PHẦN THỨ III: TRỊ LIỆU (II)

VII- BỆNH VỀ SINH DỤC

Bệnh di tinh

Nằm mơ thấy giao hợp với phụ nữ mà xuất tinh là mông tinh. Không thấy giao hợp mà tự xuất tinh là di tinh. Nói đến sắc dục mà tinh đã xuất gọi là hoạt tinh.

a- Lý: Tư tưởng nghĩ nhiều về sắc dục, thủ dâm tâm can hỏa động sinh ra (mộng tinh) – Thận hư hàn, tinh cung bất cố sinh ra di, hoạt tinh. b- Pháp: 

  • Chữa mộng, di tinh thanh tâm can an thần.
  • Chữa hoạt tinh, di tinh, bổ thận cố tinh.
  • Phương huyệt: Chữa mộng tinh, di tính do tâm hỏa vương:
    • Thần môn
    • Nội quan
    • Tâm du
    • Thận du
    • Tam âm giao
    • Thái xung

Nếu mộng: Thần môn + Tâm du 

Không mông: Thận du, Mệnh môn

Chữa chứng di, hoạt tinh, do thận suy

  • Khí hải
  • Quan nguyên
  • Trung cực
  • Tam âm giao

Nếu chưa đỡ cứu thêm: Chí thất hay châm bổ, châm nhẹ kẻo kích thích mạnh mạnh lại di tinh nhiều hơn.

  • Giải thích cách dùng huyệt: Tả Thần môn, Nội quan để thanh tâm tả, tả Thái xung để bình can dương khỏi sơ tiết: Bổ thận du, Tâm du, Tam âm giao để tư âm, an tâm cố thần làm cho không mông, không di tinh nữa. Bổ Quan nguyên, Trung cực, Khí hải để bổ hạ nguyên cố tinh, bổ Thận du, Tam âm giao để bổ thận âm cố tinh. Châm bổ rồi cứu. Sau khi khỏi rồi nên cứu một vài huyệt để củng cố lâu dài.

Xoa bóp: Xoa, ấn, bấm huyệt trước khí ngủ, tạo giấc ngủ sâu, tránh tắm tối, ướt đầu khi ngủ.

 

Bệnh liệt dương  

(dương suy)

  • Lý: Do thủ dâm sắc dục quá độ hoặc kinh khủng đột ngột gây thương thận.
  • Pháp: Tráng dương bổ thận d- Phương huyệt:
    • Thận du
    • Mệnh môn
    • Quang nguyên
    • Khúc cốt
    • Khí hải
    • Quy lai
    • Tam âm giao Các huyệt đều châm bổ

e- Giải thích cách dùng huyệt: Bổ Mệnh môn, thạn du để thận giáng hỏa tráng thận dương, Khí hải để bổ khí tráng dương, Quan nguyên, Khúc cốt để tboor hư tổn ở hạ nguyên, đặc biệt là 2 huyệt này khi châm vê kim để có cảm giác tinh. Chữa bệnh có kết quả tốt rồi phải tiếp tục cứu một thời gian để củng cố.

Không giao hợp trong thời gian điều trị

Mỗi ca châm trung bình 20 lần

Xoa bóp: Điểm ấn huyệt trên, tập hít thở sâu. Thở ra hít vào co thắt hậu môn đồng thời cử dương vật lên tập lâu cải thiện sinh lý chữa bệnh, duy trì kết quả điều trị.

   

 

VIII- BỆNH VỀ THẦN KINH VÀ TINH THẦN

Bệnh mất ngủ

a- Phân loại bệnh: 

  • Loại do tâm huyệt hư tổn: Đêm không ngủ được hay mơ hoặc chỉ lơ mơ ngủ hay chiêm bao sợ hãi, tỉnh dậy không ngủ tiếp được nữa, mạch phù sác.
  • Loại do tâm thận bất giao: Người buồn bực, hồi hộp, chóng mặt, đau đầu, mông mị dị tinh, mạch tế sác.
  • Loại do vị phủ bất hòa: ngực, bụng đầy tức, ho đờm. có lúc buồn nôn, đại diện không đều, mạch hoạt.
  • Loại do can đởm hỏa vượng: Hay cáu gắt, tức giận, đau đầu, đau sườn, đắng miệng, mạch huyền sác (Thực chứng)

Suy nghĩ vớ vẩn, hồi hộp không ngủ được, mạch huyền, hoãn vô lực (hư chứng) b- Pháp: Trị mất ngủ do tâm huyết hư: Bổ huyết an thần.

  • Trị mất ngủ do vị phủ bất hòa: Điều hòa vị phủ.
  • Trị mất ngủ do tâm thận bất giao: Tư thủy thanh hỏa, thông tam giao thận.
  • Trị mất ngủ do can đởm hỏa vương: Bình can thanh đởm (chứng thực), Bổ can ôn đởm d- Phương huyệt:
  • Trị mất ngủ do tâm huyết hư:
    • Thần môn (bổ)
    • Nội quan (bổ)
    • Tam âm giao (bổ)

Dùng tất cả thường xuyên

  • Trị mất ngủ do tâm thận bất giao
    • Thần môn (bình)
    • Nội quan (bình)
    • Tam âm giao (bổ)
    • Tâm du (tả)
    • Thận du (bổ)
    • Dũng tuyền (bổ)

Tất cả dùng thường xuyên

  • Trị mất ngủ do vị phủ bất hòa.
    • Thần môn (bình)
    • Nội quan (tả)
    • Tam âm giao (bổ)
    • Trung quản (bổ)
    • Phong long (tả)
    • Công tôn (bổ)
    • Nội đình (tả)

Trừ huyệt 2, 3, 6 tất cả đều dùng thường xuyên.

  • Trị mất ngủ do can đởm thực
    • Thần môn
    • Nội quan
    • Tam âm giao
    • Can du (Hoặc Thái xung)
    • Đởm du (hoặc Túc lâm khấp)

Nếu can đởm hư châm bổ hoặc cứu những huyệt trên, Liệu trình đầu châm tả, rồi châm bình bổ, bình tả. Khi ngủ được thì châm bổ hoặc cứu xen kẽ.

Trừ huyệt số 3 còn lại dùng thường xuyên.

đ- Gia giảm: Khi bị mất ngủ, chân lanh cứu Dũng tuyền

e- Giải thích cách dùng huyệt: Thần môn, Nội quan để thanh tâm an thần, Tam âm giao để tư âm giáng hỏa, Tả, Tâm du để giáng hỏa, bổ Thận du để tráng thủy giảm hỏa cho tâm thận giao thông thì thần yên, ngủ khỏe khong có mông mị nữa.

Nếu hu hỏa bốc lên, đầu nóng, chân lạnh cứu Dũng tuyền 5 – 10 phút để ôn thận, để dẫn hỏa quy nguyên là dễ ngủ.

Bổ Trung quản, Công tôn để điều hòa tỳ vị, tả Nội quan, Phong long, Nội đình dể tuyên thông vị khí trừ đờm, thấp nhiệt mới ngủ yên được.

Tả Can du, Đởm du hoặc Thái xung, Túc lam khấp là nguyệt huyệt 2 kinh này để thanh can đờm, khi cứu là để ôn tâm và can.

Chữa bệnh này nên châm lúc gần đi ngủ thì càng tốt.

Xoa bóp: Ấn, bấm, day các huyệt trên, đặc biệt xoa bóp vùng gáy, và 2 cung lông mày trước khi ngủ là tốt nhất.

.

 

Đau đầu

a- Triệu chứng: 

  • Đau đầu ngoại cảm: Thường thấy các chứng ở biểu đau liên miên, sốt 38 – 400, ghê rét, nhiều nước mũi, mạch nói chung phù nhất là ở 2 bộ thốn. Mạch phù hoãn là thương phong, phù khẩn là phong hàn, phù hư là phong thử, phù sắc là phong nhiệt …
  • Đau đầu nội thương: Lúc đau lúc không. Đau đầu do khí hư thì hay đau đầu về sáng và bên phải. Đau đầu do cao huyết áp hoặc thiếu máu thì xem bài cao huyết áp và bài chóng mặt.
  • Lý: Khí huyết bất điều, ngoại tà xâm nhập kinh lạc gây ra đau đầu.
  • Pháp: Thông kinh hoạt lạc, thanh đầu chỉ thống.
  • Phương huyệt: – Trị đau ở đỉnh đầu

1- Thiên ứng 2- Bách hội

3- Hành gian

Tất cả đều tả và dùng thường xuyên

Bị dụng: Thông thiên, Tú thần thông, Tiền đính, Hậu đính – Trị đau ở hai bên mang tai.

  • Thiên ứng
  • Hàm yến
  • Túc lâm khấp
  • Thái dương

Tất cả đều tả và dùng thường xuyên – Trị đau ở phía trước đầu:

  • Thiên ứng
  • Thượng đình
  • Đầu uy
  • Hợp cốc
  • Nội đình

Tất cả đều tả và dùng thường xuyên – Trị đau ở phí chẩm, gáy:

  • Thiên ứng
  • Thiên trụ
  • Phong phủ
  • Côn lôn

Tất cả đều tả và dùng thường xuyên

đ- Gia giảm: Đau đầu có tính chất thay đổi vị trí thì thêm Phong trì

  • Giải thích cách dùng huyệt: Thiên ứng là điểm đau nhất có thể nằm trên đường kinh và trùng với huyệt vị, có thể nằm ngoài đường kinh hoặc không trùng với huyệt vị nào, Nếu ấn vào huyệt Thiên ứng bệnh nhân thấy dễ chịu là hư thì cả phương huyệt châm bổ và cứu, ấm vào huyệt Thiên ứng không chịu được là thực cả phương huyệt đều châm tả.

Bách hội ở giữa đỉnh đầu, chủ trị đau cục bộ đỉnh đầu, có can hỏa thượng xung, hoặc đau vì can phong châm tả để thanh đầu não, trừ phong, đau cấp thì xuất hiện nhẹ, nếu hư chứng thì châm bổ hoặc cứu để bổ dương khí, nhẹ đầu khỏi đau.

Nếu cần thì mới dùng thêm 1, 2 huyệt như Tứ thần thông (cục bộ) Tiền đính, Hậu đính, Thông thiên (lân cận). Hanh gian (ở cách xa) (và cũng vì kinh Túc quyết âm can quan hệ với

Bách hội ở đỉnh đầu) Đau đầu về 3 phía trước, sau và 2 bên cũng dùng cách phối huyệt theo kinh như thế mà suy ra (như Đởm kinh quan hệ với 2 bên mang tai, Bàng quang kinh, ở phía sau đầu, gáy. Thủ túc dương kinh kinh ở phía trước trân mặt là phép tuần kinh)

Xoa bóp: Bấm, vuốt, vờn, day từ nhẹ đến mạnh dối với chứng thực nhẹ chứng hư.

 

 

Bệnh suy nhược thần kinh

  • Triệu chứng: Người mệt mỏi, đau đầu, trí nhớ giảm sút, nóng ruột, bồi hồi, đứng ngồi

không yên, buồn phiền, dễ xúc động. Bệnh này thường thấy ở người suy nghĩ quá mức.

  • Lý: Theo đông y tam là chủ: Tâm tốt thì tinh thần sáng suốt, thông minh, Tâm bị khiếp sợ kích thích căng thẳng không tàng được thần thì sinh các bệnh. Như vậy rất phù hợp với lý thuyết hoặt động của thần kinh cao cấp và cũng phù hợp với các bệnh mà Tây y gọi là bệnh suy nhược thần kinh.
  • Pháp: Chấn tâm an thần, định trí, thông tâm, giao thận.
  • Phương huyệt:
    • Thiên ứng (bổ)
    • Bách hội (bổ)
    • Tứ thân (bổ)
    • Thần môn ( tả)
    • Phục lưu (bổ)
    • Thái xung (bình)
    • Nội quan
  • Giải thích cách dùng huyệt: Bổ Bách hội và 4 huyệt Thần thông để bổ não và cường tráng tinh thần, Thần môn là huyệt của tâm để thanh tam an thần, tâm được thanh thì hỏa dẫn xuống làm cho ổn thận. Bổ phục lưu là huyệt mẹ để chữa thận hư làm cho thận thủy cường tráng lại đưa lên giáng tâm hỏa cho tâm thận giao thông. Thái xung để bình can giải uất, giải được bớt lo buồn tức giận cho thần kinh dung hòa ổn định. Nội quan thông lợi lồng ngực dễ thở khoan khoái.

Xoa bóp: Theo kinh nghiệm điều trị ngoài ấn, bấm, điểm các huyệt trên chúng tôi thường xoa, xát, day, vờn, vỗ toàn thân rất nhẹ, bệnh nhân ngủ dễ, ăn thấy ngon miệng ngay.

Chú ý: Tứ thần thông là 4 huyệt chính, huyệt Bách hội một thốn ở 4 phía chỗ lõm, cùng cả huyệt Bách hội gọi là Ngũ hoa huyệt.

.

Bệnh huyết áp cao

Phân làm 2 loại: Chứng thực và chứng hư:

Chứng thực: 

  • Triệu chứng: Tinh thần nhanh nhẹn, mắt đỏ, đầu căng, hay đau hoặc tê nặng có lúc chóng mặt, tức ngực, đầu nóng khó chịu, muốn đắp nước cho mát, chân đi bập bỗng, có lúc như tê cứng chân muốn ngã, mạch huyền cứng hay to hơn mạch thường, do huyết áp thấy từ 160/190 trở lên.
  • Lý: Can hỏa xung lên, can khí uất nghịch c- Pháp: Thanh hoat bình can hạ áp d- Phương huyệt:
    • Thiên ứng
    • Bách hội

Xuất huyết nhẹ

  • Thiên đột
  • Nội quan
  • Thần môn
  • Hanh gian Châm tả

e- Giải thích cách dùng huyệt: Thiên ứng, Bách hội, xuất huyết nhẹ để nhẹ đầu não cộng với dưới tả Hanh gian là huyệt Huỳnh hỏa để tả can hỏa xung lên đầu đồng thời là phép bệnh chữa dưới để dụ đạo xuống. Thiên đột là huyệt đặc hiệu hạ huyết áp. Thần môn là Du huyệt của kinh Tâm là kinh con của kinh ca, mẹ thực thì tả con. Nội quan của kinh Tâm bào cũng là kinh con của can đồng thời có quan hệ tay chân. Tổng hợp thành lực lượng hùng hậu để hạ huyết áp nhanh.

Chứng hư

  • Triệu chứng: Đau đầu nhẹ, chóng mặt, trí nhớ giảm sút, mắt xít, mày khô, ngủ mơ mộng, bàn tay n óng, mạch huyền tế sác hoặc mạch thốn thịch, xích hư, phải bổ âm liễm dương thì áp huyết xuống, nến còn tả mãi thì áp huyết tụt xuống quá.
  • Lý: Âm hư hỏa động, ca dương vượt lên huyết xung lên não, người bị suy nhược nặng c- Pháp: Tư âm giáng hỏa, bổ thủy cho nhuận can, huyết áp tụt xuống.

d- Phương huyệt: 

  • Bách hội
  • Trung cực
  • Túc tam lý
  • Thái xung
  • Phục lưu Tất cả đều châm bổ đ- Bị dụng: Thiên đột, Cự khuyết, châm vừa đắc khí thì mới không châm sâu. e- Giải thích cách dùng huyệt: Riêng Bách hội, bình bổ, không xuất huyết (Huyệt lý như trên). Trung cực là huyệt 3 kinh âm hội với Nhâm mạch là huyệt bổ âm rất tốt. Túc tam lý bổ trung khí, hạ nghịch khí rất tốt. Thái xung là huyệt nguyên của kinh can bổ để điều hòa can huyết c ho can dương dịu xuống, Phục lưu để bổ thận thủy cho nhuận can âm, Liễm can dương (tức con hư thì bổ mẹ)

Xoa bóp: Xoa vuốt 2 bên sườn bình can giáng áp điểm các huyệt Thiên ứng tại gáy, Dũng tuyền 2 và cả gan bàn chân.

 

 

 

 

Bệnh huyết áp thấp

  • Triệu chứng: Qua những thời kỳ huyết áp cao rồi thấp dần hoặc tự nhiên tụt xuống,

thần sắc ủ dũ, chân tay lạnh, mệt lả, mach trầm vi, nguyên khí suy nhược.

  • Lý: Dùng thanh, tả quá nhiều để hạ áp, làm cho âm dương khí quá suy nhược, châm

âm hư tổn.

  • Pháp: Dương hu thì hồi dương cố thoát, âm hư thì bổ âm liễm dương.
  • Phương huyệt: Hồi dương cố thoát thì:
    • Đản trung
    • Thần khuyết
    • Khí hải
    • Quan nguyên

Nếu âm hư thì

  • Trung cực
  • Tam âm giam
  • Dũng tuyền e- Giải thích cách dùng huyệt: Cứu, bấm, xoa nóng các huyệt trên là để hồi dương cố thoát đều cứu cho đến khi người ấm mới thôi, Ba huyệt dưới là để bổ âm liễm dương nếu dương hu nhiều thì cứu huyệt hồi dương và châm bổ huyệt dương không hành châm mà để lâu trong khi cứu, âm hư thì cứu hoặc châm bổ, cần theo dõi mạch và đo huyết áp nếu thấy lên dần là tốt, đột ngột là xâu, cần thì chuyển cấp cứu.

 

 

Bệnh viêm não B

  • Triệu chứng: Khi mới cảm nhiễm ít lâu (ủ bệnh) có triệu chứng ngoại cảm từ 1 – 5 ngày ghê rét, sợ gió, sốt nhẹ không có hoặc có mồ hôi ra khắp người, không có hoặc có khác, ít dùng phương huyệt cảm mạo (xem bệnh này có chừng gì thì châm chứng ấy). Châm cho mồ hôi ra nhiều, đều, đại tiểu tiện thông lợi. Khi bệnh toàn phát sẽ giảm nhẹ, Nhưng sau 3 ngày bệnh lại sốt cao dần đến 39 – 400C, lúc này các triệu chứng thần kinh hiện ra như cấp kinh phong, giật, bất tỉnh, hôn mê, sinh ra các chứng như ăn nuốt không được, nôn mửa, đầy bụng, liệt từng bộ phận (mù, què, câm, điếc) như vậy sinh chứng gì phải chữa ngay. Nếu không chữa được để sau khi hết sốt sẽ sinh ra di chứng càng lâu ngày nào càng khó chữa ngày ấy. Bệnh việm não bao gồm cả viêm màng não có mủ đã chữa là khỏi cả.
  • Lý: Phong nhiệt cấp phát có tính truyền nhiềm thành dịch.
  • Pháp: Thanh tâm can hỏa, tiêu tà phong nhiệt, tư âm bổ huyết, chấn tâm an thần.
  • Phương huyệt :

Phương huyệt 1

Khi mới ủ bệnh, dùng phương huyệt cảm mạo trong sách này, tùy theo bệnh có chứng gì chữa chứng ấy.

  • Phương huyệt 2:

Cách chữa viêm não sau khi toàn phát

  • Bách hội
  • Hành gian 3- Phong trì
  • Thần môn
  • Nội quan
  • Tam âm giam
  • Cách du
  • Huyết hải e- Giải thích cách dùng huyệt

Bách hội, Phong trì là huyệt trừ phong điều hòa thần kinh đại não, châm tả thì thanh (mát) tâm an thần, châm bổ thì bổ tâm an thần, Huyệt Thần môn là du huyệt của kinh dể giải nhiệt ở tâm cho mát, sau gần hết nóng thì bổ để tăng cường bảo vệ không cho di độc vào tâm được mà cả tâm phế ổn định và mạnh lên. Hành gian là hỏa huyệt của kinh can tả cho mát can hết phong, bổ Tam âm giao để tư âm giáng hỏa cho tốt về sau. Bổ cách du, Huyết hải để bổ huyết nhuận gan cho được chóng lành mạnh. Bệnh này là bệnh nhiệt, bệnh lâu hại âm, âm hư huyết thiếu nên phải chú ý tư âm bổ huyết cho tốt. Sau khi đã hết bệnh cần cùng cổ để bồi bổ theo phương huyệt bệnh cấp kinh phong, phương huyệt kể trên có chứng như trên thì chọn một trong những phương huyệt trên có chứng gì dùng phương huyệt ấy cho đúng lúc, kịp thời. Còn khi phát hiện bệnh cấp bách, thầy thuốc tổng hợp cả những phương huyệt kể trên căn cứ vào triệu chứng và những hiểu biết về ý nghĩa của huyệt vị mà chọn lựa những huyệt thích hợp với bệnh tình hiện tại, lập ra 2 phương huyệt, sáng châm 1 phương, chiều châm 1 phương để đối phó nhanh chóng.

đ- Gia giảm:

  • Đau đầu Phong phủ, Đầu duy, Thái dương, Thiên trụ.
  • Nôn mửa gia Thượng quản, Túc tam lý
  • Bí đái, bụng đầy hay còn chứng gì mà chưa nói đến đều xem các phương huyệt của các bệnh này là thích ứng, sẽ giải quyết được nhanh tốt nhưng là loại bệnh chuyên khoa nên chữa kết hợp đông tây y thì kết quả mau hơn.

Xoa bóp: Bấm ấn xoa tất cả các huyệt trên, khắc phục các di chứng kết hợp vận động các chỉ khi bệnh, xoa bóp kéo dài nhiều tháng.

 

Bệnh đau cột sống

a- Triệu chứng: 

  • Lúc đầu thỉnh thoảng đau nguyên cột sống, mỗi lúc mỗi nơi, đau có chu kỳ, có khi đau ran cả ngoài lưng, hay chỉ đau ngang thắt lưng.
  • Có khi đau 1 hoặc 2 chỗ, khi người khỏe tốt thì đau ít, sức khỏe kém thì đau nhiều.

b- Lý: 

  • Phong thấp thương thận
  • Thận hư xương yếu dần biến hóa thành hư tổn c- Pháp: Trừ phong hàn, thấp, bổ thận cho mạnh sống lưng.

d- Phương huyệt: Đoạn trên gồm:

  • Thiên ứng
  • Đại chùy
  • Nhân trung
  • Bách hội 5- Thân trụ

6- Mệnh môn

Đoạn giữa châm: 7- Thận du

  • Dương quan Đoạn dưới chân:
  • Ủy trung
  • Trường cường
  • Âm lăng tuyền
  • Phong môn đ- Bị dụng: 17 huyệt Hoa đà là Huyệt hai bên cột sống, cứ dưới 2 đốt giáo nhau ngang

ra 5 phân e- Giải thích cách dùng huyệt: Huyệt 1, 3, 2 chỉ dùng châm, 1 liệu trình đầu dùng thường xuyên để trữ phong thấp, giảm đau nhất định rồi chỉ dùng xen kẽ. Huyệt 4, 5 dùng xen kẽ. Ủy trung dùng thường xuyên còn hai bộ kia dùng xen kẽ. Huyệt số 10 là huyệt đầu của mạch Đốc làm cường tráng cột sống, gặp các bệnh t hoái hóa với hóa chữa theo phương huyệt này đều có kết quả.

Xoa bóp: Ngoài bấm, day các huyệt trên, còn bấm các huyệt hoa đà giáp tích, đặc biệt dùng thủ thuật vỗ (khum tay kín vỗ dọc cột sống bệnh nhân chịu đau thì hiệu quả cao) cần kết hợp vận động, tập luyện.

 

Đau thần kinh tọa

a- Triệu chứng: Đau từ dưới thắt lưng trở xuống, đặc biệt là vùng hông rồi có thể truyền xuống trước hoặc sau, hoặc mặt ngoài đùi chân rồi xuống tới cẳng chân, bàn chân. Đau nhức ê ẩm, tê buốt, lúc đau dữ, lúc ê ẩm kéo dài. Các đường đau này so với y học hiện đại đều đúng vào đường thần kinh hông. Việc đi lại, cử động gặp nhiều khó khăn.

Phân làm 2 loại:

  • Chứng hư: Sắc xanh, thở, nói nhỏ, mạch nhỏ vô lực, đái nhiều và trong là chứng hư.
  • Chứng thực, sắc đỏ, nói to, nói to, mạch phù sắc, đái vàng xẻn. b- Lý: Thận hư bị cảm phong hàn thấp (có khi đau lâu ngày hàn uất hỏa nhiệt).
  • Pháp: Bổ thận trừ phong hàn thấp nhiệt.
  • Phương huyệt: (có 1 phương huyệt chính và 3 phương huyệt phụ) – Phương huyệt 1:
    • Thiên ứng (chọn chỗ đau nhất ở hông)
    • Thận du (bổ)
    • Mệnh môn (bổ)
    • Thứ liêu (tả)
    • Bàng quang du (tả)
    • Âm lăng tuyền (tả) Phương huyệt chính – Phương huyệt 2:
    • Bạch hoàn du
    • Thừa phủ
    • Ủy trung
    • Côn lôn Chữa đau xuống sau đùi – Phương huyệt 3: 1- Hoàn khiêu
    • Phong thị
    • Dương lăng
    • Huyền chung
    • Khâu khư

Chữa đau xuống bên hông ngoài đùi – Phương huyệt 4: 1- Phục thỏ

  • Túc tam lý
  • Giải khê
  • Nội đình Chữa đau xuống trước đùi
  • Giải thích cách dùng huyệt: Bổ thận du để bổ thận âm. Mệnh môn để bổ thận dương, Thứ liêu, Bàng quang du là huyệt cục bộ. Âm lăng tuyền để trừ thấp … Còn 3 kinh, kinh nào có đau lấy huyệt theo kinh đó, không đau thì không châm đó là phép lấy huyệt theo kinh. Ngoài ra còn tùy t heo điểm đau nhiều hay ít, sức người khỏe hay yếu mà lấy số huyệt cũng như chủ huyệt và phối huyệt cho thích hợp.

Xoa bóp: Làm các thủ thuật xoa bóp: mềm cơ làm khí huyết lưu thông. Bệnh nhẹ không cần châm, sau khi khỏi cần bấm thêm vài ngày để có kết quả.

Theo kinh nghiệm đau thần kinh tọa lâu thường có các bệnh cột sống, thoái hóa gai đôi, vôi hóa vậy cần phải luyện tập.

 

 

Đau vùng sườn

(hiếp thống)

a- Triệu chứng: 

  • Khi đau người nóng lên, đau từng cơn giật là nhiệt.
  • Đau liên miên âm ỉ, sợ lạnh là hàn.

Phân 3 loại:

  • Do can khí uất nghịch: Đau 1 hay 2 bên sườn hoặc đau ran cả ngực sườn, có cảm giác đầy tức đưa lên, khó chịu, nôn ọe, người cáu gắt, buồn bực.
  • Do đàm ẩm: Bộ sườn ngực đau tức, đau thì khát, ho đau nhấm nhói, bụng buồn bực.
  • Do ứ huyết: Sau khi bị thương, bị ngã, bị đánh sườn đau như xiên, đau ran ra ngực, lưng.

b- Pháp: Trị đau sườn do can khí uất nghịch thư can, hòa vị.

Trị đau sườn, ngực do đàm ẩm, điều khí tiêu đờm.

– Trị đau sườn, ngực do ứ huyết, điều khí hoạt huyết, thông kinh tán ứ.

d- Phương huyệt:

  • Trị đau sườn, ngực do can khí uất nghịch, tà phạm tâm bào.
    • Thiên ứng (tả)
    • Nội quan (tả)
    • Túc tam lý (bình)
    • Dương lăng tuyền (tả)
    • Hành gian (tả)

Dùng thường xuyên các huyệt 1, 2, 4, 5.

  • Trị đau sườn, ngực do đàm ẩm.
    • Thiên ứng (tả)
    • Chương môn (tả)
    • Trung quản
    • Phong long

Tất cả dùng thường xuyên

  • Trị đau sườn, ngực do ứ huyết: 1- Thiên ứng (tả)
    • Cách du
    • Can du
    • Huyết hải
    • Dương lăng tuyền

Dùng thường xuyên có các huyệt số 1, 2, 4 e- Giải thích cách dùng huyệt: 

Nội quan để thanh tâm, đồng thời sơ thông can khí để khỏi đau sườn,ngực.

Túc tam lý để hòa vị, hạ khí, giáng nghịch Dương lăng tuyền, Hành gian để thư can thông đờm cho khỏi đau, trong chứng đau do can khí uất nghịch.

Chương môn để sơ can, Trung quản, Phong long để hạ khí tiêu đờm cho khỏi đau sườn, ngực do ứ huyết, nếu vùng đau Thiên ứng nhỏ dùng 1 kim để châm, nếu rộng dùng 3 – 5 kim ( 1 ở giữa, 4 ở chung quanh ) châm từ ngoài hướng kim tụm vào trong.

Cách du, Huyết hải thì hoạt huyết giảm đau, Dương lăng tuyền để thông hoạt kinh Thiếu dương là kinh chính chủ quản vùng sườn khỏi đau.

Xoa bóp: Vuốt dọc xương sườn, bấm ấn các huyệt trên, có thể vuốt th êm dọc lưng các du huyệt.

 

 

Đau tức ngực

(Hung thống)

  • Triệu chứng: Thấp khí vận lên hoặc nóng, hoặc lạnh mà đau tức.
  • Lý: Khí nghịch xung lên, ngọa tà xâm phạm vào tâm thế. c- Pháp: Điều hòa thông kinh chỉ thống, giải trừ tà phạm bào lạc.
  • Phương huyệt:
    • Thiên ứng (bình)
    • Đản trung (bổ)
    • Nội quan (trước tả sau bổ)
    • Thiên đột (tả)

Dùng thường xuyên các huyệt 1, 3, 2. Nếu có bị c hấn thương nhẹ, thêm Cách du.

  • Giải thích cách dùng huyệt: Đản trung là khí hội châm cho khí thông thì ngực được

nhẹ nhàng, Thiên đột để hạ khí tiêu đờm làm cho dễ thở, khỏi đau tức.

Nội quan là Lạc huyệt của Kinh Tâm bào có chức năng bảo vệ … một tổng huyệt chữa bệnh lồng ngực làm cho tim phổi điều hòa, thư thái, hết đau tức.

Thiên ứng để thông kinh hoạt lạc chỉ thống, Cách du để hoạt huyết, tan ứ, hết đau tức.

Người yếu ghê lạnh, ưa xoa bóp chỉ châm bổ và cứu.

Người khỏe, ấn bóp thấy đau khó chịu thì châm tả.

Xoa bóp: Xoa xát lồng ngực, day huyệt Thiên  đột, đặc biệt chú trọng huyệt Nội quan có thể tự làm lấy khi cần.

 

 

Động kinh

  • Triệu chứng: Khi lên cơn đột nhiên ngã vật bất tỉnh, minh mẩy cứng đờ, cắn răng, trợn mắt, miệng, mắt mép xệch, chân tay co giật, khi tỉnh lại, người mỏi mệt, lờ đờ rồi trở lại bình thường. Có khi các cơn nối tiếp nhau, vì bệnh nhân chưa tỉnh thì cơn khác lại xẩy ra.
  • Lý:
  • Phong nhiệt, đàm hỏa quá thịnh hoặc khí huyết hư bị khiếp sợ mà phát ra. – Khi có thai, mẹ bị kinh khiếp đẻ con ra bị động kinh (động kinh tiên thiên) c- Pháp: Trấn kinh an thần, thanh nhiệt tức phong tiêu đờm, tư bổ khí huyết âm dương. d- Phương huyệt:
    • Bách hội
    • Phong trì
    • Thân trụ
    • Thần đạo
    • Cân súc
    • Trường cường
    • Đại lăng
    • Nội quan
    • Thần môn
    • Cự khuyết 11- Hành gian
    • Trung quản
    • Phong long
    • Can du
    • Thận du

Trong này dùng thường xuyên có các huyệt 1, 2, 3, 4, 5, 6, 8, 9, 11. Trong 8 huyệt trên mỗi ngày chỉ châm 4 huyệt.

  • Ngày đầu: Bách hội, Thân trụ, Thần đạo, Cân súc
  • Ngày thứ 2: Trường cường, Nội quan, Thần môn, Hành gian, cứ thế luân lưu xen kẽ kề nhau. Còn 7 huyệt kia chọn lấy 3- 4 huyệt

Bị dụng: Hậu khê đ- Gia giảm

  • Gặp lúc lên cơn, châm thêm Nhân trung, Hợp cốc.
  • Lè lưỡi, sùi bọt mép, thêm Thiếu xung
  • Thở dồn, trợn mắt, cứu thêm Tín hội
  • Lên cơn về ban ngày thêm Thân mạch – Nếu lên cơn về dêm thêm Chiếu hải.
  • Nếu do Tiên thiên, cứu thêm Quan nguyên, Mệnh môn, Âm giao.

e- Giải thích cách dùng huyệt: Bách hội, Thân trị, Thần đạo, Cân súc, Trường cường chữa co giật, co cứng. Đại lăng, Cự khuyết, Nội quan, Thần môn để trấn an thần, ổn định kinh giản.

Hành gian để bình can tức phong, Trung quản, Phong long để tiêu đờm.

Can du, Thận du để bổ can huyết, tư âm giáng hỏa, Quan nguyên, Mệnh môn có tác dụng bổ dương để bồi bổ tiên thiên.

Xoa bóp: Bấm huyệt, xoa bóp kết hợp châm, thuốc, nhằm phục hồi toàn thân, nhất là mỏi mệt sau lên cơn.

 

 

BỆNH BẠI LIỆT

  • Triệu chứng: Thường sau 1 cơn sốt, bệnh nhân thấy tay chân không cử động được, đi

đứng, cầm lấy khó khăn, có khi cả bên trái và bên phải đểu liệt, có khi chỉ một bên.

  • Lý: Phong nhiệt di chứng c- Pháp: Trừ phong nhiệt thông kinh lạc tráng, cân cốt cơ nhục. d- Phương huyệt:

Trị liệt chi trên

  • Thiên ứng
  • Đại chữ
  • Phong môn
  • Thân trụ
  • Trung chữ
  • Thiếu dương

Dùng thường xuyên huyệt số 1, 2, 4, 6. Huyệt số 6 châm trước tiên rồi mới châm các huyệt khác.

đ- Gia giảm: 

  • Liệt cả chi, thêm Thiếu thương, Nội quan, Khúc trạch – Liệt cánh tay, thêm: Xích trạch, Kiên ngung.
  • Liệt cẳng tay, thêm: Tiểu hải, Đại lăng
  • Lê bàn tay, thêm: Tam gian

Trị liệt ở chi dưới

  • Ấn bạch
  • Thiên ứng
  • Mệnh môn
  • Phong thị
  • Thận du
  • Đại tràng du
  • Dương quang

Dùng thường xuyên các huyệt số 1, 3, 4, 2.

Chú ý: Châm huyệt Ẩn bạch trước rồi mới châm các huyệt khác,

  • Liệt ở đùi, thêm Hoàn khiêu, Huyết hải
  • Liệt ở cẳng chân, thêm túc tam lý, Thái khê
  • Liệt ở bàn chân, thêm Giải khê, Thái xung, Ẩn bạch (huyệt nay châm từ đầu) – Liệt cà chi dưới thêm Dương lăng tuyền, Tam âm giao, Thái khê Chú ý:
  • Nếu nhiệt quắp vào vì kinh âm mạnh châm tả Thiên ứng thuộc kinh âm ở trong rồi bổ kinh dương ở ngoài cho kéo về vị trí cũ bình thường.
  • Nếu liệt vành ra vì khi kinh dương mạnh, châm bổ Thiên ứng thuộc kinh âm ở trong rồi tả kinh dương ở ngoái cho kéo về vị trí cũ bình thường.
  • Mỗi lần châm dùng độ 4, 5 huyệt ở kinh âm, ở kinh dương và khi làm thủ thuật dẫn khí phải làm cho cảm giác đắc khí ở huyệt thuộc kinh âm đi lên và ở huyệt thuộc kinh dương, cảm giác phải dẫn xuống để âm dương giao hòa thì bệnh này sẽ chóng lành hơn.
  • Bệnh mới mắc chữa chóng khỏi. Đặc biệt là bại liệt ở trẻ em bị di chứng viêm não để lâu khó trị, teo cơ, liệt nhũn, sai khớp càng khó hồi phục.

ngón tay, ngón chân xòe ra hay co cụp thêm Bát phong.

e- Giải thích cách dùng huyệt: Khi bệnh còn mới có hiện tượng phong nhiệt, tả Phong môn (chi trên), Phong thị (chi dưới) để trừ phong, hoặc người yếu thì không nên dùng liên tiếp (chỉ dùng xen kẽ châm bổ và cứu).

Chú ý huyệt. Thiên ứng, ở bệnh này có tầm quan trọng đặc biệt nên phải tìm cho thật chính xác.

Đại trữ bổ xương, Dương lăng bổ gân, Tam âm giao bỏ tỳ sinh cơ nhục, Túc tam lý thuộc

kinh dương minh làm mạnh tôn cân.

Phải biện chứng yếu mặt nào bổ mặt ấy (cơ nhục teo dụng Tam âm giao, Công tôn, gân yếu trọng dụng Dương lăng tuyền, Túc tam lý…)

Bát phong, Bát tà chỉ châm ở những khe ngón bên có bệnh, không nên châm cả 8 huyệt.

Khi bệnh đã đỡ nhiều, phải bổ huyết, bổ âm là chính hoặc cả  bổ khí, bổ dương.

Xoa bóp: Xoa bóp, ấn điểm có vai trò quan trọng trong phục hồi chức năng vận động, tăng cường sức khỏe, Thầy làm và hướng dẫn người nhà bệnh nhân làm kết hợp.

  

Bệnh Liệt mắt

  • Triệu chứng: Mắt bệnh nhân không khép kín, miệng méo xệch, liệt bên phải thì miệng méo bên trái và ngược lại, cơ hàm mặt bị yếu khó nhai, hoặc ăn uống rơi rớt hoặc thức ăn mắc ở bên liệt, lưỡi không thè dài ra được.
  • Lý: Nhân vì chính khí hư nên bị thương phong c- Pháp: Trừ phong, bổ chính
    • Thiên ứng
    • Phong trì
    • Giáp xa
    • Địa thương
    • Ngư yêu
    • Nhân trung Bị dụng:
    • Dương bạch
    • Nghinh hương
    • Ế phong
    • Thừa tương
    • Ty trúc không
    • Quyền liêu

Dùng thường xuyên có các huyệt số 1 à 5 số còn lại luân lưu xen kẽ: có thể kết hợp thêm gõ kim hoa mai tại cục bộ bị liệt.

e- Giải thích cách dùng huyệt: Tả thiên ứng để thông kinh hoạt lạc, tả Phong trì để trị phong ở đầu mặt, Địa thương để điều chỉnh cho miệng khỏi méo xệch và khép kín được, Nhân trung làm cho môi trở về vị trí bình thường.

Các huyệt bị dụng chỉ dùng để thay đổi cho phương huyệt chính khí phải châm lâu dài khi mới bị liệt mặt, châm bình bên liệt cho bên liệt mạnh lên.

Châm lâu chưa khỏi, châm tả bên lành, châm bổ bên liệt, đem bớt khí lực bên mạnh bù cho bên yếu.

Xoa bóp: Bấm bổ xung các huyệt Hợp cốc, Tuyệt cốt cùng các huyệt trên.

 

 

 

Di chứng viêm não

a- Triệu chứng: Sau khi bị viêm não bệnh cấp đã hết, còn một số bệnh khi có thể bị di

chứng viêm não như sau:

  • Điên cuồng, hung hăng hoặc đần độn, động kinh – Thị lực giảm sút nặng, hoặc không trông thấy.
  • Câm điếc
  • Không nhai, không nuốt được, chảy dãi, nghiến răng hay cắn nhá quần áo, đồ đạc
  • Chân tay múa, vờn, co cứng và nhiều định hình khác như dơ tay, móc mồm, móc tai mũi.

d- Phương huyệt: 

  • Bách hội
  • Thần môn
  • Nội quan
  • Tam âm giao
  • Dũng tuyền
  • Đại chùy
  • Thân trụ
  • Giải khê

Tất cả châm tả

  • Chữa đần độn: Châm bổ 5 huyệt trên (1, 3, 2, 4, 5)
  • Chữa kinh giật hay động kinh: Châm 8 huyệt trên thêm Hợp cốc

Chữa mắt không trông thấy,

  • Tinh minh
  • Đồng tử liêu
  • Phong trì

Chuyên khoa xác minh phần lới kết luận là teo thị giác thần kinh

Chữa tai điếc (xem bài câm điếc)

Chữa cảm (xem bài chữa cảm)

Chữa chứng không nhai, không nuốt

  • Liêm tuyền
  • Thừa tương
  • Giáp xa
  • Địa thương

Chữa chứng chảy dãi, nghiến răng:

  • Giáp xa
  • Thừa tương

Chữa chân tay múa, vờn và nhiều định hình nói trên

Tay:     1- Nội quan             2- Hợp cốc

Chân:          1- Thái xung

  • Hành gian
  • Túc lâm khấp

Chữa buốt đầu, cứng cổ hay cổ mềm yếu, không ngoảnh đi ngoảnh lại được

Yếu:         1- Thiên ứng 2- Bách hội

  • Phong phủ
  • Thiên trụ
  • Thân trụ

Chữa cốt sống buốt, cứng đau hoặc mềm yếu:

  • Nhân trung
  • Đại chùy
  • Thân trụ
  • Cân súc
  • Trường cường

Chữa bệnh bại liệt (xem bài bại liệt)

đ- Gia giảm: Khi các chứng hung hăng, điên cuồng tả Bách hội để thanh não, Thần môn, Nội quan để thanh tâm, bổ Dũng tuyền để bổ thủy chế hỏa cho hết hung hăng, điên cuồng.

Trong chứng đần độn, châm bổ các huyệt của phương huyệt chữa điên cuồng để bổ tâm, não, đồng thời bổ thận để bổ não tủy, làm cho trí não được tỉnh táo trở lại. Trong chứng kinh giật, dùng công thức 1 gia Hành gian để bình can yên phong, Đại chùy, Thân trụ, Hợp cốc, Trường cường để trấn kinh khỏi giật.

Xoa bóp: Châm kết hợp bấm, điểm huyệt trên nếu thể trạng sức khỏe suy giảm thì tăng cường bằng ăn và thuốc.

 

 

 

Câm điếc

a- Triệu chứng: 

  • Câm điếc tiên thiên: Khi sinh ra không bị tật bệnh gì nặng (như phong nhiệt, di chứng viêm não …) mà đã không nói, không nghe, ngoài ra không có chứng gì khác kèm theo.
  • Câm điếc hậu thiên: Phải có qua những bệnh nặng hoặc đã bị viêm não rồi để lại di chứng (bệnh nhân bập bẽ đôi ba tiếng gọi, biết ngoảnh lại … nhưng sau đó lại không nói được) b- Lý: Tiên thiên bất túc hoặc thanh khiếu của tâm thận khôn gkhai thành ra câm điếc

thể tiên thiên.

  • Thanh khí của Tâm thận bị bế tắc sau khi bị bệnh gây ra câm điếc thể hậu thiên c- Pháp:
  • Trị câm điếc tiên thiên: Tráng tâm thận khai thanh khiếu – Trị câm điếc hậu thiên, thông kinh lạc, khai thanh khiếu.

d- Phương huyệt: Trị điếc

  • Nhĩ môn
  • Thích cung
  • Thích nội
  • Ế phong

Dùng thường xuyên các huyệt 3, 4

đ- Gia giảm: Điếc tiên thiên thêm Thận du, Mệnh môn, Điếc hậu thiên thêm Trung chữ, Hiệp khê, Thượng quan, Bách hội, Đại chùy, Hợp cốc, Dũng tuyền.

– Trị câm:

  • Á môn
  • Liêm tuyền

Cả 2 huyệt dùng thường xuyên

Gia giảm: Câm tiên thiên thêm: Thông lý, Thái Uyên, Bách hội.

Bị bụng: Huyệt Kim tân, Ngọc dịch châm xuất huyết.

e- Giải thích cách dùng huyệt: Dùng chung chứng điếc, dùng nhĩ môn, Thính cung, Thính hội, Ế phong, Thượng quan là những huyệt cục bộ của tai để thông kinh khai lạc, khai khiếu, tăng cường thính lực; Trung chử, Hiệp khê để thanh nhiệt ở thủ túc, Thiếu dương kinh để phai khiếu 2 kinh này quan hệ mật thiết với tai; Bách hội, Đại chùy bổ não tủy, cường tráng thận khí cho thông tai, Mệnh môn để bổ thận dương (thận khai khiếu ra tai); Hợp cốc là một trong 4 tổng huyệt có tác dụng trị bệnh đau ở đầu, mặt, tai, mắt.

Trong chứng câm dùng Á môn chữa lưỡi mềm, teo, nhẽo không nói được, Liêm tuyền chữa lưỡi to, cứng không nói được. Thiên đột thông thanh quản để dễ phát thanh. Hợp cốc hạ nhiệt khai khiếu, Đản trung để bổ khí đồng thời cường tráng cơ năng của tâm phế để xuất thanh, Thông lý là Lạc huyệt của Tâm dùng để khai tâm khiếu ra lưỡi cho dễ nói ra tiếng: Bách hội thông tâm não

Theo thông lệ, chữa điếc rồi mới chữa câm, nhưng như thế kéo dài thời gian điều trị mà để câm kéo dài càng hại nên trong thời kỳ đầu chữa điếc cũng dùng song song 1, 2 huyệt chữa câm hoặc kết hợp 2, 3 huyệt chữa điếc với 2, 3 huyệt chữa câm thì có khi nghe được, nói được hoặc nói trước nghe sau.

Câm tiên thiên và câm hậu thiên có tổn thương thực thể thì khó chữa Xoa bóp: Kiên trì bấm huyệt, nâng cao thể trạng của toàn cơ thể.

 

 

 

BỆNH U NÃO

 Sử dụng trong bệnh u động mạch nội sọ xuất hiện các triệu chứng như sa mí mắt, thần kinh động nhãn bị tê liệt mắt chướng tức, đầu choáng váng, thị lực suy giảm.

Các huyệt chủ yếu có: Tinh minh, cầu hậu, dương bạch, thấu ngư yêu, thái xung, toàn trúc, hợp cốc, túc tam lí, ẩn bạch. Mỗi lần chọn ra một huyệt chủ yếu, 1-2 huyệt phối hợp, mỗi ngày châm một lần, lưu kim 45-50 phút.

Bí quyết khí công bấm huyệt chữa u não

Khí công bấm huyệt làm tỉnh não

  1. Ngồi, đầu nhìn thẳng, ngay ngắn, hô hấp tự nhiên, tập trung suy nghĩ vào động tác, toàn thân thư giãn, lưỡi ấn lên hàm trên.
  2. Dùng hai tay miết ray từ thừa tương, nhân trung, khẩu giác, nghênh hương, mũi, hai bên gò má, hai mắt, lông mày, trán, phát tế (chân tóc phía gáy) cho đến sau đầu, y như là rửa mặt, gội đầu vậy. Sau khi đến phát tế, lòng ngón tay ở hai ngón tay vô danh để ở trên trên tuyến mạch đốc, lòng ngón tay ở hai ngón tay giữa lần lượt để ở kinh tuyến túc thái dương 2 bên, lòng hai ngón tay trỏ và ngón tay cái lần lượt để ở kinh tuyến túc thiếu dương, vừa đẩy, vuốt kéo, vừa co gập lại khớp giữa các ngón tay, bấm nhè nhẹ vào mạch đốc, túc dương minh, thiếu dương kinh và các huyệt ở đầu. Thao tác đi thao tác lại từ 30-100 lần.
  3. Ba ngón tay trỏ, ngón tay giữa và ngón tay vô danh cùng trải vuốt trước trán, hai vòng cung lông mày, hai mắt, dưới hốc mắt, bên cạnh mũi, nhân trung, thừa tương, mỗi chỗ chải vuốt 10 lần, chải vuốt dọc theo trên dưới và ngang hai bên từ 3-5 lần.
  4. Năm ngón tay của hai bàn tay cài răng lược vào nhau để ở đằng sau gáy lầy gốc của hai bàn tay miết ấn vào hai huyệt phong trì, từ phía trên bên ngoài vào phía trên bên ngoài vào phía dưới bên trong 20-30 lần.

Kĩ năng độc đáo xoa bóp ấn huyệt

Sự phát sinh u não đã dẫn tới nhiều triệu chứng như đau đầu, liệt nửa người, tinh thần có chướng ngại… Vận dụng xoa bóp bấm huyệt có thể có được kết quả nhất định.

Phương pháp 1: Người bệnh nằm sấp, người thao tác đứng ở mé bên người bệnh. Đầu tiên ấn ở kinh bàng quang hai bên cột sống, từ trên xuống dưới, làm đi làm lại từ 2-3 lần, ấn mạnh tác dụng ở can du, cách du và thận du. Lại để nghiêng bàn tay chém chém xuống lưng mé bị bệnh và cứ thế dọc xuống đến mông, đùi và bên sau ống chân, tác dụng mạnh ở các huyệt hoàn khiêu, ủy trung, thừa sơn, … Đồng thời phối hợp với những vận động bị động như duỗi vươn ở sau thắt lưng, vươn ở sau hông, gập vào ruỗi ra ở đầu gối và duỗi ở lưng khớp và mắt cá chân… Thời gian thao tác khoảng 15 phút. Tiếp đó, người bệnh nằm nghiêng, bên bị bệnh nghiêng ở phía trên, người thao tác lấy tay lăn tròn ở mé ngoài chi trên mé bị bệnh và ở mé sau bên ngoài khớp vai, phối hợp các vận động bị huy động tay rụt vào trong và giơ lên trên. Lại nghiêng bàn tay chém chém từ mông bên bị mé ngoài của chân đến gót chân, thời gian thao tác khoảng 10 phút.

Phương pháp 2: Người bệnh nằm ngửa, người thao tác đứng ở bên mé bị bệnh.

1-Người thao tác nghiêng bàn tay chém chém về mé trong tay bên bị bệnh, trọng điểm là chém chém ở chỗ khớp vai và khuỷu tay. Bộ vị trị liệu phối hợp với những vận động bị động như tay giang ra ngoài, thu vào trong, xoay tròn và ruỗi khớp khuỷu tay ra… Ấn các huyệt xích trạng, khúc trì, lấy tay day day ở các huyệt thủ tam lý, hợp cốc. Dùng phương pháp nghiêng bàn tay chém chém ở cổ tay, bàn tay và ngón tay bên tay chân bị, để chữa trị, phối hợp với những vận động bị động duỗi ra gập vào khớp cổ tay và khớp giữa ngón tay, đồng thời về xe khớp ngón tay. Thời gian thao tác khoảng 5 phút.

2-Người thao tác dùng phương pháp nghiêng bàn tay chém chém vào chân bên bị, từ trên phía trước hông chem dằn dằn đến mặt trước đùi, ngoài cẳng chân thì đến gót và mu bàn chân, trọng điểm tác dụng vào các huyệt như Bễ quan, phục thổ, tứ cường, giải khê… phối hợp với vận động bị động gập vào duỗi ra ở các khớp như khớp hông, khớp đầu gối và khớp mắt cá chân… Xoa bóp ở huyệt Ủy trung, Thừa sơn, cuối cùng nắn bóp ở chân, thao tác 15 phút. Tiếp đó người bệnh ngồi lên, người thao tác nghiêng bàn  tay dằn chém như vậy vào xung quanh bả vai bên bị bệnh và hai bên cổ và gáy, sau đó dùng phương pháp xoa bóp từ vai cho đến cổ tay, xoa bóp đi xoa bóp lại từ 3-4 lần. Rồi lại dùng phương pháp xoay bộ phận vai, khủy tay và cổ tay, nắn bóp đi nắn bóp lại từ 2-3 lần, thời gian khoảng 3 phút. Người thao tác lại áp dụng phương pháp dùng một ngón tay miết đẩy lệch về môt bên từ huyệt ấn đường tinh minh, tứ bạch, nghênh hương, hạ quan, giáp xa đến huyệt địa thương, làm đi làm lại 2-3 lần.

Dùng phương pháp miết gạt từ ấn đường đến thái dương, làm đi làm lại đến 4-5 lần đông thời ấn day các huyệt tinh minh, thái dương. Rồi lại ở bộ vị tuân hành của đảm kinh bên đầu dùng phương pháp miết đẩy giãn ra thao tác 20-30 lần, phối hợp với ấn day ở giác tôn 1 phút. Cuối cùng ấn day ở hai bên cổ và gáy, ấn ở phong phủ, xoa bóp ở phong trì, kiên tỉnh, sau khoảng 3 phút thì kết thúc thủ pháp trị liệu.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!