CHƯƠNG III: Tôn Chỉ & Giáo Lý Căn Bản

Giáo thuyết của Mật Pháp được ghi chép lại trong nhiều bộ kinh khác nhau. Tất cả được tập thành trong phần “Mật Bộ” thuộc bộ Đại Tạng Kinh của Trung Hoa và bằng các loại chữ khác. Tuy thế phần Mật Giáo được ghi chép bằng chữ Hán do các vị Pháp Sư vâng chiếu của các vị vua Trung Hoa sùng đạo dịch t ừ chữ Phạn sang chữ Hán được coi là có tính cách truyền thống và đầy đủ hơ n cả. Trong đó phải kể 3 bộ kinh được coi là quan trọng hơn hết vì nó trình bày gần đầy đủ những tôn chỉ và giáo lý căn bản của Mật Giáo. Đó là kinh Đại Nhật (MAHAVAIROCANA SUTRA) thuyế t về Mandala được truyền bá mạnh nhất tại miền Nam Ấn, và tông đồ lậ p thành phái Thai Tạng Giới và bộ kinh Kim Cang Đảnh (VAJRASEKHARA SUTRA) l ập thành phái Kim Cang Giới được truyề n bá tại mạn Đông và bộ thứ ba là kinh “Tô Tất Địa” để chỉ bày chơn ngôn, đàn pháp, luật tắc cho hành giả tu tập để đắc thành tất địa. Ngoài ra hằng trăm bộ kinh khác của Mật Giáo cũng đã đượ c đúc kết trong Mật Tạ ng trên cả ngàn năm nay, tuy thế ít phổ biến về giáo thuyết mà lại thuyế t minh nặng về phần phươ ng cách thực hành và oai lực của thần chú do kinh tuyên thuyết. Các bộ kinh này có thể kể một ít như sau: Bí Mật Tạng Đarani, Kinh Bảo Tị nh Đarani, Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đarani Kinh, Diệp Y Quán Tự Tại B ồ-tát Kinh, Kinh Tô-bà-ha Đồng Tử, Kinh Bồ-đề Trường Trang Nghiêm Đarani, Kinh Tối Thắng Tổng Trì, Kinh Đại Bảo Quả ng Bác, Kinh Mạt Pháp Nhất Tự Chú, Kinh Thánh Lục Tự, Kinh Phổ Hiền Đarani, Kinh Văn Thù Nhất Tự Chú, Kinh Diệu Tý Đồng Tử, Kinh Bất Không Quyến Sách, Kinh Bạch Tán Cái Đarani, Kinh Thiên

 

Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-ra-ni, Kinh Như Ý Bảo Luân, Kinh Đại Phậ t Đảnh, Kinh Nhất Thập Diện Quan Thế Âm, Kinh Quán Tự Tại Nghi Quỹ, Kinh Nhất Tự Đảnh Luân, Thần Biến Sớ, Mâu Lê Chú Kinh, Kinh Cầ u Tức Đắc Đarani, Kinh Vô Cấu Tịnh Quang, Kinh Quán Thế Âm Bồ-tát Bí Mật Tạng Thần Chú, Kinh Đại Thừa Bảo Trang Nghiêm Vương, Kinh Trì Minh Tạng Nghi Quỹ, Kinh Bát-nhã Sớ, Kinh Mạn- đà-la Sớ, Bạch Tán Cái Tụng, Phật Đảnh Tụng, Phật Đảnh Sớ, Kinh Ngũ Tự Đarani, Kinh Đại Giáo Vương… Để tìm hiểu tổng quát Mật Giáo không gì hơn là tham chiếu hai bộ kinh quan trọng là Đại Nhậ t và Kim Cang Đảnh cũng như sẽ khảo sát sơ lược toàn bộ các bản kinh khác trong Mật Tạng.

I. MẬT GIÁO QUA HAI BỘ KINH ĐẠI NHẬT VÀ KIM CANG ĐẢNH:

Đại Nhật Kinh là lược gọi của kinh “Đại Tỳ-lô-giá-na Thành Phật Thần Biến Gia Trì” gồm 7 quyển, được dịch từ Phạn văn sang chữ Hán vào đời Đường, do ngài Thiện Vô Úy và Nhất Hạnh dịch chung. Kinh Kim Cang Đảnh là tên ngắn của “Kim Cang Đả nh Nhất Thế Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vương Kinh” gồm ba quyển do Đườ ng Bất Không Tam Tạng Pháp Sư dịch. Hai bộ kinh này trên mặt giáo t ướng đã giải bày chơn lý, thật tướng c ủa các pháp: Lục Đại, Tứ Mạn, Tam Mật, Thập Trụ Tâm… mà chúng ta cần duyệt xét sau đây:

1. LỤC ĐẠI.

Mật Tông chủ trương Lục Đại là chơn thậ t thể của vũ trụ. Lục Đại là Địa Đại, Thủy Đại, Hỏa Đạ i, Phong Đại, Không Đại và Thức Đại. Lục Đại là bản nguyên của các tánh năng sinh (sinh ra) năng lưu (lưu xuất ra). Trong Lục đại thì 5 Đại trước thuộc về vật, Đại cuối cùng thuộc về tâm (Thức đại). Sáu Đại này mỗi mỗi đều dụng thông, không ngăn ngại, thâu nhiếp lẫn nhau, làm nhân làm duyên cho nhau mà sanh ra các pháp.

Lục đại bao gồm 3 phương diện:

Thể đại: tức là  thể chung của vũ trụ bản
Tướng đại: tức là hình tướng của sự vật và chúng sanh.
Dụng đại: tức là ngôn ngữ, động tác, công dụng của mỗi sự vật.

Như vậy vũ trụ vạn hữu không có gì ngoài Thể đạ i, Tướng đại, Dụng đại. Thể, Tướng, Dụng là chúng ta dùng trí l ực chia chúng ra như thế để quan sát. Chứ thực ra, ba phương tiệ n ấy không thể rời nhau, không thể tồn tại riêng r ẻ được. Ngoài Thể đại thì Tướng đại và D ụng đại cũng không thể có được. Vậy xét một phương diện thì rõ được cả ba.

Như chúng ta thấy ở trên: Sáu Đại dụng thông, thâu nhiếp lẫn nhau và ba phương diện: Thể, Tướng, Dụng, cũng không thể rời nhau. Nên vũ trụ vạn hữu, mặc dù muôn hình vạn trạng, rộng lớn vô biên, vẫn có cái lý dung thông vô ng ại, châu biến khắp tất c ả. Cái đó gọi là lý tánh hay chơn như. Lý tánh hay chơn như là nồng cốt của Sự tướ ng. Nhưng nếu không có Sự tướng, thì chơ n như hay lý tánh cũng không thể bi ểu dương được. Lý tánh và Sự t ướ ng là hai khía cạ nh tĩnh và động của Nhất Như. Nói tóm lại có Lý tức có Sự, có Sự tức có Lý.

Lý tánh của vũ trụ vạn hữu c ũng tức là Phật tánh. Như vậy Phật tánh đều có sẵn trong mỗi chúng sanh, trong mỗi hình thức. Muốn chứng ngộ Phật tánh, muốn thể nhập Chân như, trướ c tiên phải quan sát Sự tướng. Sự tướng có thể gồm trong 4 loại sau đây, tức là bốn Mandala.

2. BỐN MANDALA.

Mandala có nghĩa là tròn trịa đầy đủ, rộng lớn không lường. Bốn pháp Mandala hay gọi tứ mạn tướng đại là bốn tướng rộng lớn, đầy đủ của bản thể do sáu đại mà biến hiện ra.

Bốn pháp Mandala là:

a. Đại Mandala (Maha-Mandala). Nghĩa rộng là thân của các loài hữu tình trong mười phương pháp giới, là sắc tướng môn pháp trong mười phương vũ trụ, y theo lục đại mà hiện. Nghĩa hẹp là chỉ cái sắc tướng trang nghiêm của Phật, Bồ-tát… được thể hiện trong các pho tượng chạm trổ, tô vẻ v.v…

b. Tam-muội-gia Mandala (Samaya Mandala). Nghĩa rộng là hết thảy cơ khí trong vũ trụ, những vật dụng thường ngày của chúng sanh hay rộng hơn nữa là cái đặc tánh riêng biệt của mỗi pháp. Núi, sông, cây, cỏ… Nghĩa hẹp là chỉ những vật mà Bồ-tát và Phật thường dùng như hoa sen, ngọc Bửu châu, cành dương liễu, chày Kim Cang… để tiêu biểu cho thệ nguyện hay các đặc tánh thù thắng riêng của quý ngài trong việc cứu độ chúng sanh.

c. Pháp Mandala (Dharma Mandala). Nghĩa rộng là hết thảy các loại âm thanh, lời nói, hình ảnh, tên gọi, ký hiệu trong vũ trụ. Nghĩa hẹp là chỉ cho những chủng tử tự hay chơn ngôn của các đức Phật hay Bồ-tát. Chủng tử ở đây tức là chữ Cái, chữ tiêu biểu cho bản thể của Phật và Bồ-tát, như chủng tử của Đức Đại Nhật Như Lai chữ “A” ( ), chủng t ử của Ngài Kim Cang Tát-đỏa là chữ “HUM” ( ). Còn chơn ngôn tức là Mật chú và danh hiệ u của Phật và Bồ-tát cùng tất cả văn nghĩa trong kinh điển.

d. Yết-ma Mandala (Karma Mandala): Yết-ma nghĩa là cử động làm các s ự nghiệ p. Vậy nghĩ a rộng của Yế t-ma là chỉ cho hết thảy động tác c ủa chúng sanh và muôn vật. Nghĩa hẹp là chỉ cho hết thảy oai nghi, độ ng tác của chư Phật và B ồ-tát để làm các sự nghiệp độ sanh. Bốn Mandala trên đồng thời tồn t ại, đ ã có một Mandala tức phải có 3 Mandala kia. Bốn Mạn này Phật, Bồ-tát, chúng sanh đề u có. Bốn Mạn của Phật không lìa b ốn M ạn c ủa chúng sanh, 4 Mạn củ a chúng sanh không lìa 4 Mạ n của Phật. Vì thế kinh thường gọi là 4 Mạn không lìa nhau.

3. TAM MẬT.

Phươ ng pháp tu hành trọng yếu của Mật Tông là Tam Mật. Tam Mật là phương pháp tu hành mầu nhiệm dựa trên thân, ngữ, ý. Tam mật gồm có: Thân mật, ngữ mật, và ý mật. Như trên đã nói, chúng sanh và Đức Như Lai đều do sáu đại làm thể, bốn pháp Mandala làm tướng, không sai khác. Như Đức Đại Nhật có tam pháp giới là thân mật, hết thảy tiếng tă m là ngữ mật, cái thức lớn bao trùm tất cả là ý mậ t. Còn chúng sanh thì tay bắt ấn là thân mật, miệng niệm chơ n ngôn là ngữ mật, tâm chuyên vào Tam-ma-địa (thiền định) là ý mậ t. Nhưng Phật và chúng sanh khác nhau ở tịnh và nhiễ m, ngộ và mê, giải thoát và ràng buộc. Vậy chúng sanh muốn được như Phật phải tu hành theo pháp tam mật. Nhờ tay bắt ấn mà tịnh được thân nghiệp, miệ ng ni ệm chơn ngôn mà tịnh đuợc khẩu nghiệp, trí quán tưởng Đức Đại Nhật hay các chủng tử t ự hoặc linh phù mà dẹp được vọng tưởng, ý nghiệp được thanh tịnh.

Sự tu hành Tam Mật có thể chia làm 2 giai đoạn lớn:

Giai đoạn đầu là Tam Mật Gia Trì. Trong giai đoạn này, sau khi hành giả đã làm chủ được thân, ngữ, ý rồi thì tâm thủy của mình (tâm vắng lặng như nước đứng yên) được ánh sáng mầu nhiệm của Đại Nhật Như Lai chói rọi vào, tức là “gia” và tâm thủy mình cùng cảm chịu, thu nhận được ánh sáng mầu nhiệm ấy, tức là “trì”. Một bên thì gia, một bên thì trì, hai bên thừa tiếp nhau nên gọi là “Tam Mật Gia Trì”.

Giai đoạn hai gọi là Tam Mật Du- già. Khi tam mật gia trì đã thuần thục, thì ánh sáng của Đức Đại Nhật và ánh sáng trong tâm thủy của hành giả hiệp nhau (DU-GIÀ) không sai khác thì gọi là “Tam Mật Du-già”. Đến đây tức là công phu tu hành hữu tướng tam mật đã thành tựu.

Học thuyết Chơn Ngôn Tông coi ba cái Mật này là trọng đại: thân, khẩu, ý. Mỗi vật đều có thân thể, lời nói và tư tưởng, con người thì nói được. Song trong bầu trời những vật khác cũng nói được. Ta chưa nghe và chẳng tầm mà nghe, ta chớ cho vật là câm. Vật vẫn nói, song ta chưa biết nghe, ta không nghe, thế nên Tông Chơn Ngôn mới gọi là thân, khẩu, ý của vạn vật trong vũ trụ là 3 cái mật ẩn, ba cái bí thuật.

Cây cối, cỏ hoa đều nói được hết. Lá xào xạc trên cây, cành khua rắc rắc dưới chiều gió; có khi ta nghe như tiếng ca ngâm; có khi ta nghe nh ư tiếng luận bàn; có khi ta nghe như tiếng nạt nộ. Có dịp ngồi trong một đám rừng sâu và lẵng lặng mà nghe, quý ngài sẽ nhận ra rằ ng cây cối giống hệt như người, bàn bạc, nói năng, chào mời đủ cách. Tiếng suối trên non rỏ rẽ, kẻ thế thường nhận có bấy nhiêu. Các nhà có cảm, các bậc thi nhân mới mở cái tâm ra, nên nhận là tiếng đờ nêm ái, dịu dàng. Mấy trang học đạo biết rõ ràng tiếng suối là lời nói đủ âm, đủ dạng. Một đôi khi ngồi dưới bãi biển, ta nghe sóng vỗ vào gành; có khi chúng nó gọi to, có lúc chúng nó ầm ĩ, dường như bàn tính một vật gì.

Mọi vật chung quanh ta. Gia cầm, chim chóc đều nói chuyện và ca mừng rất có ý nghĩa. Vạn vật nào phải là câm. Ấy tại loại người chẳng biết nghe đó. Tiếng nói loài người là một thứ tiếng nói trong bao nhiêu những tiếng nói của vũ trụ. Nếu ta biết tu dưỡng, nếu ta biết để riêng nơi ta một chỗ tinh khiết, nghiêm trang, nếu ta biết giữ luật đạo, thì ta sẽ hiểu tiếng của vật, cho đến Thần, Thánh, Tiên v.v… ta cũng sẽ thấy hình và tiếng nữa. Điều kiện cần thiết là giữa cái tâm trong sạch, những khiếu trong người ta sẽ mở thông và nhận được các sự ẩn kín trong vũ trụ.

Vì người ta thườ ng chấp theo văn tự, học theo sách vở nên chỉ thấy bi ết những cái bề ngoài mà thôi. Những môn học thường cho họ biết cái bên ngoài của vạn vật, chớ nào có phân giải với họ về những vấn đề siêu hình, huyền bí, ẩn mật và nào có chỉ cho họ được cái chỗ tuyệt đích mà ta mò không tới, trông không ra, suy không nổi đâu! Thật ra đó mới là cái chỗ loài người rất mong. Họ chỉ thấy vật có hình có thể, chớ họ đâu biết mà nhận ra rằng vật cũng có tư tưởng và lời nói. Vạn vật trong vũ trụ, không trừ vật nào, hễ có hình thể thì có tư tưởng và nói được. Vật nào sống cũng tại tư tưởng, vật là sự phát hiện thành chất của tư tưởng mà tư tưởng lộ ra bằng lời nói, tiếng tăm và dấu hiệu. Không bao giờ có sự lặng thinh mà sự im lặng chính là lời nói ở trong tâm trí. Vậy nên nhờ sự im lặng mà lắm khi vật với vật mới hiểu nhau. Ai mà nhập diệu được hoàn toàn 3 cái thân mật, khẩu mật và ý mật thì đắc ngay quả Phật. Chúng ta phải xét kỹ và học hỏi cho lâu mới thấy cái 3 mật đó. Từ đây về sau chúng ta đừng phân giai cấp, đừng khinh rẻ vật có mạng sống và vật không có mạng sống.

4. THẬP TRỤ TÂM.

Những nhà Phật giáo Đại thừa tin rằng giáo lý dị biệt giữa các tông phái và tôn giáo khác nhau đều có ích và cần thiết cho những ngườ i có khả năng và viễ n ảnh khác nhau. Một số những giáo lý này có tính chất quyền biến, bày ra cho tâm thức non nớt c ủa quần chúng; một số khác mới thật là giáo lý t ối hậu chỉ thích hợp cho một giai đoạn tiến hóa nào đó và cho một thiểu số người có một trình độ tâm thức cao hơn. Nhưng tất cả những giáo lý và các tôn giáo đã đóng vai trò xây dựng của chúng trong việc xúc tiến an lạc và phát triển tâm linh nhân loại. Những giáo lý linh thiêng chỉ có một sự dị biệt giữa giáo lý sơ bộ và giáo lý tiến bộ; giữa giáo lý quyền biến và giáo lý tối hậu chứ không giữa giáo lý “đúng” và giáo lý “sai”. Hoằng Pháp Đại Sư (KOBO 774-835) người tập thành toàn bộ Mật Giáo đã phân tích sự phát triển của tâm thức con người và xếp loại thành 10 giai đoạn phát triển của tâm, tức “Thập Trụ Tâm”. Mười bậc tư tưởng trên có ghi trong quyển Đại Nhật Kinh. Đức Hoằ ng Pháp Đại Sư ví mười bậc ấy như những thời kỳ của một đóa sen dưới hồ:

1) Dị Sanh Kỳ Dương Tâm: những nẻo đường của cuộc sống mù quáng do bản năng điều khiển. Bậc đầu này là lúc con người còn trong cảnh ngu muội; chẳng hơn gì bọn ở 3 cảnh: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Người ta nói rằng những kẻ này sanh ra khác người hiền. Họ sống dưới quyền sai khiến của các sở dục, không biết phân biệt sự phải quấy, thiện ác và chẳng hiểu luật nhơn quả. Họ chỉ biết thỏa thích về ăn uống và dâm dục mà thôi. Ở bên Thiên Trước, người ta gọi hạng này là bọn dê, vì giống vật này khờ khạo và ngu muội hơn hết.

Kìa dưới hồ sen, trước khi nở ra và mọc lên, hoa sen còn là một cái mầm vùi dưới bùn. Ấy là tư tưởng bậc đầu.

2) Ngu Đồng Trì Trai Tâm (Nhân Thừa): Cố gắng vươn lên cho một đời sống đạo đức. Bậc thứ hai là cảnh người biết giữ giới, bậc chung của loài người. Ở đây người ta chưa thông hiểu, song tuân theo giáo điều. Người ta giữ lễ tục theo kinh sách và lời truyền dạy từ xưa. Người theo đạo Phật thì trì giữ ngũ giới cấm: tránh sát sanh, trộm đạo, tà dâm, vọng ngữ, và ẩm tửu, nhờ đó khỏi tạo cái nghiệp về miệng và thân. Người theo Khổng Giáo thì giữ Tam Cang và Ngũ Thường: quân thần, phụ tử, phu thê, nhơn, nghĩa, lễ, trí, tín. Bên Chơn Ngôn Tông,ở bậc này, kẻ học đạo tham thiền về 3 cái ẩn-mật: thân mật, Thiên, Nhân Atula, Ngạ quỷ Súc sanh, Địa ngục. khẩu mật, ý mật. Trổi bước lần đầu, người ta cũng như cọng sen cất mình lên khỏi lầy. Song còn yếu ớt.

Bánh xe Luân hồi

3) Anh Đồng Vô Úy Tâm (Thiên Thừa): Giao đoạn chúng sanh ở cõi Thiên, nỗ lực cho một sức mạnh siêu nhiên. Bậc này là cảnh trí của người trai trẻ không sợ. Đã qua khỏi thời kỳ đáng lo. Tới đây con người tránh được 3 cảnh: Địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, họ lại ngó thấy cảnh tốt của thần tiên. Họ cố gắng trì thập giới của nhà Phật và ưa gần gũi với thiện tri thức, nên chắc khỏi cảnh sa ngã. Người ta cũng kể vào đây phái đồ đạo Lão và Đạo Bà-la-môn chân chánh hành giả Chơn Ngôn Tông bậc này tấn hóa khá lắm về thân mật, khẩu mật, và ý mật. Cảnh này ví như hoa sen mà cành đã ra khỏi nước, vượt lên ánh sáng mặt trời.

4) Duy Uẩn Vô Ngã Tâm (Thanh Văn Thừa): Thừa của người vươn lên đời sống tâm linh cao đẳng như trong các bộ phái tiểu thừa. Câu-xá Tông và Thành Thật Tông. Ở bậc thứ tư, con người không còn giữ cái “bản ngã”. Con người là một cái tâm trí, biết tham xét để tìm cầu chơn lý. Người ta hiểu được: Không có cái tôi, cái bổn ngã, mà có năm cái uẩn: Sắc (những gì thuộc về vật chất có thể nhìn được hoặc không, còn trong thân thì những gì không thuộc vào các trạng thái tâm lý đều gọi là Sắc), Thọ (những cảm giác về khổ hay vui, những tâm lý vui hay buồn), Tưởng (suy nghĩ hay tưởng tượng), Thức (cái biết của trí, thành phần phân biệt đối tượng của tâm lý). Cái bản ngã tự cao, nguyên nhân của các sự bào ảnh, chính nó cũng là bào ảnh nữa, cái bản ngã ấy cũng không thật có nên phải bỏ nó. Cảnh trí này ví như cánh sen còn búp. Chờ khi nắng tới, cái bông búp sẽ nở ra thành một cánh hoa đẹp.

5) Bạt Nghiệp Nhân Chủng Tâm (Độc Giác Thừa): Tự tu tự hưởng nhưng còn vị kỷ. Ở bậc này đã thành Phật Duyên giác. Các Ngài tống ra khỏi tâm những cái tham dục. Các ngài tham thiền về những nhân duyên của lòng tham. Tất cả là 12 cái nối dài với nhau và cái đầu đảng, cái mầm móng là cái vô minh. Nhờ tham thiền các ngài mới lôi chúng ra khỏi mình. Các ngài trở nên minh, đắc quả Phật Duyên giác. Đứng về Tông Chơn Ngôn, bậc thứ tư và thứ năm là cảnh trí của nhà tham thiề n về cái chẳng có đích thật. Sự vật tựa hồ như hình rọi vào kính và tră ng soi dưới nước. Đời người và cuộc thế tựa hồ như giấc mộng mau qua. Như trên mặt hồ, bông sen rọi xuống rõ ràng, song chẳng qua là bào ảnh.

6) Tha Duyên Đại Thừa Tâm: Tới đây là bậc của các nhà tu Đại thừa đủ lòng bác ái giúp đời. Tuy cuộc thế là mộng ảo chớ cái tư tưởng chẳng phải là ảo mộng. Cái tư tưởng là có thật và mỗi vật đều ở trong đó mà ra ấy là học thuyết của Pháp Tướng Tông. Cái tướng ta thế nào, đời ta thế ấy. Nó lành thì đời ta êm ái, nhẹ nhàng; nó dữ thì đời ta bối rối phiền lo. Và bao giờ tư tưởng ai thấp kém thì đời người ấy không bao giờ thanh cao được. Lại như ta biết cái bí thuật giải thoát mà không độ thoát cho chúng sanh hưởng nhờ, thời ta không thành Phật được. Giá như đức Phật, không đem giáo lý cứu khổ mà độ cho đời thoát ra khỏi bến mê vô tận thì ngài đâu xứng danh là Phật, là danh Đại Từ Bi được. Tư tưởng dễ tấn phát, cần phải lo cho người khác tấn phát với. Ví như hoa sen nó dưới hồ, bị cỏ lá bấu vào, mấy cọng sen mới họp nhau lại mà vượt ra khỏi và lướt lên bầu trời một cách vẻ vang.

7) Giác Tâm Bất Sanh Tâm: Đến bậc này con người đã đạt tới cái tư tưởng “Chân Không”, tức là không phải có và không phải không, cái mực trung thuyết Tam Luận Tông. Người ta tham thiền về 8 cái không: Không sống, Không chết, Không đến, Không đi, Không giống, Không khác, Không có, Không không. Cố sức mà thiền định như vậy cái tưởng bèn thoát khỏi những chỗ thấp thường mà lên chí những đảnh cao nghiêm, vượt tới cõi trời Trung đạo, trong trẻo và êm đềm. Các nhà tu chơn ngôn, bậc thứ 6 và thứ 7 nhập định pháp Du-già (YOGA: Hiệp một vớ i Thượng Đế ) một cách tự do và dễ dàng. Bậc này như hoa sen lên khỏi mặt nước, tuy không phải là thực hẳn chớ không phải là cái bóng rọi trên mặt gương của cái hồ. Không phải thật mà chẳng phải không thật.

8) Nhất Đạo Vô Vi Tâm: Ở bậc thứ 8, người ta tưởng đến nền đạo chung cho tất cả, Nhất Thừa Vô Vi thuộc theo thuyết Thiên Thai Tông. Mọi vật đều như nhau, đều có cái Phật tánh. Cái gì cũng có thể thành Phật hết. Ở đây ví như dưới hồ mà hoa sen mọc lên hứng lấy bóng mặt trời. Khắp cả hồ sẽ có đầy hoa sen! Xinh lịch thay!

9) Cực Vô Tự Tánh Tâm: Bậc thứ 9 đi với thuyết Hoa Nghiêm là thuyết về Hiển giáo cao hơn hết. Tông Hoa Nghiêm giải rằng cái tuyệt đối cũng là một với cái tương đối, nên nó không giữ cái tánh của nó. Ta ví bậc tư tưởng này: hoa sen đến lúc đẹp đẽ, sáng rỡ cực điểm, dường như chứa vào nó biết bao sự bi thiết tinh vi.

10) Bí Mật Trang Nghiêm Tâm (Kim Cang Thừa): Tông chỉ của Chơn Ngôn Tông. Bậc thứ 10 là cái tư tưởng tô điểm bằng sự ẩn mật. Đó là tánh chất của Chơn Ngôn Tông. Sự ẩn mật ở đây là ba cái mật: Thân, Khẩu, Ý. Nếu hiểu sự ẩn mật của vũ trụ, thông ba cái mật đó thì thành Phật trong khi sanh tiền, cũng như khi xem hoa sen, ta chẳng phải thích bằng con mắt không mà thôi. Lại khi thấy hoa sen trải qua nhiều thời kỳ từ lúc còn là một hạt giống cho đến lúc hoàn toàn, nếu ta thấy biết có bấy nhiêu, thì ta là người mờ ám đó. Ta phải hiểu cái cuộc đời bề trong linh hoạt và nhiệm mầu. Cũng như ta hiểu rằng ta có một cái tâm như Phật và hoa sen cũng có cái tâm như ta.

Cảnh giới Địa ngục

Còn tiếp…

 

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!