Một vài môn phái về bùa chú như Tiên gia, Lỗ Ban, Chà Kha, Phật Gia (P2)

MỘT VÀI MÔN PHÁI VỀ BÙA CHÚ: TIÊN GIA, LỖ BAN, CHÀ KHA, PHẬT GIA (P2)


Bùa Chú Phật Giáo

Nam Tông Ngũ Phương Phật

Cách bài trí bàn thờ của Nam Tông Ngũ Phương Phật:

Nam Tông Ngũ Phương Phật – Bài trí bàn thờ

Trong lư hương cắm 5 nén nhang sống (không đốt), trái cây 5 thứ không cúng Cam, Ổi.

Ngày mùng một hay ngày rằm để thêm:

Bỏng (nếp hay bắp rang), dầu dừa, 5 miếng cau, 5 lá trầu, 5 điếu thuốc.

Cấm Kỵ:

Những kiêng cữ khi dùng Chú Nam Tông:

Không chửi cha mắng mẹ và chửi mẹ của bất kỳ người nào

Không lấy vợ, đoạt bồ của người khác

Không ăn được chó, trâu, mèo, khỉ, rắn, rùa (xui lắm), còn lươn, ếch da trơn những người luyện Gồng đừng nên ăn vì phép Gồng sẽ khi thăng khi giáng lúc được lúc không.

Không ăn rau ngổ (ngò om), khế, dấp cá, củ khoai môn (khoai nước), bí đao.

Nên ăn chay và không làm chuyện Phòng Sự trong 2 ngày Sóc, Vọng (mùng 1, rằm)…

Không được trộm cắp, lường gạt hay cậy mạnh hiếp yếu. Không được bất hiếu với Cha Mẹ, lấy vợ phá gia cảnh người khác, người tu luyện huyền thuật đúng nghĩa không được coi tiền tài hơn việc nghĩa (có tiền mới cứu, không tiền không cứu), không nên vỗ ngực “Ta Đây” thường xuyên biểu diễn những phép thuật mình đã thủ đắc cho người khác xem (chém không đứt, nhai miếng chai, đả cách không, thổi ghẹo gái theo v.v…)

Buổi tối đừng ăn no quá, khi dụng công, công phu phải kiên trì, thức sớm lễ bái, trì tụng đều đặn mỗi ngày dù trời lạnh hay nóng, nên thường xuyên quán sát Tâm mình, diệt Ngã và tránh xa những Tổn Hữu ác đãng (bạn bè xấu có hại cho việc tu trì của mình), nên gần các Thiện Hữu Tri Thức v.v…, không đố kỵ, ganh tài, nói xấu kẻ đồng nghiệp, đồng môn, như vậy mà nắm giữ trì chí chắc chắn sự nghiệp Huyền Học sẽ thành tựu.

Nếu như có lỡ ăn phạm các thứ kỵ thì đọc câu chú sau đây 7 lần thổi vô ly nước vái và uống sẽ hết:

Ề HẾ ẮC CA RA KIA THA DOL TĂN SOL TĂN QUÍ TĂN CẮC RÊ Ề HẾ MẮC MẮC.

Căn bản nhật tụng cầu an hay để tu luyện

Đầu tiên đốt 3 cây nhang chắp ngay trán tập trung niệm:

Om Răm Xóa Ha (7 lần) (TỊNH PHÁP GIỚI CHÂN NGÔN)

Ôm Xoa-pha-va, Sút-đa Sạt-va Đạt-ma Xoa-pha-va Sút-đa Hùm (3 lần) (TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN)

Na mắc, sa-măn-tá, But-đa-năm, Ôm đu ru đu ru, đi ri đi ri pơ-rit Thi-vidê, Xoá ha. (7 lần) (AN THIÊN ĐỊA)

Chú Niệm Hương

Búd thăng bô chăn

Thơm măn bô chăn

Son khăn bô chăn

Ten năn bô chăn

Xanh lăn bô chăn

Kích năn ca rô mí

(3 lần, cắm nhang lên ban thờ)

TÁN THÁN, ĐẢNH LỂ PHẬT:(3 lần, lạy 3 lạy)

Nắc mô ta sắc

Phắc cá quá to

Á rá há to

Sam ma sam Búd ta sắc

(Nếu không có câu này thì không thành Bùa Phép gì được cả, quan trọng lắm. Xin nhớ đừng quên!)

Thỉnh Tổ:

No Tho Ngăn, mách na măn, ís soi sô, Ề hế nắ mắ bà tá, ề hế nô mô búd thia dắ, ề hế ắ sa ngăn ma mắ. (3 lần)

Cúng Thầy:

Úc ca sắc ết măn xà lăn á ký tha mí

Tút tế dăn bế ế măn xà lăn á ký tha mí

Tách tế dăn bế ế măn xà lăn á ký tha mí.

Nguyện Trời Phật Thầy Tổ hộ độ……….. (3 lần)

Lệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế, mẹ Tam Vị Thánh Tổ, Chư Vị 5 Ông. Phật Tổ Như Lai, Lưu Quan Trương Châu Bình, chư Tiên chư Phật chư Thánh chư Thần, Tam Thập Lục Tổ, Chư Vị Thần Bùa chứng kiến độ trì cho đệ tử (pháp danh, sau đến tên họ tuổi) học Pháp thành công đắc Đạo cứu nhân độ thế. (3 lần 3 lạy).

Bùa Tổ Xiêm 36 mặt để thờ

Bùa Tổ Xiêm Nam Tông

Bùa Lục Tổ Xiêm

Bùa Lục Tổ Xiêm Nam Tông

Khăn Ấn Phật Tổ Ngũ Ông Xiêm môn phái

Khăn Ấn Phật Tổ Ngũ Ông Xiêm môn phái

Bùa Chú Đại Thừa Phật Gia

Chữ VẠN và Lục Tự DI ĐÀ!

Chữ Vạn Và Lục Tự A Di Đà

Thơ rằng:

NAM chỉ về tâm phải tịnh thanh

 không dục, lợi chẳng cầu danh

A trừ dâm dục nuôi tinh đủ

DI dứt lòng lo, giữ báu lành

ĐÀ ấy Kim Thân danh bất diệt

PHẬT là Xá Lợi hiệu vô sanh

LỤC RA chép để người người biết

TỰ lấy mình tu chắc đặng thành.

Mười điều tâm niệm:

1). Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bịnh khổ, vì không bịnh khổ thì dục vọng dễ sanh.

2). Ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu xa nổi dậy .

3). Cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.

4). Xây dựng Đạo Hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường.

5). Việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thường kiêu ngạo

6). Giao tiếp đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.

7).Với người thì đừng mong tất cả thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng.

8). Thi ân thì đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân có mưu đồ.

9). Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động.

10). Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân quả chưa xả.

Bởi vậy Đức Phật dạy:

Lấy bịnh khổ làm thuốc thần Lấy hoạn nạn làm giải thoát

Lấy khúc mắc làm thú vị Lấy Ma Quân làm bạn đạo

Lấy khó khăn làm thích thú

Lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ

Lấy người chống đối làm nơi giao du

Coi thi ân như đôi dép bỏ

Lấy sự xã lợi làm vinh hoa

Lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh.

(Luận Bảo Vương Tam Muội)

Đức Như Lai bảo rằng: “Này các Thiện Nam Tử! Nay Ta sẽ nói, muốn tu thành Phật thì có mười cách nhất định sau đây sẽ thành tựu. Thế nào là mười?

  • Thứ nhất: Trì tâm bình đẳng, nơi Pháp không nghi, nơi Phật sanh tín, sanh lòng thương xót chúng sanh, không đắm sắc dục.
  • Thứ hai: Trì giới không phạm, thường nhiếp tâm không nói láo, hay giúp cho chúng sanh đoạn trừ ngã mạn.
  • Thứ ba: Không làm ác, không được sát hại, không ăn ác thực (thịt, cá v.v…), thường xét kỹ mình không thấy lỗi của người.
  • Thứ tư: Ở nơi các Pháp không sanh phỉ báng, dùng Phật Pháp ngăn ngừa tội lỗi, ở nơi Chư Tăng xem như cha mẹ.
  • Thứ năm: Không quên lời nguyện, đối với giàu nghèo có tâm bình đẳng, hay tùy thuận người.
  • Thứ sáu: Lời Phật nhớ kỹ, tu các Pháp cần cố giữ gìn, có người cầu xin thì phải dạy bảo, không cần xem xét căn Thượng, Trung, Hạ.
  • Thứ bảy: Trì các ấn khế, không được dơ uế, không kết trái thời, không vì khen hay lợi lộc mà kết ấn, không lìa bỏ chúng sanh.
  • Thứ tám: Nơi tất cả không tham lam, không đoạt lý làm ác, không dua nịnh , giữ gìn Phật Pháp như giữ thân mạng, cho đến dẫu đói nghèo cũng không sanh hai lòng.
  • Thứ chín: Thường cứu các nạn không được thối tâm, trừ kẻ không chí thành, không được khinh hay phỉ báng Pháp hoặc khiến kẻ khác cũng làm như vậy, thường phải chân thật nói lời mềm mỏng, hay thích việc lành, lòng đầy Từ bi.
  • Thứ mười: Diệt trừ các tà hạnh, lòng tin bền chắc không từ lao nhọc, trong đại chúng có Thiện trí thức cần nên lễ bái và thường gần gũi. Nếu nơi suối rừng thanh tịnh, tự có phát nguyện rộng cũng không được quên lãng, luôn luôn nhớ niệm, không khởi các tà kiến.

10 điều Phật dạy và những điều tâm niệm do Thánh Nhân lập bày giáo hoá chúng sanh, bạn nên kiếm Luận Bảo Vương Tam Muội mà xem đễ tường tận hơn! nếu có nhơn duyên cùng Tịnh Độ thì cứ chiếu theo Ngũ Khoa Tịnh Độ mà hành, tuỳtheo  sức mình và căn cơ:

1) Tam Phúc: (phúc báu Nhân, Thiên)

Hiếu dưỡng Phụ Mẫu
Phụng sự Sư Trưởng
Từ tâm bất sát
Tu thập thiện nghiệp

2) Lục Hòa: (Như trên)

Kiến hoà đồng giải
Thân hoà đồng trụ
Giới hoà đồng tu
Khẩu hoà vô tranh
Ý hoà đồng duyệt
Lợi hoà đồng quân

3) Tam Học: (Phước báu nhị thừa)

Thọ trì tam quy (Giới)
Giữ gìn cấm giới (Định)
Không phạm oai nghi (Huệ)

4) Lục Độ: (Phúc báu đại thừa)

Phát Bồ Đề tâm
Thâm tín nhân qua
Đọc tụng đại thừa
Khuyến tấn hành giả
(Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục,Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ)

5) Thập Đại Nguyện Vương Của Phổ Hiền Bồ Tát: (như trên)

Lễ kính Chư Phật
Xưng tán Như Lai
Quảng tu cúng dường
Sám hối nghiệp chướng
Tuỳ hỉ công đức
Thỉnh chuyển pháp luân
Thỉnh Phật trụ thế
Thường tuỳ Phật học
Tuỳ thuận chúng sanh
Phổ giai hồi hướng 

Sư Phụ có dặn là: con hãy xem

Người như người thân (coi mọi người như anh chị em của mình thì sẽ không có tâm hơn thua)

Đời như ân nhân (mỗi sự vấp ngã là 1 bài học dạy mình tốt hơn)

Đạo như một Đạo (mình sẻ không tranh chấp tôn giáo càn rỡ mà phạm trọng tội không hay)

Các Câu Chú Từ Lục Tự Đại Minh

Chữ Tây Tạng

Chữ Nepan

Như Ý Thần Chú

OM MA NI PAD MÊ HUM Sarva Artha siddhi, siddhi Kuru Svaha
(OM MA NI PÁD MÊ HÙM sạt wa át tha sít đi , sít đi kuru xóa ha) (Hỡi Đấng thành tựu tất cả cảa cải, giúp con làm được sự thành tựu như Ngài)

Bảo Nguyên Thần Chú:

OM MA NI PAD ME HUM Mohe daridra duhkha jambhe dhàna medhi Hrih Svaha
(OM MA NI PÁD MÊ HÙM Mô hê đa ri đa đút kha jămbê mê đi hật rị
(kéo dài chữ rị 1 chút) xoá ha.)
(Hãy đập nát đau khổ nghèo hèn, ngu si khiến cho con thành tựu công đức chũng tử HRIH)

Trừ Tội Chướng Thần Chú:

OM MA NI PAD ME HUM Sarva Pàpam Àvarana vi’ suddhe Svaha
(Ôm Ma Ni Pat Mê Hùm Sạt wa papăm awarana vi sút đê xoá ha) (Hãy khiến cho tất cả tội lỗi chướng ngại của con đều được thanh tịnh)

Trừ Ếm Đối Nguyền Rủa Thần Chú:

OM MA NI PAD ME HUM Sarva Kr.tyà-Kakordhàn ‘sàntim Kuru Svaha
(Ôm Ma Ni Pat Mê Hùm Sạt wa Krạt da Ka-kô-ra-đăng săn-ting Ku-ru Xoa-ha)
(Hãy làm cho tất cả Ma Thuật của mọi trù ếm, nguyền rủa vắng lặng, để con được an lành)

Trừ Quỷ Thần Chú:

OM MA NI PAD ME HUM Sarva grahàn ‘sàntim Kuru Svaha
(Ôm Ma Ni Pat Mê Hùm Sạt wa gra-hăn Săn-ting Ku-ru Xoa-ha) (Hãy làm cho tất cả Quỷ Thần xấu ac’ xa lánh để cho con được an lành)

Những Câu Chú Từ Kim Cương:

Trừ Trộm Cướp Chú:

OM VAJRA DHARMA AVI’SA CORA BHAYA HUM PHẠT XOÁ HA.
(Ôm Vaijara Đarama AVisa Chô-ra phada Hùm Phạt Xoa-ha)
(Qui mệnh Kim Cang Pháp, hảy cột trói nạn giặc cướp, phá bại nó đi để cho con được an lành)

Sanh Phạm Thiên Chú:

OM VAJRA DHARAMA SVABHÀVA BRAMA UDBHAVA SVAHA.
(Ôm Vaijara đarama Soa-pha-va Bra-ma út-phava Xoa-ha)
(Qui mệnh Kim Cang Pháp, hảy khiến cho Tự tính con phát sinh ra Phạm Thiên, thành tựu như nguyện)

Cầu Đa Văn Chú:

OM VAJRA DHARAMA PRAJNA SUTRAM MAHÀ NÀYA SVAHA.
(Ôm Vaijara Đarama Prajana Sutrăm Ma-ha Na Da Xoa-ha)
(Qui mệnh Kim Cang Pháp, quyết định thành tựu Đại Lý Thú của Kinh Bát Nhã)

Thích Ca Mầu Ni Chân Ngôn

NAMAH SAMANTA BUDHA`NAM, SARVA KRESA NISATINA, SARVA DHARDMA VASITA` PRAPTA, GAGANA SAMA` SAMA` SVAHA`.

Kim Cương Thủ Chân Ngôn

NAMAH SAMANTA VAJRANAM, CĂNDA MAHA` ROSANA HUM.

Quán Tự Tại Chân Ngôn

NAMAH SAMANTA BUDHA`NAM SARVA TATHA`GATA`
VALOKITA` KARUNA MAYA, RARARA HUM JAH SVAHA`.

Nhất Thiết Chư Phật Đảnh Chân Ngôn

Namah Samanta Budhànam, VAM VAM VAM HUM HUM PHẠT Svahà.

Như Lai Viên Quang Chân Ngôn

Namah Samanta Budhànam, jvàlà màlini tathàgatà cri svahà.

Di Lặc Bồ Tát Chân Ngôn

Namah Samanta Budhànam cijtam jaye, sarva satvàsayàsayà dagata svahà.

Như Lai Giáp Chân Ngôn

Namah Samanta Budhànam, pracanda vajra javàla, visphura HUM.

Như Lai Nhãn Chân Ngôn

Namah Samanta Budhànam, tathàgatà caksra rvya valokaya svàhà.

Như Lai Đảnh Tướng Chân Ngôn

Namah Samanta Budhànam gaganà nanta spharana, visudhà dharma nijjate svàhà.

Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn

RIPA RIPATE
KUHA KUHATE
TRANITE
NIGALARITE VILARITE SVAHA.

Phật Mẫu Chuẩn Đề Thần Chú

Cách viết khác, chữ Nepan hiện dùng

Tạng âm: OM TSALI DSULI TSUNDI SOHA

Phật Mẫu Chuẩn Đề Thần Chú

Hàng Tam Thế Chân Ngôn

Namah Samanta Vajranam, Hahaha, vismaye sarva tathàgatà, visaya sambhava tdrai lokya vijaya HUMJAH, svàhà.

Bồ Đề Tâm Chân Ngôn

Namah Samanta Budànam, Bodhi Ạ

Bồ Đề Hành Chân Ngôn

Namah Samanta Budhànam, caryà À.

Tâm Chú Lăng Nghiêm

Om Anale Anale Visade Visade Vira Vajra dhare bandha bandhani
Vajra pani Phat Hum Trum Phat Svaha

Tâm Chú Bát Nhã

(Om) Gate Gate Paragate Parasamgate Bodhi Svaha

Dược Sư Quán Đỉnh Chân Ngôn

Namo Bhagavate Bhasajya Guru Vaidurya Prabha Rajaya Tathagataya Arhate Samyak-sambuddhaya Tadyatha Om Bhaisajye Bhaisajye Bhaisajya Samudgate Svaha

Cũng có thể trì như sau:

Om Bhaisajye Bhaisajye Maha Bhaisajye Raja Samudgate Svaha

Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Thần Chú :

NAMO BHAGAVATE BHASAIJYA GURU VAIDURYA
PRABARAYAYA TATHAGATAYA.
TADYATHA, OM BHAISAIJYE BHAISAIJYE MAHA BHASAIJYE RAJA SAMUDGATE SVAHA.

Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Thần Chú

AMOGHAPASA MANTRA (BẤT KHÔNG QUẢNG ĐẠI MINH VƯƠNG QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT)

Bất Không Quảng Đại Minh Vương Quán Thế Âm Bồ Tát

CINTAMANI CAKRA AVALOKITESVARA MANTRA (NHƯ Ý LUÂN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT)

Như Ý Luân Quán Thế Âm Bồ Tát

HAYAGRIVA MANTRA (MÃ ĐẦU QUÁN ÂM BỒ TÁT, SƯ TỬ VÔ UÝ BỒ TÁT)

Mã Đầu Quán Thế Âm Bồ Tát, Sư Tử Vô Úy Bồ Tát

MAHASRI MANTRA (CÁT TƯỜNG THIÊN, CÁT TƯỜNG THIÊN NỮ)

Cát Tường Thiên, Cát Tường Thiên Nữ

100 Chủng tử Kim Cang Tát Tỏa thần chú

Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni

35 Hiệu Như Lai trong “Quán Dược Vương Dược Thượng Nhị Bồ Tát
Kinh” (bhaisajyaraja bhaisajya samudgata sutra).

35 hiệu Như lai trong “Hồng Danh Sám”, Bất Ðộng Pháp Sư. kinh văn trong kinh Bửu Tích: “Nếu tất cả chúng sanh hoặc phạm tội ngũ nghịch hay thập ác, đến muốn ức kiếp không thể sám hối chỉ xưng danh hiệu 35 vị phật nầy và lễ bái thì bao nhiêu tội chướng đều tiêu trừ”

Danh hiệu của 35 Như Lai:

Shakyamuni, Vajragarbhapramardin, Ratnarchis, Nageshvararaja, Viresena,
Viranandin, Ratnagni, Ratnachandraprabha, Amoghadarshin, Ratnachandra, Vimala,
Shuradatta, Brahman, Brahmadatta, Varuna, Varunadeva, Bharadrashri, Chandashri,
Anantaujas, Prabhasashri Ashokashri, Narayana, Kusumashri Brahmajyotirvikriditabhijna, Padmamajyotirvikriditabhijna, Dhanashri, Smritishri,
Suparikirtitanamashri, Indraketudhvajaraja, Suvikrantashri, Yuddhajaya,
Vikrantagamishri, Samantavabhasavyuhashri, Ratnapadmavikramin, Shailendraraja.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!