PHẦN THỨ II NGUYÊN TẮC TRỊ LIỆU VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM THỰC TẾ

PHẦN THỨ II

NGUYÊN TẮC TRỊ LIỆU VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM THỰC TẾ

 

 

Chẩn đoán khái quát

Chữa bệnh bằng châm cứu cũng phải vận dụng chẩn đoán như các phép dùng thuốc của đông y ( bát cương, tứ chẩn, bát pháp) Đây chỉ là qui nạp bát cương vào tứ cương là hư: hư, thực, hàn, nhiệt, mà hư, hàn lý thuộc âm, thực , nhiệt biểu thuộc duơng để áp dụng châm bổ tả cứu, (ôn), xem biẻu chẩn đoán khái quát. Còn bệnh không hư, không thực thì châm bình bổ bình tả,

Du huyệt ( ở hàng thứ 1 của kinh bàng quang nằm 2 bên cột sống ) là bộ vị mà hư là  tặc phong từ lưng xâm nhập vào cơ thể nên muốn chữa phong, hàn cần dùng đến du huyệt tụ tập, dùng mộ huyệt trị nguyên khí kém

Khích huyệt là huyệt chủ trị các bệnh đau khe kẽ mà kinh khí khó đi tới hoặc dùng cho các bệnh đau lâu ngày

Lạc huyệt có tác dụng điều hòa kinh khí  sơ thông tạng phủ để chữa các bệnh nặng Căn cứ vào chứng bệnh ở khí huyết, tạng phủ, của xuơng mà dùng cho thích hợp.

 

BIỂU CHẨN ĐOÁN KHÁI QUÁT

Bảng chuẩn đoán khái quát

 

Chẩn đoán   Vọng(Trông tinh

   thần hình sắc)

Văn

Nghe hơi thở, tiếng nói

Vấn(hỏi

tình hình

bệnh)

Thiết

xem mạch đập,

sờ nắn đường kinh

áp dụng

 phép châm

cứu và thủ thuật

1 2 3 4 5 6
Hư lý      

(thuộc âm)

sắc mặt xanh

tinh thần mệt mỏi

Nói nhỏ,

thở yếu

Tự nhiên đổ mồ hôi hay

 đổ mồ hôi trôm, đái trong, ỉa lỏng

Mạch hư, vô lực,

ấn vào các huyệt thiên ứng dễ chịu,

 ưa xoa bóp

Châm bổ cắm kim sâu và cứu lưu kim lâu
Thực biểu

(thuộc dương)

Mặt đỏ, tinh thần nhanh

nhẹn, rêu lưỡi

vàng

Nói to, thở mạnh,

miệng nhạt đắng

Ngực bụng đầy tức, đại tiện

táo, tiểu tiện vàng xén

Mạch thực hữu lực, ấn vào thiên ứng

đau khó chịu

Châm tả lưu châm ít hoặc

Châm

 xuất huyết

Hàn lý

Thuộc âm

Mặt xanh nhợt,

miệng môi

trắng nhợt

hay nằm co, rêu

lưỡi trắng

hay không có rêu

Tiếng nói

nhỏ yếu

Không khát, chân tay và

người lạnh

 tiểu tiện nhiều,trong, đại tiện lỏng

Mạch trì hay trầm hoãn, ưa chườm nóng,

da thịt sờ mát lạnh

Cứu châm sâu, lưu kim lâu

cứu từ 15 phút trở lên

 

 

 

 

 

BIỂU BÁT HỘI HUYỆT

 Một huyệt hội chữa được bệnh toàn thân như ho, hen, khí nghịch thì châm cứu đản trung, bệnh ở huyết thì dùng cách du

 

BIỂU HUYỆT NGỦ DU

 

a. Của 6 kinh âm

 

Kinh thuộc ngũ hành Tinh Huỳnh Du nguyên thổ Kinh Hợp
Mộc Hỏa Kim Thủy
Phế Thiếu  dương Ngư tế Thái uyên Kinh cừ Xích trạch
Tâm bào Trung xung Lao cung Đại lăng Gian sử Khúc trạch
Tâm Thiếu xung Thiếu phủ Thần môn Linh đạo Thiếu hải
Tỳ ấn bạch Đại đô Thái bạch thương

khâu

Âm lăng tuyền
Gan Đại đôn Hành gian Thái xung Trung phong Khúc tuyền
Thận Dũng tuyền Nhiên cốc Thái khê Phục lưu Âm cốc

 

Sáu (6) kinh âm không có nguyên chỉ có huyệt du thay vào huyệt nguyên nên gọi chung là huyệt nguyên của 12 kinh

 

b. Của 6 kinh dương

 

Lao huyệt Kinh

thuộc

ngũ hành

Tỉnh Huỳnh du Nguyên Kinh Hợp
Kim Thủy Mộc Hỏa Thổ
Phong long Đại trường Thương dương Nhị

gian

Tam gian Hợp cốc Dương khê Khúc trì
Ngoại quan Tam tiêu Quan xung Dịch

môn

Trung chữ Dương trì Chi câu Thiên tỉnh
Chi chính Tiểu trường Thiếu trạch Tiểu

cốc

Hậu khê Uyên cốt Dương cốc Tiểu hải
Phong long Vị Lệ đoài Nội

đình

Hàm cốc Xung dương Giải khê Túc tam lý
Quang minh đởm Túc

khiếu

âm

Hiệp

khê

Túc tâm khấp Khâu khư Dương phụ Dương lăng tuyền
Phi

dương

Bàng quang Chí âm Thông cốc Thúc cốt Kinh cốt Côn lôn Uỷ trung

 

Huyệt ngũ du là những huyệt ở trên 2 khủy tay, gối chân trở xuống bàn tay và bàn chân

Mỗi âm kinh có 5 huyệt , mỗi dương kinh có  6 huyệt, huyệt ấy gọi là Tỉnh, huỳnh,du, nguyên, kinh, hợp, 

Kinh âm không có nguyên nên lấy du thay nguyên huyệt. Tổng cộng có 66 huyệt ngũ du, mỗi huyệt đều thuộc hành nên ta theo quy luật tương sinh, tương khắc dùng.

 

 

BIỂU BÁT MẠCH GIAO HỘI HUYỆT

 

Biểu bát mạch giao hội huyệt

 

Kinh mạch Tỳ Tâm bào Tiểu tràng Bàng quang Đởm Tam tiêu Phế thận
Huyệt vị Công tôn cha Nội quan mẹ Hậu khê chồng Thân mạch vợ Lâm khớp nam Ngoại quan nữ Liệt khuyết chủ Chiếu hải khách
Kinh
mạch

tương thông

Xung mạch âm duy

mạch

Đốc mạch Dương kiểu Đới mạch Dương duy Nhâm mạch Âm kiểu

 

 Bát mạch giao hội là nói một kinh mạch với 8 mạch kỳ kinh giao hội như huyệt Công tôn thông với Xung mạch và huyệt nội quan thông với âm duy mạch, 2 huyệt hợp dùng để chữa bệnh ở ngực, ở tâm, ở vị( tham khao mục trọng điểm chủ trị của 12 kinh chính và Nhâm,Đốc mạch ở phần 1).

 

BIỂU 12 KINH KHÍ HUYẾT NHIỀU ÍT, PHÂN LOẠI ĐỂ LÀM CĂN CỨ

KHI TRÊN LÂM SÀNG TẢ KINH NHIỀU, BỔ KINH ÍT

 

Biểu 12 kinh khí huyết nhiều ít, phân loại để làm căn cứ khi trên lâm sàng tả kinh nhiều, bổ kinh ít

 

Biểu, kinh dương Khí Huyết Lý kinh âm Khí Huyết
Dương Dương

minh k- đại tràng (thủ)

Nhiều Nhiều Thái âm

Kinh Thái

âm phế( thủ)

Nhiều ít
Minh K. Dương minh

vị(túc)

Nhiều Nhiều Kinh thái âm tỳ( túc) Nhiều ít
Thái K.Thái dương tiểu tràng(thủ) ít Nhiều Kinh Thiếu âm tâm (thủ) Nhiều ít
Dương K.Thái dương

bàng quang(túc)

ít Nhiều kinh thiếu

âm thận

(túc)

Nhiếu ít
Thiếu K Thiếu dương tam tiểu(thủ) Nhiều ít Kinh quyết âm

tâm bào( thủ)

ít Nhiều
Dương K.Thiếu dương đởm

(túc)

Nhiều ít Kinh quyết âm can( túc) ít Nhiều

 

3 kinh dương(6 phủ) từ tay chạy lên đầu.

3 kinh âm (6 tạng) chạy từ ngực, bụng xuống chân.

Xem biểu trên 12 kinh khí huyết nhiều ít khác nhau có thể chia làm 3 nhóm:

  • Thái dương: Quyết âm, tay và chân tức là 4 kinh Tiểu trường, Bàng quang, Tâm bào, Can đều nhiều huyết, ít khí.
  • Gồm có Thiếu Dương, Thái dương, Thiếu âm tay và chân tức là kinh: Tam tiêu, Đởm phế, Tỳ, Tâm, Thận, đều nhiều khí ít huyết.
  • Dương minh, Đại trường, vị, tay và chân đều nhiều huyết nhiều khí

Cách so sánh khí huyết hoặc nhiều hoặc ít thì Dương là khí, âm là huyết cũng là quan niệm của nội kinh, âm dương phải cân bằng. Sở dĩ xét 12 kinh biểu lý phối hợp lại vừa thành đôi 1 đối nhau. Dương nhiều thì âm ít, ví dụ như:

-Bàng quang với thận là quan hệ biểu lý.

– Tiểu trường với tâm là quan hệ biểu lý.

-Biểu dương kinh nhiều huyệt, ít khí.

-Lý âm kinh nhiều khí ít huyết.. các kinh khác cũng suy ra như thế. Kinh nghiệm thực hành khi thấy cảm giác mạnh nếu theo thứ tự như sau:

-Kinh nhiều huyết, ít khí.

-Kinh nhiều khí, ít huyết.

Cảm giác mạnh yếu chỉ thật đúng khi lấy  đúng huyệt, châm sâu, nông đúng mức ở đây lại cảm thấy cách định huyệt chính xác có một ý nghĩa hết sức quan trọng, thông thường các huyệt ở  khuỷu chân, khuỷu tay trở ra có cảm giác rõ hơn các huyệt khác.

  

Một số phương pháp dùng huyệt theo kinh điển

a-Nguyên huyệt và lạc huyệt: Nguyên và lạc ở 2 kinh có quan hệ biểu lý với nhau. Khi một kinh phát bệnh, châm hoặc cứu huyệt Nguyên của kinh đó và huyệt Lạc của kinh đó có quan hệ biểu lý với nhau.Khi một kinh phát bệnh, châm hoặc cứu huyệt Nguyên của kinh đó Và huyệt Lạc của kinh đó có quan hệ biểu lý với nó.

Ví dụ: Kinh Đại tràng phát bệnh làm đau răng, chảy nước mũi, đau họng, vai thì dùng huyệt Hợp cốc làm chủ(nguyên huyệt của đại tràng) đồng thời lấy Liệt khuyết( làm huyệt) thuộc kinh phế làm chính.

Các kinh khác cũng suy ra như thế.

b- Du huyệt và mộ huyệt: Du huyệt ở sau lưng ( bối du) dùng chữa âm khí hư kém

phong hàn từ ngoài xâm lấn vào .

Mộ huyệt dùng chữa bệnh của ngũ tạng, lục phủ do nguyên khí hư kém.

Thường dùng phối hợp như sau:

Vị có bệnh  dùng mộ ở Trung quản phối hợp với du là vị du. c-Ngũ du huyệt: có 2 cách thường được nhắc đến.

-Vận dụng chủ chứng của Ngũ du huyệt để chữa bệnh: Tĩnh chủ mỏ ác( tâm hạ) đầy; Huỳnh chủ mình nóng, Du chủ mình nặng, khớp đau; Kinh chủ ho, sốt; Hợp chủ nghịch khí mà đi ỉa lỏng.

Ví dụ: Tim hồi hộp đồng thời thấy mình nặng, khớp đau thì lấy Du huyệt của Tâm kinh mà chữa.

Tỳ vị bất hòa lại khí nghịch đi ngoài lỏng thì lấy hợp huyệt của Tỳ kinh là Âm lăng tuyền hoặc hợp của Vị kinh là Túc tam lý mà chữa.

Các kinh khác cũng suy ra như thế.

Vận dụng nguyên tắc( con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con). Có rhể dùng các huyệt con, huyệt mẹ (con và mẹ đây theo quy luật ngũ hành tương sinh) trên cùng một kinh hoặc trên 2 kinh, kinh mẹ và kinh con.

Ví dụ: Phế ( thuộc hành kim) thực cần tả con là thận( thuộc hành thủy) thì có thể dùng Xích trạch( Hợp của phế và ứng với hành thủy) là huyệt con trên bản kinh hoạc âm cốc,(hợp của thận và ứng với hành thủy) là huyệt con ứng  trên kinh con.

Phế hư: Cần bổ mẹ nó là tỳ ( thuộc hành thổ) thì có thể dùng Thái uyên, ( Du của phế ứng với hành thổ) là huyệt mẹ trên bản kinh hoặc thái bạch(du của tỳ ứng với hành thổ) là huyệt mẹ trên kinh mẹ… các kinh khác cũng đều suy ra như thế.

 

Theo bệnh hoãn cấp mà chữa gốc (bản) hay chữa ngọn (tiêu) trước

Một người có thể có mấy bệnh, một bệnh có thể có mấy chứng bệnh phát trước thuộc bản, bệnh phát sinh sau thuộc tiêu hoặc chính khí là bản, tà khí là tiêu. Khi chữa bệnh nên căn cứ vào tiêu bản, nặng nhẹ hoãn cấp để phân ra chứng nào nên chữa trước chứng nào nên chữa sau.

Bệnh cấp thì chữa tiêu trước, bệnh hoãn thì chữa bản trước hoặc chữa cả tiêu lân bản.

Nội kinh đã dạy;( chữa bệnh phải tìm chữa bản rồi mới chữa tiêu là chính ) nhưng cũng còn phải phân biệt hoãn cấp như trên là rất quan trọng không thể bỏ qua được.

Ngoài ra còn có kinh nghiệm lâm sàng như sau:

Bệnh nhân thấp khớp, nhiều khớp bị sưng đau nhưng khớp gối đau trước hoặc đang đau nhiều nhất, không đi lại được, linh hoạt khó khăn thì nên tập trung chữa bệnh thấp ở chân trước cho bệnh nhân đi lại đựơc rồi thì sẽ lần lượt giải quyết đến tận gốc bệnh thấp khớp.

Bệnh nhân vừa đau đầu chóng mặt lại vừa đau bụng, đau lưng, chứng đau đầu cấp hơn vì làm cho không ngồi dậy được phải nằm luôn, cần chữa đau đầu trước lưng, bụng chỉ kết hợp thôi hết đau đầu chóng mặt thì người tỉnh táo đi lại được sau đó sẽ lần lượt chữa các chứng khác.

 

Kinh nghiệm dùng huyệt thiên ứng

Huyệt Thiên ứng là điểm đau nhất ở vùng đau trên bệnh nhân, nó có thể ở trên đương kinh huyệt hay ở ngoài kinh.

Căn cứ vào nội kinh nói: Lấy chỗ đau làm huyệt. Nó nói lên một trạng thái không bình thường, một cảm giác khó chịu trong cơ thể,  trạng thái này, cảm giác này có thể do một rối loạn cơ năng hoặc một tổn thương thực thể cấp hay mãn. Huyệt thiên ứng càng nhạy cảm thì trạng thái không bình thường do nó phản ánh càng cấp và càng nặng bấy nhiêu.

Trong quá trình diễn biến của bệnh, Khi bệnh nhẹ đi nắn vào huyệt thiên ứng cũng ít nhạy cảm và khi lành bệnh  huyệt này cũng không còn nhạy cảm nữa.

Vì vậy có thể nói huyệt Thiên ứng là nơi mà bệnh tật hoặc trạng thái không bình thường tập trung thể hiện ra ngoài và đồng thời là mục tiêu của bệnh, người thầy thuốc có thể tấn công vào bệnh tật hoặc trạng thái không bình thường để điều chỉnh lại.

Dùng Thiên ứng còn để chuẩn đoán bệnh.

Ví dụ: ấn ngón tay vào điểm thiên ứng bệnh nhân thấy dễ chịu tức là chứng hư của phương huyệt cđều phải bổ. Nếu ấn vào điểm Thiên ứng mà bệnh nhân thấy đau nhói lên tức là bệnh thuộc thực các phương huyệt đều phải tả ( châm hoặc cứu đều phải tả) sờ trên huyệt nóng thì châm, lạnh thì cứu (xen thiết biểu chẩn đoán khái quát)

Khi chữa bệnh, châm cứu vào huyệt này trước, dẫn khí cho khắp nơi có bệnh , rồi mới lần lượt châm cứu đến các huyệt khác trong phương để các huyệt này  tác dụng theo hướng Thiên ứng huyệt đã chỉ điểm là mục tiêu để chữa bệnh được nhanh chóng, đó là cách chữa bệnh  gồm cả tiêu và bản.

Nếu chỉ châm phương huyệt mà không châm Thiên ứng thì bệnh chậm kết quả , mà châm Thiên ứng trước theo cách đã nói trên, thấy bệnh nhanh chóng khỏi hơn và kết quả châm cứu lại được khỏi tận gốc .

Huyệt Thiên ứng không nhất thiết chỉ phản ánh tình trạng của khu vực kinh lạc tuần hành qua mà còn chỉ điểm cho trạng thái toàn thân, cho nên đừng nhầm lẫn  dùng huyệt Thiên ứng với dùng huyệt cục bộ hay lân cận  mà bỏ Thiên ứng .

Nhưng phải biết tìm huyệt Thiên ứng, phải chọn điểm trung tâm của vùng nhạy cảm tức là điểm khi sờ nắn vào vào bệnh nhân đau nhất và có cảm giác khác thường nhất.

Châm đúng vào đây khi rút kim ra bệnh nhân sẽ dễ chịu ngay, nếu cả 2 đều được coi là Thiên ứng huyệt và châm cứu cả hai.

Chú ý: Phải chọn đúng được vùng trung tâm nhạy cảm mới đúng là Thiên ứng huyệt. 

 

Kinh nghiệm dùng du, mộ

       Khi bệnh còn ở biểu dùng kinh huyệt ( nằm trên 12 kinh chính ) lúc bệnh đã vào phủ,tạng thì dùng huyệt Bối du( ở lưng) điều trị phần dương, gặp bệnh đã lâu, vào đến phần âm, dùng mộ huyệt để điều trị phần âm, đồng thời dẫn từ âm ra dương và điều hòa âm dương. Đó là nguyên tắc.

Khi dùng Du và Mộ phối hợp chỉ châm hoặc là Bối du hoặc Mộ huyệt rồi dùng thủ thuật đưa cảm giác  từ Du đến Mộ hoặc Từ Mộ đến Du.

      Như đau dạ dày đã lâu mỗi khi lên cơn phía ( Vị du) đau sụn lưng chỉ châm vào huyệt Trung quản cho đắc khí, đưa cảm giác vào dạ dày ra cả sau lưng để giải quyết đồng thời vừa đau bụng vừa đau lưng hoặc bệnh nhân đang nằm sấp thì châm luôn vào Vị du hướng cho cảm giác vào dạ dày đến cả vùng bụng thì đau lưng và đau bụng đều đỡ hẳn. Viêm gan làm đau tức ở hạ sườn phải  có thống điểm đến cả Can du châm huyệt can du, đắc khí , hướng cảm giác chạy vào vùng gan cùng làm cho hết đau tức ở hạ sườn phải. 

 

Kinh nghiệm dùng phép bổ mẹ tả con

Bổ mẫu tả tử là nguyên tắc quan trọng nhưng không phải câu chấp bất cứ chứng hư, chứng thực nào cũng một mực như thế.

Cần phải đánh giá đứng mức hư, thực.

Nếu Phế kim hư vừa thì chỉ cần bổ huyệt Thái uyên ( vừa là thổ huyệt mẹ của bản kinh , vừa là du huyệt  thay cho nguyên huyệt là vừa đủ với mức hư thì thôi).

Nếu hư nhiều mới phải bổ đến Thái bạch ở tỳ kinh. ( Thổ kinh thổ huyệt, huyệt mẹ ở kinh mẹ).

Nếu mức thực vừa, chỉ cần tả Xích trạch ( huyệt con trên bản kinh). Khi nào thực nhiều mới phải tả đến âm cốc ( huyệt con trên kinh con).

Bổ tả cũng cần hợp lý thì bệnh mới chóng khỏi , sức khỏe bệnh nhân mới chóng hồi phục. 

 

Kinh nghiệm bấm hoặc nắn , xoa, xát vào huyệt thay châm cứu

( hay là phương pháp phòng bệnh đơn giản tự mình làm lấy )

Dùng châm cứu để phòng và chữa bệnh căn bản là phát huy tác dụng của kinh huyệt: Về sau các nhà thừa kế suy diễn trên kinh huyệt ra nhiều hình thức như án ma, thôi nã (bấm, ấn, xoa, xát, vặn, vuốt … ) để áp dụng cho thích hợp với nhiều hoàn cảnh, thời gian và thân thế con người.

Khi bệnh đã phát, dùng châm cứu nhanh hơn, còn phòng bệnh thường xuyên thì theo các cách bấm, ấn, xoa, xát vào huyệt tự mình làm lấy, chọn thời gian thích hợp, làm ít lợi ít, làm nhiều lợi nhiều, nhằm hạn chế bệnh tật, tăng cường sức khoẻ.

Người vô bệnh làm được thường xuyên sẽ được khoẻ người và nâng cao tuổi thọ, bệnh nhân đang nằm bệnh viện hay viện điều dưỡng, có nhiều thời gian, tranh thủ làm càng tốt.

Cách bấm nắn hoặc xoa xát vào huyệt còn dùng để chữa bệnh nhẹ nhàng và thoải mái kết hợp với châm cứu hoặc dùng thuốc đông y hay tây y song song tiến hành hay trong khi nghỉ liệu trình hoặc những buổi tối không phải đến với thầy thuốc. Sau khi đã nghỉ điều trị ở viện hoặc sau khi cơn cấp tính của bệnh đã qua dùng cách bấm, nắn, xoa, xát vào huyệt để củng cố kết quả điều trị hoặc ngăn ngừa bệnh tái phát, là về mình biết làm cho khí huyết lưu thông, tăng cường sức đề kháng.

a- Nguyên tắc thao tác chung:

Bấm huyệt: Dùng ngón tay bấm vào huyệt. Cần luyện tập ngón tay cho mạnh và chính xác, chủ yếu là ngón cái. Khi có bệnh cấp thì lấy móng tay bấm vào huyệt Bách hội, Nhân trung, Hợp cốc, Ấn đường để chữa bệnh ngất.

Điểm huyệt: Ngón trỏ để trên lưng, ngón giữa và ngón tay cái để vào bụng, ngón giữa

ấn thẳng góc với  huyệt, động tác đột ngột, mạnh, nhanh làm điểm huyệt.

Ấn huyệt: Dùng ngón tay cái, gốc bàn tay, cùi trỏ tay ấn lên huyệt, vùng đau làm thông kinh hoạt lạc, thông chỗ bị tắc, giảm đau.

Day huyệt: Ấn huyệt, vùng huyệt bệnh nhân, ấn và xoay tay thầy thuốc làm vùng được ấn cũng xoay theo đường tròn làm giảm sưng, hết đau khu phong, thanh nhiệt, mềm cơ (có thể dùng ngón tay cái, hay cườm, cùi tay).

Phòng bệnh dùng phép bổ, chữa bệnh dùng phép tả.

Bổ: Lấy đầu ngón tay bấm vào huyệt vừa phải cho có cảm giáctê buồn dễ chịu trong 5-7 phút.

Tả: Bấm vào huyệt với mức độ tê tức mạnh hơn trong 3 – 6 phút.

 

Phương pháp tác động lên vùng da, vùng huyệt, đường kinh lạc:

Xoa xát : Dùng gốc bàn tay, mô ngón tay út, cái hay dùng vân các ngón tay xát, hay xoa trên da bệnh nhân tác dụng thông kinh hoạt lạc, giảm đau, hết sưng. Toàn thân chỗ nào cũng dùng được thủ thuật này. Trước khi làm cần xoa, xát 2 bàn tay nóng.

Bổ: Mức độ gia sức trung bình, dễ chịu và xoa, xát từ trái sang phải của vùng huyệt.

Tả: Mức độ mạnh hơn và xoa, xát từ phải sang trái của vùng huyệt.

Miết, Phân, hợp: Dùng vân 2 ngón tay cái, vân các ngón tay hoặc mô ngón tay út áp chặt vào da người bệnh rồi miết theo hướng lên xuống ngược chiều nhau làm căng da là phân, Miết theo chiều hướng vào nhau là hợp.

Véo: Dùng ngón cái và các ngón tay cào kẹp da bệnh nhân lên, lân tay kẹp da liên tiếp da của bệnh nhân liên tục cuộn dưới tay thầy thuốc. Làm bổ chính khí khu phong tán hàn.

Phát: Khum bàn tay vỗ trên da bệnh nhân sao cho tiêng vỗ trầm đục, làm từ nhẹ đến nặng. Tác dụng thông kinh hoạt lạc, bổ khí, mềm cơ.

Các thủ thuật tác động lên cơ: Dùng những động tác lên huyệt để tác động lên vùng cơ như: day, bấm … Đấm, chặt: Đấm nắm bờ tay, đấm vào vùng cơ lưng làm thông khí huyết thư giãn gân

cơ.

Chặt: Mở bàn tay, xoè ngón tay, dùng mô ngón tay út chặt liên tiếp vào vùng bệnh.

Lăn: Nắm hờ tay, dùng các khớp bàn tay, ngón tay và cổ tay. Lăn từ cổ tay ra ngón tay trên vùng bệnh tác dụng khu phong tán hàn giảm đau lưu thông khí huyết.

Bóp: Mở rộng ngón tay cái và các ngón tay còn lại bóp  vùng bị bệnh. Bóp từ nhẹ đến nặng và tuỳ đối tượng. Làm giải nhiệt khai khiếu khu phong tán hàn.

Vờn: 2 bàn tay khum khum bao lấy bộ phận cơ thể, bóp đẩy ngược chiều nhau làm cả cơ da vận động theo uốn lượn, nhẹ nhàng từ trên xuống dưới. Thông kinh hoạt lạc, điều hoà khí huyết, mềm cơ …

Bật cơ: Đặt ngón tay cái lên cơ co cứng, gân, huyệt, ấn, vuốt sao cho tay trượt trên da từ vị trí bấm đến vị trí mềm hơn làm vùng bị nén bật lên đột ngột.

Các động tác lên huyệt, cơ, da là chính tuy nhiên trong quá trình vận động, sinh hoạt các khớp có những độ sai lệch, biến dạng gân cơ khớp vì vậy cần phải vận động các khớp.

Các động tác vận động khớp

Nguyên tắc: Chỉ vận động theo phạm vi vận động sinh lý của các khớp.

  • Vận động từ từ, nhẹ đến nặng, biên độ rộng dần, không làm vội, tuỳ trạng thái vận động hiện tại của các khớp, sao cho hợp lý, thích đáng.
  • Khi vận động khớp phải vận động từng phần, cố định phần trên, vận động phần dưới …

Vận động khớp cổ: Không dùng cho bệnh nhân có tổn thương ngoại khoa, lao đốt sống, bệnh nhân ít vận động cổ phải hết sức chú ý cẩn trọng. 

Vận động cổ: Dùng cho bệnh nhân đau cổ, rối loạn thăng bằng. Thầy thuốc đứng sau lưng bệnh nhân, một tay đỡ cằm bệnh nhân, tay kia để trên xương chẩm từ từ vận động quay đầu sang phải, sang trái, nghiêng cổ sang vai, lúc này thầy thuốc có kê tay trên vai bệnh nhân, vận động cúi và ngửa cổ cũng kê tay thầy thuốc trên gáy bệnh nhân cho đến khi thấy bệnh nhân mềm cổ, không cưỡng lại, đẩy cằm hết sang một bên rồi đẩy mạnh thêm 1 cái với biên độ hẹp sẽ nghe thấy tiếng kêu rắc, chiều bên kia làm ngược lại.

Vận động khớp vai: Khi viêm khớp vai cấp mãn, đau mỏm vai.

Người thầy thuốc đứng xa bên cạnh bệnh nhân, một tay giữ vai, một tay nắm cổ bệnh nhân quay tròn 2 – 3 lần, khám tăng cường phạm vi hoạt động dần. Đưa tay lên cao, ra trước, ra sát ngực, ngoái về phía sau sao cho bệnh nhân cảm thấy đau mà vẫn chịu được, làm như vậy 3 – 9 lần.

2 bàn tay thầy, nắm chặt bàn tay bệnh nhân kéo dãn toàn bộ tay, lúc này người bệnh phải ngả về hướng ngược lại.

2 tay thầy thuốc đan vào nhau đặt tay bệnh nhân lên khuỷu tay ,thầy thuốc ,hai bàn tay thầy thuốc ép vai bệnh nhân xuống đồng thời nâng tay bệnh nhân lên 3-5 lần  vận động khớp khuỷu tay : theo nguyên lý chung 3-6 lần 

Vận động khớp cổ tay :xòe bàn tay thầy thuốc đan ngón tay bệnh nhân ,một tay còn lại nắm cổ tay bệnh nhân vận động xoay tròn kéo giãn đẩy ngươc lại 

Vận động khớp háng : bệnh nhân nằm ngửa ,gác chân này lên gối chân kia,ép gối đó xuống giường 3-5 lần co chân lại chếch bàn chân ra phía ngoài đẩy đầu gối ép về phía đùi bên kia 3-5 lần co chân và gấp đùi lên bụng 2-5 lần .Thẳng chân dạng  2 chân khép lại 

Vận động khớp gối : bệnh nhân nằm sấp ,gập gót chân lên mông ép mạnh,rồi nằm ngửa bắp chân bệnh nhân gác lên cẳng tay thầy thuốc làm động tác vận động co duỗi rồi đột nhiên ấn mạnh vào đầu gối làm gối linh hoạt trơn tru 

Vận động khớp cổ chân : một tay nắm lấy cổ chân còn tay kia nắm các ngón chân quay cổ chân ,nâng bàn chân lên xuống cuối đông tác này kéo giãn bàn chân .Hai bàn tay nắm lấy bàn chân bệnh nhân 2 ngón cái ôm lấy 2 mắt cá chân trong ngoài ,ấn xuống và đưa lên,vặn trong ra ngoài 3-5 lần 

Vận động khớp cùng chậu: bệnh nhân nằm ngửa ,co gập chi dưới vao bụng,1 tay giữ chân 1 tay đẩy đầu gối sang 2 bên,bệnh nhân ôm gối nằm ngửa,thầy thuốc vận động bệnh nhân đầu lên xuống.

Vận động sống lưng: bệnh nhân nằm nghiêng,gối đầu lên tay,chân dưới thẳng,chân trên co,tay trên co lại trên sườn,khuỷu tay thầy thuốc để lên mông,tay kia để trên vai,vận động ngược chiều nhau cho lưng bệnh nhân mềm sau đó đột ngột ấn mạnh mông bệnh nhân xuống giường,đẩy vai bệnh nhân về phía sau tạo tiếng kêu ở lưng .

Vê,vuốt: dùng ngón tay trỏ,ngón cái vê theo 2 đường ngược chiều nhau,hay vuốt dọc theo các ngón tay,chân,các khớp nhỏ làm trơn khớp thông khí huyết.

Rung: kéo tay bệnh nhân căng ra,rung cổ tay thầy thuốc làm chi bệnh nhân rung nhẹ như làn sóng.Đặt tay lên cơ bệnh nhân,thầy thuốc rung cổ tay làm cơ da bệnh nhân rung lên,vừa rung vừa vuốt .Tác dụng : mềm cơ,giảm nhiệt,chống mệt mỏi.

b-Tư thế: nói chung nên chọn tư thế sao cho thoải mái để bấm,nắn,xoa,xát huyệt cho

thuận tiện dễ dàng 

Tùy động tác và thời gian có thể nằm,ngồi tại giường hay điđứng nơi thoáng mát

Khi làm,dù lâu hay chóng,kinh nghiệm cho thấy,tập trung tư tưởng thì động tác chính xác hơn,hiệu quả đạt được nhiều và chóng khỏi hơn.

 

Dùng phép bổ để phòng và chữa bệnh

Bổ là phép bồi dưỡng nhằm vào âm dương, khí huyết, lục phủ ngũ tạng, có chỗ nào hư kém để bồi bổ, điều chỉnh cho không còn sai lệch để người ta được khoẻ mạnh.

Trong khi chữa bệnh theo lý, pháp, phương huyệt cũng đã có bổ tạng kém để nâng lên, tả tạng thừa để làm dịu xuống cho âm dương được thăng bằng, kinh lạc được thông suốt mà khỏi bệnh. Phần biện chứng điều bổ này muốn nói về nguyên tắc chung vận dụng vào mọi trường hợp.

Do tiên thiên tiếp thu của bố mẹ không được tốt, nên có người tuy chưa mắc bệnh mà âm, dương, khí huyết ở trong căn bản suy nhược, do đó rất dễ mắc bệnh này tật nọ: loại này cần đến phép bổ để phòng bệnh.

Do bệnh tà gây ra nhiều sai lệch trong người, làm rối loạn âm dương khí huyết, lục phủ ngũ tạng nên khi trị bệnh hoặc khi thế bệnh đã lui còn rơi rớt lại vài ba phần cũng cần phải dùng phép bổ để giúp cho chính khí chóng phục hồi và thanh toán nốt dư chứng của bệnh.

Khi bệnh đã khỏi, cũng cần bổ để củng cố hiệu quả điều trị, tăng cường sức đề kháng của cơ thể ( chính khí ) để ngăn ngừa tái phát.

Bổ bằng châm cứu tốt như bổ bằng thuốc, cần dùng đúng lúc và đúng cách. Đó là một trong những tâm đắc của chúng tôi khi kinh qua chữa bệnh, phòng bệnh bằng thuốc bắc, thuốc nam và châm cứu, xoa bóp bấm huyệt.

a- Bổ khí hư:

– Triệu chứng: Người xanh yếu, ít nói, nói nhỏ, hơi thở nhẹ, lười hoạt động, có lúc tự đổ  mồ hồi, mạch hư khi châm vào người, kim lỏng lẻo, châm đắc khí hoặc chỉ đắc khí ít, hoặc bệnh nhân đã bị một số lệnh như: Lòi dom, sa dạ con … – Phương huyệt: 

  • Đại chuỳ
  • Đản trung
  • Khí hải
  • Túc tam lý
  • Giải thích ý nghĩa: Đản trung là huyệt khí hội ở đây. Khí hải cũng là chỗ chữa khí.

Bổ 2 huyệt này thì khí được kiện vượng.

Bổ Túc tam lý cho cường trang tỳ vị (trung khí) để tăng cường nguồn tiếp tế dinh dưỡng. Bổ Đại chuỳ để bồi bổ chính khí, tăng cường sức chống bệnh. b- Bổ huyết hư:

  • Triệu chứng: Da vàng nhợt, môi, móng tay xanh hay trắng nhợt, chóng mặt, hoa mắt, ù tai, tim hồi hộp. Nếu là phụ nữ thì thêm kinh nguyệt không đếu, kinh ít, màu nhạt không tươi. – Phương huyệt:
  • Cách du
  • Tâm du
  • Can du
  • Tỳ du
  • Huyết hải
  • Túc tam lý (bổ tỳ khí cơ năng của hậu thiên)
  • Giải thích ý nghĩa: Cách du, Huyết hải là nơi huyết tụ hội, bổ 2 huyệt này huyết càng tốt: Bổ tỳ du để tăng cường cơ năng tiếp thu và vận chuyển thức ăn thức uống để sinh huyết (Tỳ thống huyết)

Tâm chủ huyết: Bổ tâm du để làm cho máu tuần hoàn được lưu thông.

Can tàng huyết: Bổ can du, để can tàng huyết lại.

Bổ mấy huyệt này sẽ bổ huyết rất tốt.

  • Xoa bóp: bấm huyệt: xoa bóp vùng đầu và lòng bàn chân, lưng ấn các huyệt trên vỗ vùng huyệt Mệnh môn 6 cái.

c- Bổ âm hư:

  • Triệu chứng: Người gầy, sắc khô sạm, miệng khô, da thô ráp, ù tai, xâm tối mặt, hồi hộp mất ngủ, đổ mồ hôi trộm, di tinh, hay sốt âm về chiều, tối, nữ thì kinh ít, ho khan hoặc ho ra máu.
  • Phương huyệt: (không có dữ liệu)

 

 

 

 

 

 

  • Gia giảm: Nếu có sốt âm, thêm Đào tạo.
  • Giải thích ý nghĩa: Trung cực, Tam âm giao là huyệt hội của Tam âm và Nhâm mạch mà Tam âm dùng bổ am là đắc lực còn thêm nhiểu Nhiên cốc, Thận du, Phục lưu để tráng thuỷ tư âm giâng hoả. Dùng Đào tạo để cắt cơn sốt không làm hại chân âm.
  • Xoa bóp: Ấn, bấm các huyệt trên, dùng phương pháp xoa bổ toàn thuân nhẹ nhàng. d- bổ dương hư:
  • Triệu chứng: Từ lưng, bụng dưới trở xuống tê lanh, hay đau mỏi, chân tay mềm yếu, da xanh, người mát, chân tay lạnh, thường ỉa lỏng, hay đái nhiều.
  • Phương huyệt: (không có dữ liệu)

 

 

 

  • Giải thích ý nghĩa: Bổ và cứu Mệnh môn để bổ tiên thiên chân hoả và tráng dương, Chí dương, Quan nguyên là gốc của chân dương. Hai huyệt này là chủ huyệt bổ dương, Dũng tuyền cứu để ôn thận tráng dương.

Chú ý: Trường hợp khí hư nhiều thì ngoài phương huyệt chữa khí hư nên gia thêm 1,2 huyệt bổ dương vì dương là gốc của khí, bổ dương thì sinh khí càng mạnh.

Trường hợp huyết hư nhiều thì ngoài phương huyệt chữa huyết hư nên thêm 1,2 huyệt bổ âm: Âm là gốc của huyết, bổ âm thì sinh huyết càng tốt.

Tóm lại: Phép bổ có 2 tác dụng: ngoài sự bổ âm dương khí huyết còn có khả năng tiêu trừ một số dư chứng còn rơi rớt lại.

Xoa bóp: Bấm day các huyệt kể trên bằng dầu nóng.

Sách đã dạy: “Bổ chính thì tà không còn chỗ ở được nữa”. Cũng cần chú ý lúc đầu thế bệnh đang mạnh mà bổ nhầm vào chẳng khác nào tiếp tế thêm cho tà khí, làm cho bệnh nặng thêm, hoặc chậm rút (như bệnh cấp, đang đau nặng .. ). Nhưng khi bệnh đã đỡ nhiều cần phải bổ chính khí cho mạnh để thanh toán nốt. Số ít bệnh còn lại thì mà không tái phát được.

 

 

Phòng bệnh trúng phong

Người già yếu, khí huyết hư, có thể thấy những hiện tượng như:

Bất thần xầm tối mặt, hoa mắt, chân tay rã rời, ngói tay tê dại hoặc da thịt máy đông, co giật, nhiều đờm, hay quên, có lúc lưỡi tê khó nói. Đó là tiền triệu chứng của trúng phong có thể xẩy ra.

Muốn đề phòng nên cứu 7 huyệt cổ truyền

  • – Bách hội
  • – Phong trì
  • – Kiên tỉnh
  • – Khúc trì
  • – Phong thị
  • – Túc tam lý
  • – Huyền chung

Nhằm thông kinh lạc, giáng nghịch, trừ phong

Có một số người Việt Nam không thích ứng với cứu, vậy khi cần cứu phải cứu ít huyệt, ngắn thời gian, theo dõi phản ứng nến không chịu được thì thôi, 7 huyệt chia làm 2 lần cứu. Mỗi lẫn dùng 1 huyệt ở đầu ôn cứu cách gừng và châm 1 huyệt ở chi trên, 1 huyệt ở chi dưới. Nếu vẫn không chịu thì châm bình bổ, bình tả hoặc chỉ cứu: Huyền chung, Túc tam lý.

Hoặc khi các triệu chứng nói trên vừa xuất hiện thì chữa ngay các triệu chứng ấy. Đó cũng là một cách phòng bằng phương pháp trị ngay khi vừa xuất hiện mới tốt, nếu để chậm đến khi bị trúng phong thành bệnh liệt nửa người khó chữa được.

Xoa bóp: Bấm, điểm các huyệt trên, xoa vuốt véo vai gáy và dọc theo thăn lưng xuống mông theo dõi huyết áp kết hợp tây y, khi huyết áp cao không nên bấm huyệt vùng đầu mặt dễ làm tăng huyết áp.

 

 

Các phòng bệnh không đặc hiệu

a- Đối tượng: Những người đang ở một địa phương chớm phát bệnh truyền nhiễm:

  • Những người đi vào rừng núi (sơn lam chướng khí)
  • Những người hay bị cảm hoặc đang chữa bệnh gặp lúc thay đổi thời tiết, đề phòng bệnh thêm biến chứng kéo dài.
  • Lý: Bệnh tật vào được thân thể là chính khí người ấy bị kém Đại bổ chính khí khu trừ bệnh tật.
  • Phương huyệt:
    • – Đại chuỳ (bổ)
    • – Ngoại quan (bổ hoặc tả)
    • – Đản trung (bổ)
    • – Túc tam lý (bổ)
    • – Quan nguyên (bổ) d- Gia giảm: Ở phụ nữ có thể thay Quan nguyên bằng Khí hải cho tiện.

e- Giải thích ý nghĩa: Bổ Đại chuỳ cho vệ khí mạnh để phòng chống tà khí không nhập vào cơ thể được. Bổ Ngoại quan để cố biểu, ngăn chặn bệnh theo đường biểu vào, có trường hợp tả Ngoại quan để sơ tiết tà khí đã xâm nhập.

Đản trung bổ khí ở trên làm mạnh tim phổi, chống cảm nhiễm đường hô hấp, đồng thời bổ Túc tam lý cho mạnh tỳ vị,ăn ngon ngủ tốt để làm nguồn tiếp tế cho sức mạnh cơ thể và cũng không cho bệnh nhiễm vào theo đường tiêu hoá.

Bổ thêm Quan nguyên để cường tráng nguyên khí nâng cao sức khoẻ toàn thân, phòng bệnh trên nhiều mặt.

Xoa bóp: Xoa dọc 2 bên gáy, ấn, day, bấm các huyệt trên.

g- Chú ý: Mỗi khi cần phòng chống bệnh nhiễm vào đường nào thì chú trọng về mặt ấy

hơn.

 

 

Phòng bệnh thấp nhiệt xâm nhập vào toàn thân

Nước Việt Nam ở vùng nhiệt đới, có nhiều sông, ngòi, hồ ao lại thêm rừng rậm, núi cao, mưa nắng bất kỳ, khi kéo dài, lúc đột ngột, có mùa nóng mà còn lạnh, có mùa rét mà còn nóng làm cho thấp và nhiệt dễ xâm nhập vào cơ thể người gây thành bệnh.

Các thao tác: Bấm, ấn day các huyệt

  • Ngoại quan (kinh tam tiêu)
  • Ngư tế (kinh phế)
  • Trung chữ (kinh tam tiêu)
  • Lao cung (Tâm bào)
  • Thiếu phủ (kinh Tâm)
  • Âm lăng tuyền (Mạch nhâm)

Thường xuyên, nên bấm các huyệt theo công thức phòng bệnh không đặc hiệu.

Về mùa mưa hay  những khi dầm dãi nắng sương, nên dùng xem kẽ một lần bấm huyệt theo cách phòng bệnh thấp nhiêt. Những lúc nào thấy người khó chịu như bứt rứt, nặng nề, không ra mồ hôi, đái vàng xẻn (triệu chứng như bị thấp nhiệt) nên bấm ngay các huyệt phòng thấp nhiệt đồng thời xoa, xát mạnh sau lưng cho thấy râm rấp mồ hôi sẽ thấy dễ chịu ngay.

 

Phòng bệnh lao thương suy nhược

– Cách thao tác:

Ngồi ngay thẳng trên giường, 2 bàn tay nắm lại, cánh tay (cả bả vai) đưa ra trước rồi ra sau 24 lần, cho xương bả vai xoay xát vào huyệt Cao hoang, huyệt nay đặc hiệu phòng và chữa chứng lao thương suy nhược.

Khi làm động tác này, đồng thời cũng vận dộng các huyệt vùng lưng, ngực làm mạnh tâm, phế, cường tráng cơ thể.

 

Phòng bệnh đau đầu và mất ngủ

– Cách thao tác:

Bấm huyệt Bách hội 5 – 10 phút rồi úp bàn tay giữa đỉnh đầu xoa xát vòng quanh các huyệt Tứ thần thông (4 huyệt cạnh Bách hội mỗi bên 1 tấc) 36 lần.

Động tác này có tác dụng sơ thông kinh lạc (phần dương của cơ thể hội ở đầu) nhẹ nhõm

đầu não và làm cho tinh thần yên tĩnh, minh mẫn.

 

Phòng bệnh đau đầu, nhức trán, nhức mắt, hoa mắt, đau hàm mặt

– Cách thao tác:

Lấy 2 bàn tay úp vào giữa trán, 2 ngón út bấm vào huyệt thần đình(trên chân tóc,giữa mũi lên 5 phân – tức ½ thốn) vuốt ra Hàm yến, Đầu duy, Toản trúc, Ty trúc không đến Thái dương rồi day, bấm huyệt Thái dương vuốt xuống Giáp xa, Đại nghinh 24 lần.

 

Phòng bệnh đau đầu, cứng cổ (trẻ em mềm cổ) chóng mặt, trí nhớ kém.

Cách thao tác: Lấy 2 ngón tay trỏ bấm vào huyệt Phong phủ vuốt chéo ra Thiên trụ, Phong trì đến Ế phong làm càng nhiều càng tốt.

Phòng bệnh nóng đầu, chân lạnh, tê buồn, mất ngủ.

Cách thao tác: Ngồi xếp bằng, bấm 2 huyệt Dũng tuyền 5phút rồi xoa xát gan bàn chân 36 lần hoặc lấy điếu ngải hay bó hương  hơ nóng 2 huyệt nàu để dẫn hoả xuống cho ấm chân, hết tê buồn, chân nóng đều và dễ ngủ.

 

Phòng bệnh sổ mũi, tắc mũi, viêm mũi

Cách thao tác: Bấm các huyệt. 1- Thượng Tinh

2 – Thượng nghing hương

Từ 5 – 10 phút, xong bẻ cánh mũi sang trái, sang phải.

Mùa rét hay khi trở trời những người có bệnh về mũi nên năng làm động tác này.

 

Phòng bệnh chi trên đau nhức, tê mỏi và bệnh ở phần trên cơ thể

Cách thao tác:

  • – Vặn cổ tay: Lấy bàn tay phải nắm vào cổ tay trái vặn đi vặn lại 24 lần, lấy tay trái làm lại cho cổ tay phải 24 lần ( vặn đi vặn lại là 1 lần)
  • – Vặn khuỷu tay: Lấy bàn tay phải đặt vào giữa khuỷu tay trái vặn ra vặn vào, các đầu ngón tay thích vào các huyệt Thiên tỉnh, Tiểu hải.

 Cổ tay và khuỷu tay là nơi tập trung nhiều huyệt quan trọng (thuộc ngũ du huyệt) của chi trên.

– Xoa xát vào đây là tác động đến một số huyệt này để đạt đến mục đích làm chi trên hết đau nhức, tê mỏi và ngừa bệnh cho phần trên cơ thể.

 

Phòng bệnh ở phần dưới và chi dưới cơ thể:

Cách thao tác:

  • – Vặn cổ chân: Ngồi ngay trên ghế, để chân phải khoảng 900, chân trái gấp lại 900 để trên gối phải dùng bàn tay phải vặn đi vặn lại 24 lần cổ chân trái, sau đó đổi tay trái vặn lại cổ chân cũng 24 lần.
  • – Vặn khoeo gối: Chống gối đặt trên giường, ghế, gối soài ra 1200 (ngón cái vặn vào Uỷ trung, ngón giữa vặn vào Uỷ dương) người béo chân to thì dùng cả hay tay để giáp nhau mà vặn càng tốt, dùng tay phải vặn khoeo gối trái,dùng tay trái vặn khoeo gối phải 24 lần. Cổ chân và khoeo gối là nơi tập trung nhiều huyệt quan trọng của chi dưới và phần dưới cơ thể.

.

Phòng bệnh đau mỏi lưng, yếu người.

Cách thao tác: Kết hợp bấm các huyệt:

1 – Mệnh môn

  • Thận du
  • Uỷ trung

Úp 2 bàn tay, xoa xát vùng 2 bên cột sống từ Can du, Đởm du, Tỳ du đến Bạch hoàn du, 1 tay lên, 1 tay xuống mỗi bên 36 lần.

 

Phòng bệnh đau bụng, đầy bụng, nôn mửa

Cách thao tác Bấm huyệt Trung quản, kết hợp với xoa bụng trên từ vùng mỏ ác ra sườn, đến rốn 24 lần

 

Phòng bệnh ở bụng dưới

Nam đau sán khí, di tinh … Nữ kinh không đều, khí hư …

Cách thao tác: Bấm huyệt Trung cực, kết hợp với xoa bụng dưới, từ rốn, quanh sườn, 2 hố chậu phải và trái trên bờ xương mu 24 lần.

Chú ý: Số lần yêu cầu của mỗi động tác chỉ để tham khảo. Như trên đã nói, làm nhiều lợi nhiều, làm ít lợi ít, làm lâu dài sẽ gây một phản xạ tốt giúp cho cơ thể phòng chống có hiệu quả với bệnh tật.

Bấm trường cường: Để cường tráng toàn thân, chữa trĩ, lỵ … Cách bấm: dùng ngón tay bấm vào huyệt Trường cường 36 lần.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!