CHẨN ĐOÁN SAI LỆCH VỊ TRÍ CỘT SỐNG

CHẨN ĐOÁN SAI LỆCH VỊ TRÍ CỘT SỐNG

Chẩn đoán sai lệch vị trí cột sống trong thời kì đầu tương đối khó, kể cá việc sử dụng những thiết bị máy móc hỗ trợ. Tuy nhiên, người làm công tác trị liệu bằng các phương pháp tự nhiên có kinh nghiệm hoàn toàn có thể phát hiện, chữa trị và dự phòng sớm, kịp thời, khiến cột sống bị sai lệch được phục hồi vị trí, sớm chữa khỏi những chứng bệnh kéo theo.

I/ CHẨN ĐOÁN BẰNG MẮT:

Làm cho người bệnh bộc lộ các bộ phận cột sống (có thể đứng, ngồi hoặc nằm), duy trì tư thế bình thường, tiến hành quan sát theo các bước dưới đây:

1/ Nhìn màu da:

Trong trường hợp bình thường, màu da hai bên cột sống không có gì khác thường. Khi cột sống bị sai lệch vị trí, có thể làm xuất hiện sự thay đổi màu da của các khu vực tương ứng, có khi đỏ, xanh, tím hoặc thành từng chấm, vệt. Sự thay đổi màu da ở vùng cột sống nào phản ánh cột sống vùng đó và các cơ quan nội tạng tương ứng mắc bệnh.

2/ Quan sát hình dạng bên ngoài của cột sống:

Trong điều kiện bình thường, cột sống nhìn bên ngoài từ phía sau lưng có dạng một đường thẳng đứng. Khi cột sống sai lệch vị trí, các mỏm nhô xương bị lệch khỏi trung  tuyến (dễ thấy hơn ở người gầy), hoặc xuất hiện những chỗ lồi trên trung tuyến. Điều này biểu hiện cột sống bị sai lệch vị trí.

II/ CHẨN ĐOÁN QUA TIẾP XÚC

Kiểm tra, chẩn đoán bằng cách tiếp xúc là một thao tác hết sức quan trọng. Thông qua tiếp xúc có thể phát hiện cột sống và mỏm nhô xương của nó có bị sai lệch vị trí hay không. Thường thì căn cứ vào ba đường thẳng để phán định, đó là đường thẳng nối liền  các đỉnh mỏm nhô xương (trường hợp bình thường thì đường này trùng với trung tuyến phía sau lưng) và hai đường thẳng hai bên hàng mỏm nhô xương, bình thường hai đường này song song với trung tuyến phía sau lưng). Khi đường thẳng nối liền các đỉnh mỏm xương không còn trùng với trung tuyến, có nghĩa là cột sống đã bị sai lệch vị trí.

Thường có 4 cách dùng tay kiểm tra mỏm nhô xương cột sống bị lệch:

1/ Dùng 2 ngón tay cái tiếp xúc chẩn đoán:

Ngón cái và 4 ngón còn lại của cả hai bàn tay tách ra tạo thành hình chữ Bát, dùng bụng của hai đầu ngón tay cái ấn rà dọc theo hai bên cột sống từ trên xuống dưới xem có chỗ nào dày lên hoặc cứng không, xem cột sống có phải là một đường thẳng đứng không và để xem sự thay đổi độ lớn của khe giữa các mỏm nhô xương… đồng thời, quan sát phản ứng của bệnh nhân (xem họ có đau không, đau ở chỗ nào khi tay đi qua…).

2/ Dùng 1 ngón tay cái tiếp xúc chẩn đoán:

Dùng bụng một ngón tay cái ấn rà từ trên xuống dưới dọc theo 3 đường thẳng cột sống (để cập ở trên) để phát hiện cột sống có bị di vị hay không, các cơ bắp và dây chằng có biến đổi gì bất thường hay không…

3/ Dùng 1 ngón tay cái đẩy ngược:

Dùng bụng 1 ngón tay cái đẩy ngược từ đốt sống đuôi lên các đốt sống vùng cổ, đầu tiên đẩy dọc theo đường trung tuyến (tức đường nối các đỉnh mỏm nhô xương), tiếp theo đẩy dọc theo hai đường bên để xem có gì bất thường (như đã nêu trên) hay không. Cách làm này dễ phát hiện những biến đổi bất thường của cột sống hơn so với hai cách làm trên.

4/ Dùng 3 ngón tay tiếp xúc chẩn đoán:

Ngón tay giữa đặt lên đầu mỏm nhô xương, hai ngón bên (ngón trỏ và ngón nhẫn) đặt hai bên mỏm xương, ấn rà dọc theo 3 đường thẳng cột sống từ trên xuống dưới để phát hiện xem cột sống có di  vị hay không.

III/ CHẨN ĐOÁN QUA SAI LỆCH VỊ TRÍ XƯƠNG CHẬU

Trong việc chẩn đoán sai lệch vị trí cột sống không thể xem nhẹ việc chẩn đoán di vị xương chậu. Bởi vì cột sống và xương chậu của người cũng như móng và những bức tường của một toà nhà lớn vậy. Cột sống đứng trên, được nối với phía sau xương chậu thông qua khớp xương cùng. Nếu xương chậu bị lệch thì cột sống cũng không thể ngay ngắn được.

1/ Các kiểu di vị khung chậu

Có đến 99% người bị di vị khung xương chậu, đương nhiên là với mực độ nặng nhẹ khác nhau. Khung chậu di vị tiếp tục phát triễn dẫn đến nhiều bệnh tật. Qua nghiên cứu lâm sàng có thể quy nạp đơn giản như sau:

– Di vị phía bên phải khung chậu (căng khớp khung chậu phải): biểu hiện căng thẳng phó thần kinh giao cảm, giảm sút chức năng gan, dạ dày, ruột, gầy ốm, tiêu chảy, nữ giới dễ mắc các bệnh phụ khoa…

– Di vị phía bên trái khung chậu (căng khớp khung chậu trái): biểu hiện căng thẳng thần kinh giao cảm, giảm sút chức năng tim, phổi, béo phì, táo bón, trĩ, liệt dương, xuất tinh sớm, dễ bị cảm…

– Di vị hỗn hợp: biểu hiện kén ăn, thể trọng biến đổi hoặc táo bón, tiêu chảy thay nhau xuất hiện, đồng thời đi kèm với những chứng bệnh của hai loại di vị trên.

2/ Chẩn đoán di vị khung chậu:

Khung chậu có di vị hay không có thể chẩn đoán theo các cách dưới đây:

a/ Đặc trung gương mặt và thân thể

Mắt con to con nhỏ, bên một mí bên hai mí, sống mũi không thẳng góc, hai khoé miệng không nằm trên một đường thằng nằm ngang, hai tai không đều. Nếu một vài biểu hiện này xuất hiện trên mặt thì có thể chẩn đoán khung chậu bị di vị.

Khung chậu lệch sẽ biểu hiện trên thân thể: hình dạng của đầu không chỉnh, một bên vai rủ xuống, hai cánh tay dài ngắn khác nhau, chân vòng kiềng, cổ vẹo, tư thế đi đứng không tự nhiên, một bên vú teo lại, có tiền sử đẻ khó…

b/ Đặc điểm tư thế:

Biểu hiện của di vị khung chậu phải:

– Khi nằm sấp, mông bên phải chếch lên phía đầu chân trái cong một cách vô ý thức, chân phải duỗi thẳng.

– Khi ngồi, nữa trên thân người nghiêng về bên phải, đầu nghiêng tự nhiên về bên trái. Khi vắt hai chân với nhau thì chân phải luôn quên đặt phía dưới chân trái, nếu cố ý đặt trên chân trái sẽ có cảm giác không được tự nhiên.

– Khi đi, do chân phải ngắn nên trọng tâm thân dưới đổ về phía bên trái. Để bảo đảm sự cân bằng, cột sống phải cong về phía bên phải và thân người cũng nghiêng về bên phải, vai trái vì thế bị xuôi rũ. Nếu một người có vai rũ xuống một cách rõ nét thì rõ ràng cột sống, khung chậu đã bị cong một cách nghiêm trọng, cần điều trị khẩn cấp để phục vị.

Biểu hiện của di vị khung chậu trái:

– Biểu hiện ban đầu giống như biểu hiện của di vị xương chậu phải, tuy nhiên đổi bên. Bất luận là di vị bên trái hay bên phải đều có thể phát triển thành di vị hỗn hợp.

3/ Những biểu hiện khác:

Khung chậu di vị ngoài những biểu hiện nêu trên còn có một sộ biến đổi khác mà người ta ít chú ý, chúng có giá trị tham khảo trong việc xác định di vị khung chậu.

a/ Tình trạng mòn đế giày:

Người di vị xương chậu bên phải vì chân phải ngắn không chịu được lực, trọng lượng cơ thể chủ yếu do chân trái đảm nhận cho nên đế giày trái mòn nhiều, tuy nhiên mòn không đều. Khung chậu bên trái di vị ngược lại với di vị bên phải. Người có khung chậu di vị hỗn hợp bị mòn nặng một bên của hai đế giày.

b/ Khả năng tạo góc của các ngón tay:

Khung chậu di vị bên phải, khi dang hết cỡ hai ngón tay cái ra (4 ngón còn lại của từng bàn tay khép lại với nhau), góc tạo bởi ngón cái với ngón trỏ của bàn tay phải nhỏ hơn so với cùng loại góc đó ở bàn tay trai. Khi dang hết cỡ 5 ngón tay của từng bàn tay, góc tạo bởi ngón cái với ngón út của bàn tay phải nhỏ hơn so với cùng góc đó ở bàn tay trái. Khung chậu di vị bên trái thì ngược lại.

c/ Các triệu chứng bệnh:

Người có khung chậu di vị bên phải thấy đau bên phải đầu, thị lực mắt phải giảm, nghẹt mũi bên phải, đau răng, viêm tai giữa bên phải, đau vai lưng bên phải, cổ bên phải đau, nhức mỏi, khớp cổ tay bên phải hoạt động khó khăn, đau thần kinh sườn phải, đau bụng phải, tiêu chảy, đau bụng kinh và các triệu chứng khác xuất hiện ở nữa phần thân phía trên bên phải. Di vị khung chậu bên trái ngược lại, tiêu chảy thay bằng táo bón. Di vị hỗn hợp, các chứng bệnh ở nữa thân trên và dưới đồng thời tồn tại hoặc thay nhau xuất hiện, tiêu chảy và táo bón lặp đi lặp lại.

IV/ PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA HỖ TRỢ

Tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã cung cấp thêm nhiều phương pháp kiểm tra, chẩn đoán lâm sàng, chẳng hạn như kỹ thuật X – quang và CT đã mang đến chẩn đoán lâm sàng một tiện lợi vô cùng to lớn. Dưới đây xin giới thiệu một số phương pháp kiểm tra chẩn đoán bằng máy móc:

1/ Phương pháo chụp X – quang phẳng:

Đây là phương pháp hỗ trợ kiểm tra lâm sàng được sử dụng phổ biến nhất hiện nay, nó không những có thể hiển thị rõ ràng những biến đổi của cột sống mà còn có thể giúp phát hiện kết hạch, phong thấp, khối u và dị dạng khác. X-quang phẳng là việc chụp lại kết cấu cột sống trong tư thế thẳng đứng từ phía trược, mặc dù hình ảnh chồng chéo nhưng nó vẫn có thể trực tiếp hoặc gián tiếp phản ánh tình trạng cột sống hiện tại cũng như trong quá khứ. Khi xem hình X-quang phải kết hợp với tiền sử bệnh và triệu chứng lâm sàng để tổng hợp phân tích.

2/ Chụp CT

Chụp CT là phương pháp kiểm tra khá phổ biến hiện nay, do khả năng phân vùng cao, nó có thể cho thấy cột sống theo trục ngang, theo hình nón hoặc hình mũi tên, từ đó có thể quan sát chính xác độ lớn, hình thái của thân xương sống, hình thái và kết cấu của các khớp xương và các phần mềm trong và ngoài thân xương, chẳng hạn như tuỷ sống, khoang dưới mô mạng nhện, tình trạng các dây thần kinh…nâng cao khả năng chẩn đoán các bệnh về cột sống và bên trong thân xương.

3/ Chẩn đoán bằng siêu âm

Dùng máy siêu âm để chẩn đoán các bệnh tật bên trong tuỷ sống, gai đốt sống eo và nghẽn tuỷ sổng trong những năm gần đây đã đạt những bước phát triển mới. Kỹ thuật chẩn đoán này an toàn, đơn giản, không gây chấn thương và đã trở thành phương cách đầu tiên được lựa chọn để chẩn đoán lâm sàng cho rất nhiều bệnh.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!