới, chân mềm yếu.

Kinh Túc quyết âm can

+ Đường đi: Khởi từ huyệt Đại đôn, ở góc ngoài móng chân cái, đối với huyệt ẩn bạch chạy lên theo phía trong chi dưới, lên bụng, ngực đến huyệt Kỳ môn là hết.

+ Bệnh hậu tóm tắt: Đau bụng, đau lưng, mặt xanh nhợt nhạt, buồn bực, nôn mửa, co giật, chóng mặt, hoa mắt, bí đái, vãi đái, đắng miệng hoặc sưng đau co thắt những nơi kinh này đi qua.

+ Chủ trị: Bệnh ở bộ phận sinh dục, tiểu tiện, sườn ngực và bụng dưới.

Kinh Túc Dương minh vị:

+ Đường đi: Khởi từ huyệt Thừa khấp dưới mắt, xuống cổ, ngực, bụng, mặt trước ngoài chi dưới ra góc móng ngón thứ hai, tại huyệt Lệ đoài.

+ Bệnh hậu tóm tắt: Ghê rét, sợ lạnh, sốt rét, ôn bệnh đổ nước mũi, máu mũi, miệng méo, liệt mặt, đau răng, đau răng, đau hàm, lở môi miệng, sưng cổ, đau họng, đầy bụng, táo kết hoặc ỉa chảy, phát cuồng, đau dọc nhưng nơi đường kinh này đi qua.

+ Chủ trị: Đầu, mặt( phía trước) miệng, mũi, răng hàm, họng, bệnh nhiệt, bệnh thần chí, bệnh trường vị.

Kinh Túc thái dương bàng quang

+ Đường đi: khởi từ huyệt Tịnh minh ở khóe mắt trong đi lên đầu, xuống gáy lưng, mặt sau chi dưới ra góc móng chân ngón út tại huyệt Chí âm.

+ Bệnh hậu tóm tắt: Sốt rét, đau đầu, cứng cổ, đau lưng, vàng mắt, chảy nước mắt, máu mũi hoặc sưng đau, co thắt nhưng nơi kinh này đi qua.

+ Chủ trị: Bệnh ở mắt mũi đầu gáy, lưng, hậu môn, khoeo chân, bệnh nhiệt, bệnh thần chí.

Kinh Túc thiếu dương đởm

+ Đường đi: Khởi từ huyệt Đồng tử liêu ở đuôi mắt đi xuống ngực, sườn dọc theo bên

ngoài  đùi, cẳng chân, bàn chân đến góc móng chân thứ tư tại huyệt Khiếu âm.

+ Bệnh hậu tóm tắt: Miệng đắng, khi nóng, khi rét, đau đầu về phía mang tai, đau tức sườn, ngực, nặng nữa thì mặt xanh, vàng, đau sưng co thắt dọc theo đường đi của kinh này.

+ Chủ trị: Bệnh ở đầu, mắt, tai, mũi, họng( phía bên, phía nghiêng), bệnh sốt và các bệnh về sườn ngực.

Mạch Nhâm

+ Đường đi: Khởi từ huyệt Hội âm lên bụng, ngực, đến cổ, đến môi dưới tại huyệt Thừa

tương là hết.

+ Bệnh hậu tóm tắt: Nam sán khí, nữ bị bạch đới kinh không đều, thống kinh.

+ Chủ trị: Bệnh ở bộ phận sinh dục, tiết niệu, ở đại tiểu tràng. Các huyệt ở mạch Nhâm ngoài trị bệnh ở cục bộ còn có tác dụng toàn thân.

Mạch đốc

+ Đường đi: Khởi từ huyệt Trường cường đi lên sống lưng, đến đỉnh đầu, xuống mặt, vào trong môi tại huyệt Ngân giao.

+ Bệnh hậu tóm tắt: Đau sống, không cúi ngửa được, nặng thì lưng gù cong theo kiểu uốn ván.

+ Chủ trị: Bệnh ở Ngũ tạng, đau đầu, đau sống lưng, chữa cục bộ và còn có tác dụng chữa toàn thân.

 

Cách định huyệt đơn giản

( Để định huyệt đơn giản có nhiều cách)

a -Dựa vào tiêu chuẩn thước do: ví dụ ở cẳng tay, từ nếp nhăn ngang khủyu tay đến nếp ngang cổ tay, quy định là 12 tấc tay( chiếc lượng thốn), muốn lấy huyệt Ngoại quan thì đo dọc từ  lằn cổ tay phía ngoài lên 2 tấc giữa 2 xương cẳng tay

 b-Dựa vào mốc tự nhiên: Ví dụ huyệt Toản trúc ở đầu lông mày, huyệt Hợp cốc ở kẽ xương ngón tay trỏ và ngón tay cái, huyệt Thương dươngở góc trong móng tay trỏ

c-Dựa vào cảm giác tê, tức nặng: có điểm tê tức là đúng.

 Ví dụ: Khi ấn vào huyệt Túc tam lý, nếu đúng huyệt có cảm giác tê tức.

     Kết hợp nhiều phương pháp lại để định huyệt thì ít sai sót. Tuy nhiên trên lâm sàng thông dụng khi đã biết qua vị trí của  các huyệt, dùng cảm giác tê tức nặng khi ấn vào vùng huyệt để xác định huyệt vị là một cách đơn giản mà kết quả tốt. Thực tế đã chỉ rõ rằng khi châm vào huyệt vị được xác định bằng cách này thường dễ gây đắc khí.

    Tìm huyệt bắng cách nắn, bấm còn có tác dụng tốt nữa: Với bệnh nhân khí hư, châm đắc khí tay thầy thuốc ấn  vào huyệt và dọc theo đường kinh sẽ làm cho chóng đắc khí khi châm kim vào huyệt vị.

 

Cách chia đoạn cơ thể

+ Ở đầu: Từ chân  tóc trước đến chân tóc sau chia làm 12 tấc dọc hoặc từ huyệt ấn đường đến huyệt đại chùy là 18 tấc. khoảng giữa 2 mỏm xương Hoàn cốt, sau tai(xương chũm) chia làm 9 tấc ngang.

+ Ở ngực, bụng: Từ chỗ lõm dưới cổ họng( huyệt Thiên đột) đến mỏ ác chia thành 9 tấc dọc

Từ mỏ ác đến rốn chia làm 5 tấc

Khoảng giữa 2 đầu núm vú chia làm 8 tấc ngang.

+ Ở lưng, eo bụng: dựa theo đốt xương sống mà lấy huyệt.

+ Ở chi trên: Từ nếp nhăn trước nách đến nếp nhăn ngang khuỷu tay chia làm 8 tấc dọc.

Từ nếp nhăn ngang khuỷu tay đến nếp ngang cổ tay chai làm 12 tấc dọc.

+ Ở chi dưới: Từ mé trên xương mu đến mé trên xương bánh chè chia làm 12 tấc dọc.

Từ ngang bờ dưới lồi của xương chày tới chỗ lõm mắt cá trong chia làm 13 tấc dọc.

Từ đầu mấu chuyển tới xương đùi đến ngang giữa đầu gối chai làm 19 tấc dọc. Từ mé trên xương chày đến giữa mắt cá ngoài chia làm 16 tấc dọc.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!