Hợp quyền đạo – Hội tụ tinh hoa võ học thế giới

BỒ ĐỀ ĐẠT MA

dat-ma-su-to

Bồ-đề-đạt-ma (zh. 菩提達磨, sa. bodhidharma, ja. bodai daruma), dịch nghĩa là Đạo pháp (zh. 道法), ~470543. Ông ấy được coi là người truyền bá và sáng lập ra Thiền họcVõ thuật tới Trung Quốc. Theo truyền thuyết Trung Quốc, ông đã truyền thụ phương pháp rèn luyện thân thể cho các nhà sư Thiếu Lâm và dẫn đến việc hình thành môn võ Thiếu Lâm. Ông cũng là cha đẻ của Thiền Phật giáo.

Còn rất ít thông tin về tiểu sử của ông, chủ yếu, chủ yếu chỉ còn lại là truyền thuyết. Truyền thuyết về nguồn gốc của ông cũng khác nhau, tại Trung Quốc tồn tại 2 truyền thuyết về ông, tại Ấn Độ truyền thuyết kẻ rằng Bồ Đề Đạt Ma là con trai thứ ba của một vị vua Pallava Tamiltừ Kanchipuram, trong khi ở Nhật Bản truyền thuyết kể rằng ông đến từ Ba Tư.

Thời điểm ông đến Trung Quốc cũng khác nhau, một trong những thuyết nói rằng ông đến vào triều đại Lưu Tống(420-479) hay muộn hơn vào triều đại nhà Lương (502-557). Ông chủ yếu hoạt động tại lãnh thổ của các triều đại Bắc Ngụy (386-534). Thời kỳ truyền bá của ông khoảng vào đầu thế kỷ thứ 5. Ông là Tổ thứ 28 và cuối cùng sau Phật Thích-ca Mâu-ni củaThiền tông Ấn Độ và là Sơ tổ của Thiền tông Trung Quốc. Các tên gọi khác là: Bồ-đề-đạt-ma-đa-la (zh. 菩提達磨多羅), Đạt-ma-đa-la (zh. 達磨多羅), Bồ-đề-đa-la (菩提多羅), và tên viết tắt thường gặp trong văn cảnh nhà Thiền là Đạt-ma (zh. 達磨).

TIỂU SỬ:

Bồ-đề-đạt-ma là đệ tử và truyền nhân của Tổ thứ 27, Bát-nhã-đa-la (sa. prajñādhāra) và là thầy của Huệ Khả, Nhị tổ Thiền Trung Quốc. Sự tích truyền pháp của Bát-nhã-đa-la cho Bồ-đề-đạt-ma được truyền lại như sau:

Tổ hỏi: “Trong mọi thứ, thứ gì vô sắc?” Bồ-đề-đạt-ma đáp: “Vô sinh vô sắc”. Tổ hỏi tiếp: “Trong mọi thứ, cái gì vĩ đại nhất?” Bồ-đề-đạt-ma đáp: “Phật pháp vĩ đại nhất”.

Sau khi trở thành Tổ thứ 28, Bồ-đề-đạt-ma đi thuyền qua Nam Trung Quốc năm 520. Sau khi truyền đạo cho Lương Vũ Đế không thành, Bồ-đề-đạt-ma đến Lạc Dương, lên chùa Thiếu Lâm trên rặng Tung Sơn. Nơi đây, Bồ-đề-đạt-ma tu thiền định, chín năm quay mặt vào vách không nói; cũng tại đây, Huệ Khả đã gặp Bồ-đề-đạt-ma để lại truyền thuyết bất hủ về việc quyết tâm học đạo của mình.

Tư liệu về cuộc đời của Bồ-đề-đạt-ma là một vương tử Nam Ấn Độ không rõ ràng. Có truyền thuyết cho rằng sư phụ của Bồ-đề-đạt-ma làBát-nhã-đa-la từng dặn Sư hãy đợi 60 năm sau khi mình chết mới được đi Trung Quốc. Như thế Bồ-đề-đạt-ma phải cao tuổi lắm lúc đến Trung Quốc. Theo tài liệu khác thì Bồ-đề-đạt-ma đến Trung Quốc lúc 60 tuổi. Cả hai thuyết này không phù hợp với cuộc đời Sư, từ 470-543, là ngày tháng được phần lớn nguồn tài liệu công nhận. Sau khi đến, Sư nhận lời mời của Vũ Đế đi Nam Kinh. Cuộc gặp gỡ giữa Bồ-đề-đạt-ma và Vũ Đế được các ngữ lục ghi lại như sau:

Là một người phụng sự đạo Phật, Lương Vũ Đế đã cho xây trong nước mình nhiều chùa chiền, bảo tháp. Vũ Đế hỏi nhà sư Ấn Độ: “Trẫm từ lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công đức gì không?”

Đạt Ma đáp: “Không có công đức.”
– “Tại sao không công đức.”
– “Bởi vì những việc vua làm là nhân “hữu lậu”, chỉ có những quả nhỏ trong vòng nhân thiên, như ảnh tùy hình, tuy có nhưng không phải thật.”
– “Vậy công đức chân thật là gì?”
Sư đáp: “Trí phải được thanh tịnh hoàn toàn. Thể phải được trống không vắng lặng, như vậy mới là công đức, và công đức này không thể lấy việc thế gian (như xây chùa, chép kinh, độ tăng) mà cầu được.”
Vua lại hỏi: “Nghĩa tối cao của thánh đế là gì?”
– “Một khi tỉnh rõ, thông suốt rồi thì không có gì là thánh.”
– “Ai đang đối diện với trẫm đây?”
– “Tôi không biết.”
Đó là những lời khai thị về yếu tính Phật pháp rất rõ ràng, nhưng Vũ Đế không lĩnh hội được. Cuộc gặp với Lương Vũ Đế cho Bồ-đề-đạt-ma thấy rõ là chưa đến thời truyền pháp tại Trung Quốc. Sau đó – theo truyền thuyết – Sư vượt sông Dương Tử bằng một chiếc thuyền con (chiếc thuyền về sau trở thành một đề tài của hội hoạ Thiền), đến chùa Thiếu Lâm ở Bắc Trung Quốc. Người ta không biết rõ Sư mất tại đó hay rời Thiếu Lâm sau khi truyền tâm ấn cho Huệ Khả. Theo một truyền thuyết thì Bồ-đề-đạt-ma về lại Ấn Độ sau chín năm lưu lại Trung Quốc.
Sư có ý muốn hồi hương, trước khi về, gọi đệ tử trình bày sở đắc: “Giờ ta ra đi sắp tới, vậy mỗi đệ tử hãy nói cho ta nghe sở đắc của mình”.
Đạo Phó bạch: “Theo chỗ thấy của tôi, muốn thấy đạo phải chẳng chấp văn tự, mà cũng chẳng lìa văn tự.”
Sư đáp: “Ông được lớp da của tôi rồi.”
Ni Tổng Trì nói: “Chỗ giải của tôi như cái mừng vui thấy nước Phật (tâm) bất động, thấy được một lần, sau không thấy lại nữa.”
Sư nói: “Bà được phần thịt của tôi rồi.”
Đạo Dục, một đệ tử khác, bạch: “Bốn đại vốn không, năm uẩn chẳng phải thật có, vậy chỗ thấy của tôi là không một pháp nào khả được.”
Sư đáp: “Ông được bộ xương của tôi rồi.”
Cuối cùng, đến phiên Huệ Khả. Huệ Khả lễ bái Sư rồi đứng ngay một chỗ, không bạch không nói gì cả. Sư bảo: “Ngươi đã được phần tuỷ của ta.”
Rồi ngó Huệ Khả, Sư nói tiếp: “Xưa Như Lai trao ‘Chánh pháp nhãn tạng’ cho Bồ tát Ca Diếp, từ Ca Diếp chánh pháp được liên tục truyền đến ta. Ta nay trao lại cho ngươi; nhà ngươi khá nắm giữ, luôn với áo cà sa để làm vật tin. Mỗi thứ tiêu biểu cho một việc, ngươi nên khá biết.”
Huệ Khả bạch: “Thỉnh Sư chỉ bảo cho.”
Sư nói: “Trong, truyền pháp ấn để khế chứng tâm; ngoài, trao cà sa để định tông chỉ. Đời sau, trong cảnh cạnh tranh, nếu có người hỏi ngươi con cái nhà ai, bằng vào đâu mà nói đắc pháp, lấy gì chứng minh, thì ngươi đưa bài kệ của ta và áo cà sa ra làm bằng. Hai trăm năm sau khi ta diệt rồi, việc truyền y dừng lại. Chừng ấy, đâu đâu người hiểu đạo và nói lý rất nhiều, còn người hành đạo và thông lý rất ít, vậy ngươi nên cố xiển dương đạo pháp, đừng khinh nhờn những người chưa ngộ. Bây giờ hãy nghe bài kệ của ta:”
吾本來玆土
傳法救迷情。
一華開五葉
結果自然成
Ngô bản lai tư thổ
Truyền pháp cứu mê tình.
Nhất hoa khai ngũ diệp
Kết quả tự nhiên thành.
Ta đến đây với nguyện,
Truyền pháp cứu người mê.
Một hoa nở năm cánh,
Nụ trái trổ ê hề.
Sư lại nói thêm: “Ta có bộ kinh Lăng Già bốn cuốn, nay cũng giao luôn cho ngươi, đó là đường vàotâm giới, giúp chúng sanh mở được cửa kho tri kiến của Phật. Ta từ Nam Ấn sang đến phương Đông này, thấy Xích Huyện Thần Châu có đại thừa khí tượng, cho nên vượt qua nhiều nơi, vì pháp tìm người. Nhưng bao nhiêu cuộc gặp gỡ không làm ta mất lòng, bất đắc dĩ phải ừ hử vậy thôi. Nay được ngươi để truyền thọ y pháp, ý ta đã toại!”
bodedatma kim_myeongguk-bodhidharma_crossing_a_river_with_a_broken_branch
Theo một thuyết khác thì Bồ-đề-đạt-ma sống đến 150 tuổi, cuối cùng bị đầu độc và được chôn ở Hồ Nam. Sau đó một vị tăng đi hành hương ở Ấn Độ về gặp Bồ-đề-đạt-ma trên núi Hùng Nhĩ. Bồ-đề-đạt-ma, tay cầm một chiếc dép, cho biết mình trên đường về Ấn Độ và Trung Quốc sẽ tiếp nối dòng Thiền của mình. Về tới Trung Quốc vị tăng này vội báo cho đệ tử, đệ tử mở áo quan ra thì không thấy gì cả, chỉ còn một chiếc dép. Vì tích này, tranh tượng của Bồ-đề-đạt-ma hay được vẽ vai vác gậy mang một chiếc dép.

Bồ-đề-đạt-ma truyền phép thiền định mang truyền thống Đại thừa Ấn Độ, đặc biệt Sư chú trọng đến bộ Nhập Lăng-già kinh (sa.laṅkāvatāra-sūtra). Tuy nhiên, Thiền tông Trung Quốc chỉ thành hình thật sự với Huệ Năng, Tổ thứ sáu, kết hợp giữa thiền (sa. dhyāna) Ấn Độ và truyền thống đạo Lão, được xem là một trường phái đặc biệt “nằm ngoài giáo pháp nguyên thuỷ”. Thiền tông Trung Quốc phát triển rực rỡ kể từ đời nhà Đường.

Theo Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận thì Bồ-đề-đạt-ma có thể từng đến Việt Nam (Giao Châu) cuối đời nhà Tống (420447) cùng với một vị sư Ấn Độ tên là Pháp Thiên (sa. dharmadeva).

VÕ THUẬT:

Bồ đề đạt ma được coi là tổ sư, người sáng lập phái võ Thiếu Lâm. Môn võ này có nguồn gốc từ môn võ thuật cổ truyền của Ấn Độ là võKalaripayat, mà Bồ-đề-đạt-ma là một võ sư của môn võ này.

TRƯƠNG TAM PHONG

truong-tam-phong

Trương Tam Phong (張三丰 / 張三豐), tên thật là Trương Quân Bảo (張君寶), là mộtđạo sĩ, người sáng lập Võ Đang – môn phái võ thuật lớn ở Trung Quốc, mà theo tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, là người sáng tạo Thái Cực quyềnThái Cực kiếm.

TRUYỀN THUYẾT:

Theo ghi nhận của cổ thư Trung Hoa thì Trương Tam Phong là một người có hình dung cổ quái, tóc dài, râu rậm, mặt đỏ, môi thắm, ăn khỏe như cọp, đi nhanh như gió cuốn.

Trong các môn phái Võ thuật ở Trung Quốc thì hai phái nổi tiếng nhất là Võ ĐangThiếu Lâm. Một phái ở miền Nam, một phái ở miền Bắc. Một phái thuộc Đạo gia, một phái thuộc Phật gia. Nói đến Thiếu Lâm quyền không thể không nói đến Đạt Ma Tổ Sư. Nói đến Võ Đang Nội Gia Quyền không thể không nói đến Trương Tam Phong với hành trang thần bí. Kỳ thực địa vị Trương Tam Phong trong lịch sửĐạo giáo còn rực rỡ hơn lịch sử sáng lập phái Võ Đang nữa. Đạo giáo bắt đầu từ đời KimNguyên, dần dần chia ra làm hai nhánh lớn là Chính Nhất GiáoToàn Chân Giáo, một ở phương Nam, một ở phương Bắc, đại để họ lấy vùng Nam Bắc sông Giangsông Hoàilàm ranh giới. Chính Nhất Giáo là tên gọi tắt các phái sùng bái quỷ thần, vẽ bùa niệm chú, đuổi ma trừ tà; còn Toàn Chân Giáo chú trọng vào đạo đức tự thân và tu dưỡng hành công. Đến thời cuối nhà Minh đầu nhà Thanh, hai phái lại có xu thế giao lưu dung hợp với nhau nhờ sự vận động của Trương Tam Phong. Vị “ẩn tiên” tiêu diêu tự tại Trương Tam Phong là người hành tung vô địch và là một đạo sĩ có phần thần bí.

Đã có đến 20 loại giả thuyết về tên tuổi, tự hiệu và quê quán của ông. So sánh những giả thiết phổ biến, chúng ta có thể biết ông có các tên Trương Thông, Trương Toàn Nhất tên tự là Quân Thực (hay Quân Bảo), hiệu là Huyền Huyền Tử, ở Ý Châu, Liêu Đông giữa đời Nguyên, Minh. Trương Tam Phong có phong tư khôi vĩ, mắt lớn tai to, râu dài tới rốn. Bất cứ thời tiết nóng hay lạnh, ông chỉ mặc một áo nạp và một nón mê, có khi ăn nhiều hết mấy đấu cơm, nhưng cũng có khi một ngày chỉ ăn một lần, hoặc mấy tháng không cần ăn. Vì không chú ý về ăn mặc nên ông được người ta gọi là “Trương lạp thác”. (lạp thác: bẩn thỉu).

Theo truyền thuyết của Đạo giáo, Trương Tam Phong từng là thuộc viên của Thái thú Hoa Châu. Một lần nọ, ông cùng Thái thú đến Hoa Sơn bái yết một Đạo sĩ tên Trần Đoàn. Trần Đoàn mời họ ngồi, bày trà và đặt một chỗ ngồi cao quý như có ý chờ đợi ai đó. Một lúc sau, quả nhiên có một vị Đạo sỹ đến với áo bào lam, nón vải, thái độ ngạo nhiên. Trần Đoàn hết sức cung kính với vị Đạo sỹ ấy, hai người nói chuyện một hồi. Thái thú thấy mình bị đối xử lạnh nhạt có phần không vui. Vị đạo sỹ nọ rút từ ống tay áo ra ba hột táo, một đỏ, một trắng, một xanh và nói: “Tôi đến đây vội quá không mang theo vật gì, chỉ có ba hột táo này, chúng ta chia nhau cùng ăn nhé”. Rồi tự ăn một hột màu đỏ, hột trắng chia cho Trần Đoàn, hột xanh cho viên Thái thú.

Thái thú cho rằng Đạo Nhân khinh mình nên trao hột xanh ấy cho Trương Tam Phong. Trương Tam Phong ăn liền và lập tức thấy tinh thần như đổi khác, thân thể nhẹ nhàng, khỏe mạnh hẳn lên. Đạo nhân cười lớn bái biệt rồi đi mất dạng. Thái thú lấy làm lạ bèn hỏi nguyên do, Trần Đoàn đáp: “Đạo nhân ấy là tiên ông Lã Đồng Tân đó. Ba hột táo kia là táo tiên chia ra làm ba loại thượng, trung, hạ. Đại nhân còn tục cốt nên chỉ ăn hột xanh. Đạo tu thân không thể một bước lên trời được mà phải tiến theo tuần tự, dục tốc bất đạt mà”. Thái thú nghe xong lấy làm ân hận vì mình đã bỏ mất cơ duyên. Sau khi ăn được táo tiên, Trương Tam Phong đã thành người tiên đắc đạo bèn đi lãng du giang hồ, hành tung không định. Có lúc ông hồn nhiên tự tại cười nói giữa chợ, cầu đảo trừ họa cho người, có lúc lại làm nông dân, được mọi người gọi là “Chân tiên”. Sau đó, Trương Lạp Thác đến núi Võ Đang ở Hồ Bắc, vào núi tu luyện, lập am ở trước Ngọc Hư Cung dưới cây cao gò sâu, luyện thành “Cửu chuyển kim đan”. Trương Tam Phong thường nói với người bản địa: “Núi này ngày sau đại hiển đấy”.

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương rất hâm mộ ông, sai người đi tìm nhưng không gặp. Sau Minh thành tổ Chu Lệ nhiều lần sai người đi tìm nhưng đều không gặp. Tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 10 (Tây lịch 1404), Minh Thành Tổ Chu Lệ gửi cho Trương Tam Phong bức thư:

“Hoàng Đế kính dâng thư lên chân tiên Trương Tam Phong: Trẫm ngưỡng mộ chân tiên đã lâu, mong cầu được thân đón bậc nghi phàm, từng sai sứ bầy hương án viết thi đi tìm hết danh sơn để mời đón. Đạo Đức chân tiên cao cả, cao hơn vạn hữu, thể hợp với tự nhiên, thần diệu không lường. Tài chất của Trẫm kém cỏi, đức hạnh mỏng manh, mà chỉ có lòng chí thành mong gặp, suốt đêm ngày không quên. Lại kính cẩn sai sứ dâng thư cẩn rọng mời, mong chờ xe mây giá lâm để thỏa lòng kính mộ mong mỏi của Trẫm. Ngày 6 tháng 2. “

Lòng chí thành cung kính của một vị thiên tử với một “đạo sỹ bẩn thỉu” như thế cũng là tột cùng rồi! Sau này Thành tổ Chu Lệ phong cho Trương Tam Phong là “Lão Sư”, “chân tiên”. Minh thế tông Chu Hậu tổng lại gia phong thêm tên hiệu “Thanh Hư nguyên diệu chân quân”. Trương Tam Phong rất được người đời tôn sùng. Trước tượng của Trương Tam Phong ở Chân Tiên điện, viên gạch xanh ở dưới đất bị lõm sâu xuống bởi người ta dập đầu bái lạy. Phương Pháp sống của Trương Tam Phong – Cuối cùng ý nghĩa sống của con người là gì? – Đời người đi tìm cái gì là tối cao? Đó là những câu hỏi mà nhân loại đã đi tìm lời giải đáp suốt mấy ngàn năm qua. Nói cho cùng, bất luận là Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo hay Cơ Đốc giáo, Hồi giáo cũng chỉ là tìm câu giải đáp về “kiếp người” ấy thôi. Đạo gia Trương Tam Phong cũng có câu giải đáp của riêng mình!

Sinh hoạt vật chất của Trương Tam Phong thấp đến độ cuối cùng, một năm bốn mùa ông chỉ có một áo nạp, một nón mê, mặc không đủ ấm, ăn không đủ no, bẩn thỉu như một “tiên sinh ăn mày”. Trong con mắt người đời, Trương lạp thác như vậy là khổ lắm, nhưng trong lòng ông cảm thấy vô cùng khoái hoạt, vô cùng tự tại, và nhờ vậy vô cùng trường thọ! Chỉ cần ông gặp Thái tổ hoặc Thành tổ một lần thì đã có đủ hết vinh hoa phú quý, nhưng Trương Tam Phong coi quyền thế như cỏ rác, tiền của như đất cát, ông từ chối không gặp, mặc lời mời khẩn khoản của Hoàng đế. Trương Tam Phong chủ trương cuộc đời là sống theo ý thích của mình, không bị câu thúc bởi bất kỳ cái gì. Thậm chí ông còn chẳng để ý đến các giới luật của đạo môn nữa. Ông chỉ cầu được tiêu diêu tự tại, điều ấy phản ánh khá nhiều trong bài thơ tương truyền của ông như:

Khoái Khoái Khoái, hồng trần ngoại
Nhàn nhàn nhàn, tự vân gian
Diệu diệu diệu, tùng nhai nhất thanh khiểu
Lai lai lai, bồng lai đảo hoa khai.

Tạm dịch:

Khoái Khoái Khoái, ngoài cõi trần
Nhàn nhàn nhàn, giữa mây vần
Diệu diệu diệu, hú một tiếng non vào núi
Đến đến đến, đảo bồng lai hoa xuân.

Sáng tạo đạo phái Võ Đang và Nội gia quyền Võ Đang ở Hồ Bắc có khí thế hùng vĩ, từ xưa đã được xưng tụng là “Thái Nhạc” và “Thiên hạ danh sơn”, trở thành một thánh địa của Đạo giáo với những đạo gia nổi tiếng như đời nhà ChuDoãn Hỷ, đời nhà HánÂm Trường Sinh, đời nhà TấnTạ Sung, đời nhà ĐườngLã Đồng Tân, đời nhà Tống có Trần Đoàn, đời nhà NguyênTrương Tông Thanh đều tu luyện ở đó. Từ đời Đường, nơi bắt đầu xây dựng đạo quán. Đời Tống, đời Nguyên đều xây dựng thêm. Đến cuối đời Nguyên, các đạo quán ấy đa số bị hủy hoại bởi binh loạn liên miên. Đến đời Minh, Thành tổ mới cho xây dựng lại quy mô các quần thể cung khán khiến nơi đây thành danh sơn đạo giáo do Minh Thành Tổ quá sùng bái Trương Tam Phong. Núi Võ Đang là đại bản doanh của Trương Tam Phong tu luyện và truyền đạo, ông vào núi Võ Đang rồi nhưng chưa công khai tự lập môn phái, chỉ lấy danh nghĩa là đạo gia du phương tự nhận đệ tử. Sau niên hiệu Vĩnh Lạc, các đạo sỹ ở núi Võ Đang đều thờ Trương Tam Phong là tổ sư phái Võ Đang.

Võ đang phái của Trương Tam Phong có nhiều điểm khác biệt. Một là thờ bái Chân Võ Đại Đế, coi Chân Võ Đại Đế là tổ sư. Hai là coi trọng tu luyện “nội đan”. Phái Võ Đang thuộc phái thanh tu, coi trọng tu luyện nội đan, đối lập với “ngoại đan”. Ngoại đan là điều chế dược thảo bằng lô đỉnh để chế tạo thành thuốc “trường sinh bất từ” (tức kim đan). Sau các đạo sỹ dùng phương thuật ấy phát triển thêm, đem thân thể chính mình ra làm “lô đỉnh” (lò nấu), dùng thể chất “tinh” và “khí” của mình làm dược liệu, họ gọi là khiến cho “tinh, khí, thần” ngưng tụ kết thành “Thánh Thai”, đó gọi là “Nội đan”. Ba là tập luyện kỹ thuật Nội Gia Quyền của Võ Đang. Bốn là chủ trương tam giáo hợp nhất. Không ít sách vở đã chép, Nội gia quyền là do Trương Tam Phong sáng lập, theo truyền thuyết là do đêm ông nằm mộng thấyChân Vũ Đại Đế truyền dạy cho môn quyền pháp ấy rồi sáng tạo ra Võ Đang phái Nội gia quyền, chuyên về nội công. Cuối đời Minh có Hoàng Tông Hy viết “Vương Trưng Nam mộ chí minh” nói rằng:

“Sở dĩ gọi là Nội gia vì lấy tĩnh chế động, kẻ sử dụng ứng theo tay mà phát ra để phân biệt với nội gia của Thiếu Lâm, đó bắt đấu từ Trương Tam Phong”.

Các triết gia Trung Quốc trong vòng hơn 2000 năm không ngừng tìm hiểu sự khởi nguyên của trời đất, họ đã đề xuất ra quan niệm vạn vật nhất thể và mọi biến hóa của trời đất đều do hai khí “Âm” và “Dương” kết hợp, họ cho rằng thiên biến vạn hóa do hai quẻ “Càn” và “Khôn” mà ra. Trương Tam Phong kế thừa quan điểm ấy, ngay đến tên “Tam Phong” của ông theo tự hình cùng liên quan tới “Càn” và “Khôn”. Trong “Thái Cực quyền luận” ông cũng kết hợp các triết lý Âm Dương, Ngũ Hành, Bát Quái. Trương Tam Phong cho rằng tập luyện Nội gia quyền trước hết là để dưỡng tâm định tính, tụ khí thu thần. Cũng giống như Thiếu Lâm quyền, Nội gia Quyền không truyền cho người ngoài môn phái, đến nay truyền thống ấy vẫn còn. Võ đang do Trương Tam Phong sáng lập, sau này dần dần được sát nhập vào Toàn Chân đạo, người đời sau thu thập các tác phẩm của ông thành bộ “Trương Tam Phong toàn tập”.

***Trương Tam Phong còn sáng tạo ra 1 bộ võ học có tên là Cửu Tiêu Chân Kinh trước khi sáng tạo ra Thái cực quyền Và Thái Cực Kiếm. Cửu Tiêu Chân Kinh gồm 9 chương tu luyện nội công, điển tịch võ học này sử dụng cương nhu nhị kình (giống như Thái Cực) để hóa giải các thế đánh của đối phương và phản đòn, sức mạnh được sánh ngang Dịch Cân Kinh.***

CHÍ THIỆN THIỀN SƯ

Chí Thiện Thiền Sư (Jee Shim Sim Si) theo truyền thuyết được coi là một trong năm cao đồ của Thiếu Lâm còn sống sót sau vụ hỏa thiêu của triều đình Mãn Thanh. Một số câu chuyện kể rằng Chí Thiện đến từ chùa Bắc Thiếu Lâm ở Hồ Nam. Một số khác lại cho rằng ông là trụ trì của chùa Nam Thiếu Lâm ở Phúc Kiến. Cũng có chuyện cho rằng ông vốn từ chùa Bắc Thiếu Lâm, khi chùa này bị đốt phá vào giữa thế kỷ 18 thì chuyển xuống chùa Nam Thiếu Lâm khi và ở đây cho đến khi chùa này gặp đại nạn tương tự thì mới rời đi. Chí Thiện vốn rất nổi danh trong giới quyền thuật ở Nam Trung Quốc. Ông là một trong năm cao đồ của Nam Thiếu Lâm và là học trò của thầy Phát Hải (Faat Hoi). Ông cũng được coi là thầy của người sáng lập môn Hồng Gia Quyền (Hung Ga Kuen), Hồng Hy Quan (Hung Hei-Goon). Có nhiều truyền thuyết khác nhau nói về viêc các kỹ thuật của Chí Thiện truyền cho đoàn Thuyền Hồng.

Tương truyền Ngũ Mai cũng là một trong 5 nhân vật truyền thuyết trốn thoát khỏi chùa Nam Thiếu Lâm Toàn Châu Phúc Kiến sau cơn đại nạn chùa bị các đại tướng Mãn Thanh hỏa thiêu, 5 người này về sau được các võ phái miền Nam Trung Hoa (Quảng Đông, Quảng Tây,Phúc Kiến, Tứ Xuyên, Vân Nam) tôn vinh là Ngũ tổ của Nam quyền, 5 vị đó là:

  1. Ngũ Mai lão ni sư thái (chữ Hán: 五 枚 師 太, phiên âm Latin: Ng Mui Si Tai hay Wu Mei Shitai)
  2. Bạch Mi Đạo Nhân (chữ Hán: 白 眉 道 人, phiên âm Latin: Bai Mei Dao Ren)
  3. Chí Thiện thiền sư (chữ Hán: 至 善 禪 師, phiên âm Latin: Jee Sin Sim See)
  4. Phùng Đạo Đức (chữ Hán: 馮 道 德, phiên âm Latin: Fung Do Duk hay Fung To Tak)
  5. Miêu Hiển (chữ Hán: 苗 顯, phiên âm Latin: Miu Hin hay Mew Hing) là cha của Miêu Thúy Hoa (chữ Hán: 苗 筴 花, phiên âm Latin:Miu Tsui Fa), ông ngoại của Phương Thế Ngọc (chữ Hán: 方世玉, phiên âm Latin: Fong Sai Yuk)

Tại mục bài Hồng Gia Quyền trong tài liệu Nam quyền Toàn thư – nguyên tác Trung văn của quyền sư (Tiến sĩ) Trương Tuấn Mẫn (dịch giả Việt ngữ Thiên Tường) có nhắc đến Ngũ Tổ là năm vị sư tổ của Nam Thiếu Lâm chính là 5 vị trên mà các phái võ miền Nam Trung Hoa tự nhận là 5 vị sư tổ của Nam quyền.

Lịch sử Vĩnh Xuân quyền:

Theo một truyền thuyết, trong thời gian rời khỏi Nam Thiếu Lâm và lưu lạc đến đoàn Thuyền Hồng, Chí Thiện đã gặp một nhà sư khác và học được kỹ thuật về một loại mộc nhân làm từ cánh buồm).

Về thời kỳ Chí Thiện đến với đoàn Thuyền Hồng, có 2 giả thiết chính. Giả thiết thứ nhất là một câu chuyện dân gian, kể rằng Chí Thiện trong khi đóng giả làm một người ăn mày để đi trốn, có nghe về đoàn Thuyền Hồng và tìm đến xem biểu diễn. Mặc dù khả năng biểu diễn, các kỹ thuật và kiến thức của họ rất gây ấn tượng với ông nhưng ông nhận thấy là họ cần phải chỉnh sửa thêm. Khi đoàn dừng lại chuẩn bị cho một buổi biểu diễn ở Quảng Châu, ông đã đến xin được tham gia. Ban đầu những nghệ sĩ của đoàn Thuyền Hồng cho rằng ông chỉ là một người ăn mày bình thường nên đã đuổi đi. Chí Thiện quyết định dạy cho họ một bài học. Ông bước đến đứng tấn đặt một chân lên thuyền, một chân trên bờ. Những người chèo thuyền nghĩ rằng sẽ cho lão già lẩm cẩm này tắm một trận, nhưng họ đã không thể làm cho chiếc thuyền di chuyển. Nhận ra người ăn mày là một nhân vật không thường, họ đã cúi xin ông nhận làm học trò. Chí Thiện đồng ý và ông đã truyền dạy cho Hoàng Hoa Bảo, Lương Nhị Để, Đại Hoa Diện Cẩm và những người khác các kỹ thuật chiến đấu và côn pháp “Lục Điểm Bán Côn” lừng danh của ông. Họ đã đặt tên cho hệ thống ông dạy là Vĩnh Xuân Quyền để dấu đi tên thật của ông.

Theo một giả thiết khác phổ biến trong dòng Chí Thiện Vịnh Xuân Quyền, nói rằng Chí Thiện trốn tránh truy lùng bằng cách làm đầu bếp trên đoàn Thuyền Hồng của gánh hát Quảng Đông. Một hôm, có một tên côn đồ là Lao Fu Wong (Wong “Cọp”) đến đòi tiền và đe dọa đốt thuyền nếu không làm theo lời hắn. Mặc dù các nghệ sĩ của đoàn Thuyền Hồng gỏi võ thuật, nhưng họ chỉ chuyên về biểu diễn chứ không giỏi chiến đấu và không có khả năng chống lại được tên kia. Đúng lúc nguy nan đó, người đầu bếp đã bước ra và giao đấu với Wong “Cọp”. Trước sự ngạc nhiên đến ngỡ ngàng của mọi người có mặt ở đó, mặc dù tên côn đồ tìm cách tấn công để hạ gục rất nhanh gọn nhưng vẫn không làm gì được ông. Ngay khi chạm vào người đầu bếp, Wong cảm thấy các ngón tay đau như bị gãy rời ra. Ngượng ngùng xấu hổ, Wong tiếp tục lao vào tấn công, nhưng rồi hắn thấy luôn bị người đầu bếp nắm được ý đồ và điều khiển hắn. Thấy gặp phải đối thủ ghê gớm, Wong chịu thua và chuồn mất tăm. Quay lại với những nghệ sĩ của gánh hát còn đang ngỡ ngàng sửng sốt, người đầu bếp tiết lộ mình là Chí Thiện – sư trụ trì chùa Nam Thiếu Lâm. Ông nhận lời dạy võ thuật cho các thành viên của đoàn Thuyền Hồng. Hệ thống võ thuật này được họ gọi là Vĩnh Xuân, tức Mùa xuân vĩnh cửu để tỏ lòng tôn kính đến chùa Thiếu Lâm nơi Chí Thiện từng dạy. Trong số họ có Hoàng Hoa Bảo và Đại Hoa Diện Cẩm.

Theo hệ thống của Diệp Vấn, vẫn còn có dấu vết sự đóng góp của Chí Thiện trong bài “Lục Điểm Bán Côn”, được truyền lại qua Lương Nhị Để.

Khó có thể biết được Chí Thiện là tên thật hay là bí danh. Tuy nhiên, theo hệ thống Vịnh Xuân quyền (đối lập lại với hệ thống Vĩnh Chun Kuen), vai trò của Chí Thiện trong các câu truyện truyền thuyết dường như có vẻ không đúng là nguồn gốc của “Lục Điểm Bán Côn”.

Theo tài liệu Mộc Nhân Trang của Diệp Vấn, do Diệp Chuẩn và Lương Đỉnh cho ấn hành xuất bản tại Hương Cảng năm 1980, Chí Thiện, Ngũ Mai, Nghiêm Vịnh Xuân là những nhân vật không có thật.

Theo Diệp Chuẩn, căn cứ vào tác phẩm Trung Hoa Khúc Hí Sử (lịch sử kịch nghệ cổ truyền Trung Hoa), tổ khai sáng của Vịnh Xuân là Trương Thủ Ngũ, hay Than Thủ Ngũ là một cao thủ Thiếu Lâm Quyền, rất giỏi các tuồng ca kịch Quảng Đông (người Trung Hoa gọi là Việt Kịch, kịch của các tộc Nam Việt và Đông Việt trong bộ tộc lớn Bách Việt lưu trú vùng phía Nam bờ Trường Giang), đã truyền bá võ công Thiếu Lâm trên các đoàn Hồng Thuyền Hí Ban.

Theo tài liệu Võ Bị Chí (Wubishi) của Bạch Hạc quyền tại huyện thị Vĩnh Xuân tỉnh Phúc Kiến, Vĩnh Xuân quyềnVịnh Xuân quyền có liên quan đến cái tên Vĩnh Xuân Đường hay Cung Vĩnh Xuân là nơi mà Chí Thiện luyện võ trong chùa Nam Thiếu Lâm, và 2 nhân vậtPhương Vĩnh Xuân (tương truyền gọi là Phương Thất Nương (Fang Qi Niang) là con gái thứ 7 của Phương Thế Ngọc đồng thời là sư tổ khai sáng Bạch Hạc quyền) và nhân vật Nghiêm Vịnh Xuân là học trò của Ngũ Mai.

Có nhiều truyền thuyết trong dân gian lại cho rằng Vĩnh Xuân quyềnVịnh Xuân quyền không phải xuất phát từ Chí Thiện mà xuất phát từ thủy tổ của nó là một môn phái lớn tên gọi đầy đủ là Phúc Kiến Vĩnh Xuân Bạch Hạc quyền gọi tắt là Bạch Hạc quyền.

NGŨ MAI LÃO NI SƯ THÁI

Ngũ Mai, Ngũ Mai sư thái (chữ Hán: 五 枚 師 太, phiên âm Latin: Ng Mui Si Tai hay Wumei Shitai), còn gọi là Ngũ mai lão ni, là một nhân vật truyền thuyết trong võ thuật Trung Hoa. Bà tôn xưng là một trong Thiếu Lâm Ngũ tổ của Nam quyền.

Trong các giai thoại võ thuật Trung Hoa, bà được xem là có ảnh hưởng đến lịch sử của nhiều đại phái võ thuật như Thiếu Lâm (Hà Namhoặc Phúc Kiến), Võ Đang (Hồ Bắc), Nga Mi, Nhạc gia quyền… Bà cũng được xem là sáng tổ của các môn phái như Ngũ Mai phái, Vịnh Xuân quyền, Long hình quyền, Bạch Hạc quyềnNgũ hình Hồng quyền.

Giai thoại Ngũ tổ:

Trong các tài liệu lịch sử không có bất kỳ ghi chép gì về Ngũ Mai. Hành trạng của bà chủ yếu lưu truyền trong dân gian. Theo đó, bà là con gái của một võ quan nhà Minh, sau khi quân Thanh chiếm Trung Nguyên, đã xuất gia và tu học võ công. Về sau, bà trở thành một trong những cao đồ của chùa Nam Thiếu Lâm Toàn Châu (Phúc Kiến). Khi chùa bị các tướng Mãn Thanh hỏa thiêu, bà cùng 4 cao đồ khác là Chí Thiện, Bạch Minh Đạo nhân, Phùng Đạo ĐứcMiêu Hiển trốn thoát và tản đi khắp miền Nam Trung Hoa (Quảng Đông,Quảng Tây, Phúc Kiến, Tứ Xuyên, Vân Nam) để truyền bá võ thuật. Do sự khác biệt về kỹ thuật của 5 người mà hình thành nhiều môn phái Nam quyền ngày nay. Do đó, bà cùng 4 người kia được tôn xưng là “Ngũ tổ Nam Thiếu Lâm”.

Ngũ Mai thường được coi là người sáng lập của nhiều hệ phái võ như Mai Hoa quyền (có thuyết cho rằng bà chỉ sáng tạo Mai hoa thung pháp), Long hình quyền, Chu gia Đường lang, Cẩu quyền, Bạch hạc quyền, Ngũ Mai phái và Vịnh Xuân quyền. Đồng thời có những dị bản cho rằng bà là tăng ni của Thiếu lâm tự ở Phúc kiến chứ không phải Hà Nam (Trung Quốc), hoặc là đạo sĩ núi Võ Đang tại Hồ Bắc.

Do việc thiếu những chứng cứ sử liệu xác đáng, đến nay vẫn không thể xác định được Ngũ Mai là một nhân vật có thật hay chỉ là giai thoại hư cấu. Dù vậu, hầu hết các giai thoạt đều đề cập đến, hoặc bà là sáng tổ của Vịnh Xuân quyền, hoặc và có đóng góp đáng kể vào việc hình thành Vịnh Xuân quyền, và nhờ sự xiển dương, nhuận sắc của Nghiêm Vĩnh Xuân hay Miêu Hiển mà sáng tạo thành môn phái.

Giai thoại Vịnh Xuân Quyền:

Theo thuyết của tôn sư Vịnh Xuân Diệp Vấn, Ngũ Mai chính là sư tổ sáng tạo ra những chiêu thức tiền khởi của Vịnh Xuân Quyền. Phát xuất từ một lần quan sát một trận chiến đấu giữa rắn và hạc (xà hạc tương tranh), với căn bản võ công uyên thâm, bà đã kết hợp những yếu tố độc đáo của xà (âm nhu, tượng trưng cho đất, chủ về khí) và hạc (thanh cao, tượng trưng cho trời, chủ luyện tinh) để tạo ra một hệ thống kỹ thuật chiến đấy mới đặc biệt nhưng chưa đặt tên. Sau khi hoàn thiện hệ thống kỹ thuật mới này, bà đã truyền lại cho một nữ đệ tử có tên là Nghiêm Vịnh Xuân để cô có thể tự vệ trước những tên cường đạo. Về sau, Nghiêm Vịnh Xuân đã truyền lại môn võ này cho chồng mình là Lương Bác Trù. Ông này về sau đã lấy tên vợ mình để đặt cho môn võ mới khi truyền dạy cho các đệ tử.

Một số thuyết khác lại cho là Vịnh Xuân quyền không phải bắt nguồn như trên mà từ Bạch Hạc quyền. Những câu truyện dân gian kể rằng Ngũ Mai ở tại chùa Bạch Hạc và ở đó bà chứng kiến một trận xà hạc thư hùng. Nghiên cứu những kỹ thuật của hai con vật này, bà chế tác một môn võ mới đặt tên là Bạch Hạc quyền. Sau đó bà vân du đến Quảng Tây và gặp Miêu Hiển tại đó. Sau này Miêu Hiển đã phối hợp Bạch Hạc quyền với võ công sẵn có của mình để hình thành Vịnh Xuân quyền.

Một truyền thuyết cổ khác cho là võ công của Ngũ Mai có nguồn gốc từ Nhạc gia quyền, do danh tướng nhà Tống là Nhạc Phi đã sáng chế ra. Một trong những kỹ thuật đó mang tên Hình ý quyền, được các đạo sĩ tu luyện tại núi Nga Mi tập luyện và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Ngũ Mai và Bạch Mi Đạo nhân là hai cao thủ chân truyền cuối cùng. Về sau, Bạch Mi lập ra môn võ mang tên mình (Bạch Mi phái) còn Ngũ Mai truyền dạy môn võ này cho các đệ tử và họ đặt tên môn võ là Vịnh Xuân (bài ca ca ngợi mùa xuân).

ng-mui-kranich-fuchs

Ngũ Mai sư thái quan sát cuộc chiến thư hùng giữa cáo và hạc sau đó sáng tác ra Vịnh Xuân quyền

BẠCH MI ĐẠO NHÂN

Bạch Mi đạo nhân (chữ Hán: 白眉道人, phiên âm Latin: Bai Mei Dao Ren) là người sáng tạo ra môn phái Bạch Mi quyền vào thời kỳ vua Càn Long đầu triều nhà Thanh.

Trong hệ Nam quyền của Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến, ngoài Bạch Mi quyền còn có Hồng quyềnVịnh Xuân quyền.

Cuộc đời và sự nghiệp võ thuật của Bạch Mi Đạo Nhân có nhiều tồn nghi trong giới học giả ở Trung Hoa, nhất là trong giới võ thuật miền Nam Trung Hoa.

Có rất nhiều câu chuyện ly kỳ, thậm chí mang tính thêu dệt và bịa đặt ở Trung Hoa về tiểu sử của Bạch Mi Đạo Nhân và môn võ cũng mang tên ông do chính ông sáng tạo cũng giống hệt như câu chuyện Trương Tam Phong Đạo Nhân sáng tạo ra Võ Đang quyền.

Trong giới võ thuật ở miền Nam Trung Hoa, Bạch Mi Đạo Nhân được xem như là một kẻ ‘’Phản đồ” của Nam Thiếu Lâm và là người chủ mưu hoặc ít nhất là có tham gia hai lần vào vụ hỏa thiêu chùa Nam Thiếu Lâm Toàn Châu Phúc Kiến lần thứ nhất vào năm 1723 (tức năm Ung Chính thứ 2) dưới bàn tay của vua Ung Chính và vụ hỏa thiêu chùa Nam Thiếu Lâm Toàn Châu Phúc Kiến vào năm 1763 (tức năm Càn Long thứ 28) dưới bàn tay của vua Càn Long.

Bạch Mi có phải là một “Phản đồ”?

Bạch Mi Đạo Nhân có phải là một “Phản đồ” của Nam Thiếu Lâm ?

Không có một tài liệu nào đề cập vấn đề này mà chỉ là những câu chuyện truyền khẩu trong giới võ thuật và được Càn Long viết trong bộ tiểu thuyết Càn Long Tuần Hạ Giang Nam Ký và bộ tiểu thuyết Lã Mai Nương Truyện của Tề Phong Quân được các hãng phim Hong Kong dựng thành bộ phim Nam Thiếu Lâm là một câu chuyện mang tính tiểu thuyết hư cấu nhiều hơn là sự thật.

Câu chuyện này phải nói rõ ra rằng là một sự bịa đặt, dù vậy câu chuyện này vẫn cứ được lưu truyền trong giới võ thuật ở miền Nam Trung Hoa và thường được các hãng phim Hồng Kông chuyển thể thành phim Kungfu (phim võ thuật) với các câu chuyện về sự giao chiến giữa Hồng Hy Quan, Phương Thế Ngọc và Bạch Mi Đạo Nhân … cho đến các câu chuyện ly kỳ hơn là sự hận thù giữa các võ phái Nam Thiếu Lâm mà chủ đạo là mối thâm thù huyết hải giữa hai phái Thiếu Lâm Hồng gia và Thiếu Lâm Bạch Mi.

Tại sao có câu chuyện này ?

Thuyết thứ nhất

Mọi chuyện bắt đầu từ vị vua Càn Long nhà Thanh sáng tác bộ tiểu thuyết võ hiệp Càn Long Du Giang Nam gán cho Bạch Mi Đạo Nhân và các môn đồ của ông cùng Phùng Đạo Đức, Ngũ Mai Lão Ni Sư Thái âm mưu ngấm ngầm dẫn dắt quan quân nhà Thanh đi phóng hỏa đốt chùa Nam Thiếu Lâm ở thành phố Toàn Châu tỉnh Phúc Kiến vào năm 1723 (tức năm Ung Chính thứ 2), làm cho người đời sau cứ ngỡ ngôi chùa bị đốt là chùa Thiếu Lâm Tung Sơn ở huyện Đăng Phong tỉnh Hà Nam mà ngôi chùa này mới thật sự là chùa Thiếu Lâm chính là nơi xuất phát võ Thiếu Lâm. Sau đó Chí Thiện Thiền Sư xây ngôi chùa Nam Thiếu Lâm thứ hai cũng tại thành phố Toàn Châu tỉnh Phúc Kiến rồi sau này cũng bị Bạch Mi Đạo Nhân chính thức ra mặt tham gia thiêu hủy y như lần trước luôn vào năm 1763 (tức năm Càn Long thứ 28). Sau khi tham gia thiêu hủy lần thứ hai này, Bạch Mi đã bỏ đi theo Đạo gia trong núi Nga Mi ở tỉnh Tứ Xuyên và biến mất bặt tăm, mãi cho đến sau này cuối thời nhà Thanh, các môn đồ của Bạch Mi phái ở Phật Sơn tỉnh Quảng Đông và ở Lĩnh Nam (phía nam Quảng Đông giáp ranh Việt Nam) là Trương Lễ Tuyền (Cheung Lai Cheun, 1880 – 1964), còn gọi là Trương Sư, xuất hiện thì giới võ thuật miền Nam Trung Hoa mới biết Bạch Mi phái vẫn còn tồn tại.

Trong các dòng phái của Bạch Mi quyền sau này, các môn đồ của Bạch Mi phái đều phủ nhận câu chuyện trên là bịa đặt và không hề có mối thù nào giữa hai phái Hồng Gia quyền và Bạch Mi quyền cả. Có một số môn đồ Bạch Mi phái lại phủ quanh Bạch Mi Đạo Nhân những câu chuyện truyền kỳ về sự tích tiêu diệt chùa Nam Thiếu Lâm của Bạch Mi Đạo Nhân như là một bằng chứng để đề cao tính siêu việt của kỹ pháp Bạch Mi quyền hơn hẳn võ thuật trong chùa Nam Thiếu Lâm. Đây cũng là câu chuyện không có một sử gia võ thuật Trung Hoa nào ghi nhận là có thật cả.

Có ai biết đâu rằng các môn đồ của Bạch Mi Đạo Nhân cũng bị quan quân nhà Thanh truy lùng và hành hình tội chết vì cũng tham gia phong trào phản Thanh phục Minh lúc đó. Thế là từ đây, Bạch Mi Đạo Nhân lại bị gán cho tội danh “phản đồ” đi theo nhà Thanh để cứu các đồ đệ của mình khỏi tội chết.

Thuyết thứ hai

Lại có thuyết kể rằng Bạch Mi Đạo Nhân, tên thật là Chu Long Tuyền, là một võ tăng trong chùa Nam Thiếu Lâm Toàn Châu Phúc Kiến, do bất mãn với sư phụ là Hồng Mi đã truyền lại tâm ấn và giáo pháp Phật giáo cùng võ công chân truyền cho Chí Thiện Thiền sư để kế nghiệp trụ trì chùa Nam Thiếu Lâm, nên trong bụng từ lâu đã có ý mưu phản và sáng tác ra một môn võ đối nghịch lại với Thiếu Lâm. Sau khi chùa Nam Thiếu Lâm Toàn Châu Phúc Kiến bị hỏa thiêu, sư trưởng chùa Thiếu Lâm là Hồng Mi đã đặt pháp danh cho Chu Long Tuyền là Bạch Mi để giấu tung tích. Bạch Mi sau đó tham gia huấn luyện đoàn binh tăng chùa Nam Thiếu Lâm thứ hai cũng tại tỉnh Phúc Kiến và đã âm mưu tiết lộ kế hoạch phản Thanh phục Minh của chùa cho Càn Long để đổi lấy thông tin về kế hoạch tấn công Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến lần hai với ý đồ tiêu diệt võ Thiếu Lâm hoàn toàn để Bạch Mi phái xưng vương đứng đầu trong giới võ thuật Trung Hoa.

Nếu ai đã nghiên cứu lịch sử võ thuật thì không thể tưởng tượng ra nổi câu chuyện trên lại nhằm ý xuyên tạc Bạch Mi Đạo Nhân một cách độc ác và nham hiểm như vậy.

Nếu câu chuyện trên có thật thì, Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam và Bắc Thiếu Lâm ở Bàn Sơn tỉnh Hà Bắc (Trung Quốc) chắc là hư danh và không có thật trong lịch sử võ thuật Trung Hoa mà chỉ có Nam Thiếu Lâm mới là võ Thiếu Lâm chính tông xưa nay ở Trung Hoa nên mới trở thành mục tiêu của nhà Thanh. Hoặc là, vậy tại sao nhà Thanh không tiêu diệt nốt luôn chùa Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam và Bắc Thiếu Lâm để diệt cỏ tận gốc và xóa sổ tên phái Thiếu Lâm hoàn toàn ra khỏi danh sách các võ phái Trung Hoa.

Sở dĩ Càn Long tiêu diệt Nam Thiếu Lâm vì các đệ tử tục gia của họ đã tham gia phong trào phản Thanh phục Minh. Nguyên nhân này được giải thích rất rõ trong các lưu thuyết về nguồn gốc của các võ phái thuộc hệ Nam quyền Thiếu Lâm rằng: trong cách chào bái tổ của các võ phái hệ Nam quyền tức Nam Thiếu Lâm thì tay phải nắm thành quyền, tay trái xoè thủ chưởng (lòng bàn tay) và hai tay áp vào nhau được đặt ngay trước ngực (trong khi Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam đặt thế chào này ngang chân mày trước mặt) mà trong chữ Hán đó là hai chữ Nhật (Dương) Nguyệt (Âm) ghép lại thành chữ Minh 明 nghĩa làMinh triều cho nên cách chào này có tên là Minh tự Cung thủ lễ có nghĩa là vòng tay bái tổ nhà Minh quyết tâm khôi phục giang sơn nhà Minh.

Trong cách chào Minh tự Cung thủ lễ của Nam quyền, tư thế tấn khi chào là chảo mã tấn, chân phải trụ bộ chịu sức nặng cơ thể 100% và rùn thấp xuống, chân trái chấm nhẹ mũi chân ra phía trước và không chịu sức nặng cơ thể một chút nào. Tư thế chào này trong Nam quyền chỉ có Vịnh Xuân quyền và Bạch Mi quyền là ngược lại: tay phải xòe thủ chưởng, tay trái nắm thành quyền, thế tấn khi chào của Vịnh Xuân quyền là nhị tự kiềm dương bộ, thế tấn khi chào của Bạch Mi quyền là đứng chập hai chân tư thế như đứng nghiêm nhưng rùn thấp đầu gối hai chân xuống gọi là trụ tấn trong Thiếu Lâm quyền.

Trong khi nghiên cứu các bộ quyền thuật Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam thì trước khi vào quyền hai bàn tay xoè thủ chưởng chắp lại phía trước ngực để bái Phật trước, rồi sau đó mới bái tổ các bậc tiên sư bằng tay phải nắm thành quyền và tay trái xoè thành thủ chưởng áp vào nhau nằm ngang chân mày trước mặt chứ không đặt trước ngực như Nam Thiếu Lâm, ý nghĩa của động tác bái tổ này nhằm biểu trưng cho hai lực lượng đối nghịch nhau – hỗ tương nhau là âm dương hoặc cương nhutrong quyền thuật. Sau khi kết thúc bài quyền cũng phải chắp hai tay lại làm lễ bái Phật, chứ không bái tổ bằng tay phải nắm thành quyền và tay trái xòe thủ chưởng để kết thúc bài quyền như các võ phái Nam quyền, cứ xem bài La Hán Thập bát thủ và La Hán quyền, Ngũ Lộ Mai Hoa quyền, Liên Hoa quyền,… của Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam là rõ sự khác biệt này. Cả hai cách chào này: hai tay xòe thủ chưởng chắp trước ngực hoặc tay phải nắm quyền áp vào lòng bàn tay trái xòe chưởng đặt ngang chân mày trước mặt đều được gọi cùng tên là Đồng tử bái Quan Âm, nghĩa là chắp tay lễ Phật trước và sau khi luyện quyền.

Thế tấn khi chào Đồng tử bái Quan Âm của Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam là tư thế đứng chập hai chân lại như đứng nghiêm và giữ đầu gối thẳng gọi là lập tấn trong Thiếu Lâm quyền.

Thuyết thứ ba

Còn một thuyết nữa ly kỳ hơn kể rằng vào thời vua Khang Hy (cha của vua Ung Chính và là ông nội vua Càn Long), có 128 nhà sư chùa Thiếu Lâm đã giúp vị vua này bình định dẹp loạn Ngô Tam Quế, trong cuộc bình loạn này, 128 nhà sư Thiếu Lâm đã đánh bại các binh đoàn nổi loạn và không có một ai bị thương vong cả. Do sự việc này mà phát sinh hận thù giữa các nhà sư Thiếu Lâm và quân đội nhà Thanh nổi loạn sau này qui hồi. Chính các quan quân phiến loạn qui hồi này đã rắp tâm trả thù chùa Thiếu Lâm trong khi vua Khang Hy vẫn còn mang ơn nhà chùa và nhiều lần viếng thăm chùa để lại bút tích tại cổng chùa do chính ngài thủ bút.

Sự thật là vua Khang Hy rất mến mộ võ Thiếu Lâm và có để lại bút tích tại cổng chùa Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam. Còn câu chuyện 128 nhà sư Thiếu Lâm kia thì không hiểu là chùa Thiếu Lâm nào ? chùa Nam Thiếu Lâm Toàn Châu Phúc Kiến hay chùa Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam ? Vì sau này nhà Thanh phóng hỏa đốt chùa Nam Thiếu Lâm. Người đầu tiên phát lệnh cho quan quân nhà Thanh tiêu diệt chùa (Nam) Thiếu Lâm chính là vua Ung Chính rồi sau mới tới Càn Long. Câu chuyện này còn cho biết, sau vụ hỏa thiêu chùa, chỉ còn 5 cao đồ xuất sắc của Nam Thiếu Lâm sống sót và trốn thoát, 5 vị đó là:

  1. Chí Thiện thiền sư (chữ Hán: 至 善 禪 師, phiên âm Latin: Jee Sin Sim See)
  2. Ngũ Mai lão ni sư thái (chữ Hán: 五 枚 師 太, phiên âm Latin: Ng Mui Si Tai hay Wu Mei Shitai)
  3. Bạch Mi Đạo Nhân (chữ Hán: 白 眉 道 人, phiên âm Latin: Bai Mei Dao Ren)
  4. Phùng Đạo Đức (chữ Hán: 馮 道 德, phiên âm Latin: Fung Do Duk hay Fung To Tak)
  5. Miêu Hiển (chữ Hán: 苗 顯, phiên âm Latin: Miu Hin hay Mew Hing) là cha của Miêu Thúy Hoa (chữ Hán: 苗 筴 花, phiên âm Latin:Miu Tsui Fa), ông ngoại của Phương Thế Ngọc (chữ Hán: 方世玉, phiên âm Latin: Fong Sei Yuk)

Vua Càn Long cũng đã từng bỏ công trùng tu chùa Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam sau khi lên thăm chùa và nằm ngủ dưới mái hiên chùa làm thơ khi nghe tiếng mưa rơi giữa đêm khuya thanh vắng suy ngẫm về thế thái nhân tình. Cho nên câu chuyện vua Càn Long thiêu hủy chùa Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam là một sự ngộ nhận lầm lẫn.

Tại mục bài Hồng Gia quyền trong tài liệu Nam quyền Toàn thư – nguyên tác Trung văn của quyền sư (Tiến sĩ) Trương Tuấn Mẫn (dịch giả Việt ngữ Thiên Tường) có nhắc đến Ngũ Tổ là năm vị sư tổ của Nam Thiếu Lâm chính là 5 vị trên mà sau này được các phái võ miền Nam Trung Hoa tôn vinh là 5 vị sư tổ của Nam quyền.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!