Các Bậc Danh Y Thế Giới (P2)

Vương Thúc Hòa (* 220 – 280)

Vương Thúc Hòa sinh tại Sơn Dương, Cao Bình thời ngụy, Tấn (nay là tỉnh Sơn Ðông, Trung Quốc) thời Tam Quốc (vào những năm 220 đến 280, nhưng không ai rõ ngày sinh ngày mất của Vương Thúc Hòa). Vương Thúc Hòa là một danh y cống hiến cho nền Y học Trung Quốc và một số quốc gia có nhiều ảnh hưởng nền văn hóa Ðông Phương rất nhiều, chủ yếu quyển Mạch Kinh đến nay ngành Ðông Y Học vẫn xem như cẩm nang nghề nghiệp của mình (hiện nay Mạch Kinh được Trung Quốc, các nước Ðông Nam Aá, các nước Aảp Rập, và cả Châu Âu đem sử dụng).

Vương Thúc Hòa từ một gia đình hàn vi sống giữa thời Tam Quốc phân tranh, loạn lạc khắp nơi, nhưng ông rất ham học thích đọc sách Kinh, Thư nhất là những sách viết về thuốc. Nên ông thấu hiểu các phép dưỡng sinh, chẩn đoán và xem mạch. Theo cách sách viết lược sử về Vương Thúc Hòa, khoảng năm 220 khi nhà Ngụy thành hình, Tào Tháo cho mời ông về làm Thái Sư trong vương triều, đến năm 265 khi Tư Mã Viêm lập ra nhà Tấn, ông xin về ẩn dật lấy nghề thuốc đem ra chữa bệnh cho dân chúng.

Sự nghiệp Y học của Vương Thúc Hòa gồm những bộ sách quý, như Mạch Kinh và hiệu chỉnh cuốn Thương hàn tạp bệnh luận của Trương Trọng Cảnh.

Nói về quyển Mạch Kinh của Vương Thúc Hòa. Ðây là bộ sách gồm 10 tập, đề cao tính chính xác khi chẩn mạch, ông tập trung toàn bộ các luận thuyết về mạch lạc của các y gia như Hoa Ðà, Biển Thước, Trương Trọng Cảnh v.v… và các sách Nội Kinh, Nạn Kinh để rút tỉa và bổ sung, và theo những kinh nghiệm lâm sàng của ông để hệ thống hóa các huyệt đạo trên thân thể con người mà hoàn thành bộ này. Người đời sau đều xem quyển Mạch Kinh của ông biên soạn cho rằng ông viết công phu ít ai sánh được, lấy đó làm cơ sở chẩn bệnh.

Còn quyển Thương hàn tạp bệnh luận của Trương Trọng Cảnh, nguyên do là vào thời kỳ Tam Quốc phân tranh, loạn lạc cho đến thời Tây Tấn thì quyển này không còn ai lưu giữ đủ bộ. Vương Thúc Hòa không để một quyển sách dược quý như Thương hàn tạp bệnh luận phải mai một, ông đã đi sưu tầm các thiên sách nằm tản mác ở khắp nơi, nghe lại các khẩu quyết từ các thầy thuốc trong nước, kết hợp lại và chỉnh lý thêm cho gọn, dễ thông đồng thời ông cũng đưa lý luận của mình vào sách nhằm bổ sung những cái thiếu trong sách, nhờ vậy quyển này còn lưu truyền đến ngày nay.

(Biên niên sử Việt Nam – Thế giới trước năm 2000)


CÁT HỒNG (284 ? – 341)

Cát Hồng, tự Trĩ Xuyên, hiệu Bảo Phác Tử, người thời Đông tấn, Đơn Duơng, Câu Dung (nay là Giang Tô, Câu Dung), là nhà y học trứ danh thời Lưỡng Tấn về bệnh truyền nhiễm và luyện đơn (thuốc viên). Ông tánh tình trầm tĩnh, không giỏi ăn nói, không thích giao du, từ nhỏ đã khắc khổ cầu học. Dòng dõi gia đình cha ông đều làm quan, nhưng đến khi đời ông thì hoàn toàn phá sản vì xã hội quá động loạn. Năm 13 tuổi  thì cha qua đời, gia cảnh càng thêm nghèo khó. Ông một mặt tham gia cấy trồng để sinh sống, một mặt mượn sách vở để học tập. Ông đốn cây chẻ củi bán lấy tiền mua giấy bút và trong hoàn cảnh khó khăn này, gắng công đọc kinh sử, bách gia chư tử, nghiên cứu sâu về y học, nhất là phép thuật luyện đơn của thần tiên. Ông theo học với thầy Trịnh ẩn (Trịnh Ẩn là ông chú của Cát Hồng, học trò của thuật sĩ Cát Huyền). Sau lại theo học ‘phương thuật thần tiên’ với Thái thú Nam Hải là Bảo Huyền. Cuộc khởi nghĩa của Thạch Băng xảy ra, ông bị sung quân làm chức Đô úy. Có công dẹp nghĩa quân, được phong là Phục Ba tướng quân. Hết giặc, ông không kể gì chiến công, quyết tâm đi khắp nơi tìm đọc sách la.ï Nhà Đông Tấn được lập lên, ông được phong tước ‘Quan nội hầu. Sau đó, nhiều lần được tiến cử, ông đều từ chối khéo. Ông thấy mình đã già, muốn luyện thuốc để mong sống lâu, nghe nói đất Giao Chỉ (nay là Việt Nam) có sản xuất đơn sa (nguyên liệu để luyện đơn), bèn xin đi làm Huyện lệnh Câu Lậu (nay ở phía tây Hà Nội, Việt Nam). Được vua chấp thuận, ông đem gia đình đi về hướng Nam, đến Quảng châu, bị Thứ sử Quảng Châu câu lưu bèn ở ẩn trong núi La Phù Sơn, luyện đơn hái thuốc trị bệnh, viết sách cho đến chết.

Cả đời ông viết sách rất nhiều, có những bộ ‘Bảo Phác Tử’, Ngọc Hàm Phương’, ‘Trửu Hậu Bị Cấp Phương’, v.v.. Bộ ‘Bảo Phác Tử’ gồm có ba quyển: Kim đơn, Tiêu độc, Hoàng bạch, trong đó ghi phương pháp luyện đơn và sự biến hóa hóa học, là sách chuyên môn hiện còn của Trung Quốc về luyện đơn. Bộ ‘Ngọc Hàm Phương’ là một bộ sách lớn gồm 100 quyển, đáng tiếc là đã thất lạc. Bộ ‘Trửu Hậu Bị Cấp Phương’ trước có tên ‘Trửu Hậu Cứu Tốt Phương’ là bộ sách tiện mang theo mình để sử dụng mà ông đã tuyển chọn từ trong bộ ‘Ngọc Hàm Phương’. Các sách này đủ cho Cát Hồng chiếm một địa vị trọng yếu trong Trung Quốc khoa học sử.


LÝ ĐÔNG VIÊN  (1180  – 1251)

 Lý Cảo, tự Minh Chi, về già hiệu Đông Viên lão nhân, người đời Kim ở Chân Định (nay là Chính Định, Hà Bắc). Lý Cảo là một trong bốn thầy thuốc lớn của đời Kim, Nguyên, cũng là người đặt cơ sở cho học thuyết ‘Tỳ vị’ của Trung y.

Ông xuất thân ở một dòng họ hào phú, yêu thích y học từ bé thơ. Thuở ấy, người Dịch Châu (nay là Dịch Huyện ở Hà Bắc) Trung Nguyên Tố, y thuật cao minh, có tiếng tăm rất lớn ở một dải Yên, Triệu.  Lý bèn gom góp ngàn vàng để học y với thầy Trương. Sau mấy năm đã học được y thuật của thầy, tên tuổi còn hơn cả thầy. Y thuật của ông chủ trường đặc biệt về trị liệu thương hàn (bệnh nóng nội khoa), ung thư , bệnh nhọt lở ngoại khoa) và đau mắt. Khi trị bệnh ‘thủy cổ’ (bụng trướng nước) của một người tên là Vương Thiện Phổ  ở Bắc Kinh, trong lúc đa số các thầy thuốc dùng phương ‘cam đạm thấm thấp lợi thủy’ không có hiệu  quả ông dùng phương ‘tư âm’ cho uống vào thì người bệnh tiểu tiện được thông và lành bệnh. Tiêu Quân Thụy, phó quan ở Tây Đài, bệnh thương hàn phát nóng, thầy thuốc khác sau khi cho uống ‘Bạch

Hổ Thang’, bệnh trạng tuy hết nhung mặt người bệnh lại đen như mực, mạch Trầm Tế, không làm chủ được tiểu tiện. Thầy Lý thì dùng thuốc ấm ‘thăng dương hành kinh’ trị được khỏi. Vợ của Ngụy Bang Ngạn đau màng mắt nặng, sưng nhức không chịu nổi, tuy được điều trị, nhưng tái phát đôi ba lần, ông xét là vì kinh mạch không điều hòa, cho nên trị theo hướng suy luận đó, và bệnh không tái phát nữa.Ông còn dùng châm cứu trị lành bệnh bại nửa người của Quách Cự Tế, tướng súy đất Thiểm. Do vì ông chuyên trị liệu những chúng bệnh nguy, khó lạ, nên người đương thời đều xem ông là một thần y.

Sự cống hiến chủ yếu của ông cho y học là dựa trên cơ sở lý luận của quyển sách y cổ

điển ‘Nội kinh,’ kết hợp với kinh nghiệm lâm sàng của bản thân, sáng lập ra tân thuyết. Ông ở vào niên đại đúng ngay thời kỳ chiến loạn giữa Kim và Nguyên, binh lửa liên miên, tinh thần người dân bị kích thích, ăn uống thất thường, sinh hoạt không giờ giấc, ấm lạnh không thích hợp, bao nhiêu nhân tố ấy làm phát sinh nhiều bệnh tật, mà số tật bệnh này điều trị bằng phương trị thương hàn thường không có hiệu quả. Với kinh nghiệm thực tiễn, ông nhận thấy rằng các nhân tố này đều có thể làm cho nguyên khí của con người bị tổn thương, sinh ra bệnh nội thương, cho nên ông đề xuất ‘học thuyết nội thương’. Đồng thời, ông viết một quyển ‘Nội Thương Biện Hoặc Luận’ ghi rõ ràng sự phân biệt giữa ‘nội thương nhiệt bệnh’ và ‘ngoại cảm nhiệt bệnh’ (Bệnh nóng vì nội thương, bệnh nóng vì ngoại cảm), cho thấy đối với bệnh nóng vì nội thương phải dùng nguyên tắc trị liệu ‘cam ôn trừ đại nhiệt, phù chính dĩ khử tà’. Theo sự giãi bày Trương Nguyên Tố trong học thuyết ‘tạng phủ bệnh cơ’, kết hợp với thuyết ‘nhân ‘ dĩ thủy vị bản’, ‘hữu vị khí tắc sinh, vô vị khí tắc tử’ của ‘Nội kinh’, ông nhận xét rằng trong ngũ tạng lục phủ, tỳ vị là tối quan trọng đối với hoạt động sinh lý của thân thể người ta, nhân đó ông đề xuất chủ trương ‘nội thương tỳ vị, bách bệnh do sinh’ (trăm bệnh đều do tỳ vị bị tổn thương), đồng thời ông viết một quyển ‘Tỳ Vị Luận’ để giới thiệu học thuyết của mình.

Đối với việc phát huy lý luận Trung y, ông tập trung chủ yếu ở điểm nhấn mạnh tác dụng của Tỳ Vị. Tư tưởng chủ đạo của ông là: thổ vi vạn vật chi mẫu, tỳ vị vi sinh hóa chi nguyên (đất là mẹ của vạn vật, tỳ vị là gốc của sinh hóa). Vì đó mà khi trị liệu bệnh nội thương, ông dùng một lối ‘ôn bổ tỳ vị, thăng cử trung khí’ làm phương chủ yếu, đồng thời sáng chế phương thuốc trứ danh ‘Bổ Trung Ích Khí Thang’, được y gia  đời sau luôn noi theo áp dụng. Vì ông giỏi ứng dụng phép ôn bổ tỳ vị, đời sau tôn xưng ông là ‘bổ thổ phái’ hoặc ‘ôn bổ phái’. Học thuyết nội thương tỳ vị do ông sáng lập có ảnh hưởng sâu xa trong sự phát triển Trung y học.

Ông mất năm 1251, hưởng thọ bảy mươi mốt tuổi.


Lý Thời Trân (1518 – 1593)

Sinh ra trong thời nhà Minh ở Trung Quốc tại Kỳ Châu (nay là Hồ Bắc, Kỳ Xuân, Kỳ Châu) vào năm 1518, tự Ðông Bích, sau đổi là Tần Hồ Sơn Nhân. Lý Thời Trân là một danh y nổi tiếng trên thế giới vì hiện giờ nhiều nước vẫn dùng quyển Bản Thảo Cương Mục của ông để dùng chữa trị hoặc nghiên cứu, vì quyển sách được Lý Thời Trân biên soạn ròng rã mấy chục năm mới hoàn tất, nó không quý bởi thời gian soạn sách kéo dài mà do nội dung của nó rất hữu dụng.

Lý Thời Trân viết từ năm ông được 35 tuổi, ông đi sưu tập các sách dược học cổ điển nằm trong dân chúng, và thân hành đi tìm đặc tính của từng loại thực vật được xem là cây thuốc để biết về tình trạng, tính chất, mùi vị và công hiệu của nó v.v… công việc này kéo dài 27 năm, làm việc trong nổ lực lao động cực nhọc, sửa đổi bản cảo ba lần và vào năm ông được 61 tuổi (1.578) thì quyển Bản thảo cương mục hoàn chỉnh hoàn toàn.

Khi Lý Thời Trân mất, ba năm sau (1596) quyển Bản thảo cương mục của ông mới được phổ biến rộng rãi, từ Kim Lăng (Nam Kim) lan dần ra khắp nước, các y sư nào cũng tìm một quyển, vì có mấy ai đã sưu tầm được đầy đủ các loài động thực vật dùng làm thuốc này. Thời nay quyển sách chẳng những cống hiến cho sự phát triển ngành dược liệu ở Trung Quốc mà còn ảnh hưởng đến các ngành khác như Y học, Thực vật học, Ðộng vật học, Khoáng vật học, Hóa học trên toàn thế giới.

Theo lược sử viết về Lý Thời Trân, thân thế của ông như sau:

  • Ông là con một thế y, nên khi nhỏ Lý Thời Trân đã có tâm nguyện sẽ nối nghiệp cha làm nghề thầy thuốc cứu đời. Nhưng sống trong xã hội phong kiến thời nhà Minh, nghề y sĩ không được coi trọng, cha ông cho ông đi học để làm quan, nên năm lên 14, Lý Thời Trân đỗ tú tài, qua thi cử nhân cả ba lần đều không đỗ, Lý Thời Trân quay về nghề cha, học làm thuốc. Năm lên 30 ông đã nổi tiếng là một danh y;
  • Năm 1551, Lý Thời Trân được Sở Vương ở Vũ Xương mời làm Lương Y Sở sự vụ. Năm 1556, được tiến cử làm ở Thái Y Viện, dịp này Lý Thời Trân có điều kiện tham khảo các sách y học thời cổ tại thư viện của Viện, ông trích lục được nhiều tài liệu quý hiếm và được xem nhiều mẫu dược vật. Nhờ những điều kiện này mà niềm đam mê viết sách nổi lên, ông xin từ chức Thái Y Viện Quan để bắt đầu viết cuốn Bản thảo cương mục;
  • Năm 1593, ông mất thọ được 75 tuổi.

(Biên niên sử Việt Nam – Thế giới trước năm 2000)


CHU VĂN AN  (1292 – 1370)

Người ở Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (ngày nay là làng Quang, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Ông đậu Thái học sinh và giữ chức Tư nghiệp trường Quốc tử giám dưới triều Trần Minh Tông (1324). Đến đời Trần Dụ Tông, vì triều chính thối nát, nhiều quan lộng quyền, ông can gián không được nên ông làm sớ xin chém 7 nịnh thần (1341) rồi từ quan về dạy học và nghiên cứu y học ở huyện Chí Linh, Hải Dương.

Ông đã để lại một số tư liệu, bệnh án về kinh nghiệm trị bệnh. đặc biệt là kinh nghiệm trị các bệnh dịch mà sau này con cháu ông là Chu Doãn Văn, Chu Xuân Lương đã ghi lại thành quyển ‘Y Học Yếu Giải Tập Chú Di Biên’ năm 1466 và bổ sung năm 1856.

Đối với thương hàn ngoại cảm, Chu Văn An cho rằng  một phần do sự thiên thắng của thời khí, một phần do sự suy yếu của cơ thể. Tuy bệnh lý chuyển biến âm dương biểu lý  khác nhau nhưng cách trị không ngoài việc điều hòa âm dương  và công tà bổ chính.  Vì vậy ông chỉ quy nạp bệnh về hai loại là Dương chứng (Nhiệt) và Âm chứng (Hàn), tùy chứng mà gia giảm để điều hòa cơ thể, bồi bổ chính khí phối hợp với việc  đẩy bệnh tà ra một cách nhẹ nhàng. Từ đó ông chế ra hai bài thuốc Đăng Khấu Thang [Sinh địa, Huyền sâm, Sài hồ, Mộc thông, Hoàng cầm, Chi tư, Gừng, Hành, Cam thảo] (trị nhiệt) và Cố Nguyên Thang [Đang sâm, Đương quy, Can khương, Trần bì, Chích thảo, Nhục quế, Phụ tử chế, Táo] (trị hàn). Chu Văn An đã vận dụng linh hoạt hai bài thuốc trên trị cho hơn 700 trường hợp và đã phổ biến cho người đương thời biết và sử dụng. Đối với bệnh ôn dịch năm 1358-1359, ông  đã chế ra bài Thần Tiên Cứu Khổ Đơn cứu sống được rất nhiều người. Đối với bệnh ôn nhiệt, ông chế ra bài Tuấn Lưu Ẩm (Sinh địa, Thục địa, Huyền minh phấn, Mộc thông, Chi tử, Thạch hộc, Cam thảo, Lá tre, Đăng tâm thảo). Sau khi uống 1 thang, bớt sốt nhưng còn tiêu chảy, ông cho uống Bạch Long Tán, dùng độc vị Thạch cao sống, tán bột, hòa với nước nóng, uống lúc còn hơi âm ấm thì ngưng tiêu chảy ngay. Để điều bổ thủy hỏa, ông chế ra bài (Tư Khảm Đơn (Thục địa, Hoài sơn, Phục linh, Lộc giác giao, Mạch môn) và Dưỡng Ly Đơn (Thục địa, Sơn thù (sao rượu), Hoài sơn (sao), Phục linh, Phụ tử (chế), Nhục quế, Ngũ vị (sao mật), Trầm hương (một ít).


NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

THÂN THẾ & SỰ NGHIỆP

    

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ lớn, là người thầy thuốc ưu tú của nước ta. Nhân dân thường gọi là Ông Đồ Chiểu.

    Ông tự là Mạnh Trạch hiệu là Trọng Phủ hay Hối Trai. Sinh ngày 1-7-1822 tại làng Tân Thới, Tổng Bình Trị Thượng, Huyện Bình Dương, Phủ Tân Bình, Tỉnh Gia Định  nay thuộc Thành Phố Hồ Chí Minh. Thân phụ của ông là Nguyễn Đình Huy. Sinh năm 1793, người Thừa Thiên hiệu Dương Minh Phú, làm thơ lại, một chức quan nhỏ dưới quyền của Tả Quân Lê Văn Duyệt . Thân mẫu là bà Trương Thị Thiệt, thứ thiếp của Nguyễn Đình Huy. Nguyễn Đình Chiểu là con trưởng các em là Nguyễn Thị Thục, Nguyễn Thị Nữ, Nguyễn Thị Thành, Nguyễn Đình Tựu, Nguyễn Đình Tự, Nguyễn Đình Huân.

    Dưới thời Minh Mạng (1833) con nuôi của Tả Quân là Lê Văn Khôi và các tuỳ tướng nổi lên giết chết Bố Chính Bạch Xuân Nguyên. Thân phụ của ông là Nguyễn Đình Huy trốn về kinh đô rồi bị bắt và bị cách chức. Sau đó cải dạng trở vào Gia Định để đem Nguyễn Đình Chiểu ra Huế ở nhà người bạn thân làm chức Thái phó cũng bị cách chức và Nguyễn Đình Chiểu ở đó học 8 năm .

    Năm Canh Tý ( 1840 ) Nguyễn Đình Chiểu trở về Gia Định  ôn luyện để chuẩn bị đi thi. Vốn con nhà phiệt duyệt, lại thêm nhiều năm chăm chỉ học tập, kiến thức rất uyên bác. Nên đến năm quí mão ( 1843 ) Nguyễn Đình Chiểu thi đậu cử nhân tại trường thi Gia Định. Năm Bính Ngọ ( 1846 ) Nguyễn Đình Chiểu cùng en là Nguyễn Đình Tựu ra kinh đô Huế học để chuẩn bị kỳ thi hương năm Kỷ Dậu ( 1849 ) thì chẳng may được tin mẹ mất vào ngày rằm tháng 11 năm trước  (1848 ) lúc ấy bà mới 48 tuổi , được an táng tại phường Tân Triêm ( nay là Cầu Kho ). Nguyễn Đình Chiểu đành bỏ thi cùng em trở về nam chịu tang mẹ.

    Vì đường xá xa xôi, vì đau buồn thương khóc mẹ trên đường về nam Nguyễn Đình Chiểu bị đau mắt nặng, không nhìn thấy được nên đến nhà ông thầy thuốc  ở Quảng Nam để điều trị nhưng đôi mắt ông đã vĩnh viễn bị mù. Thời gian trị bệnh ở đây một năm Nguyễn Đình Chiểu đã tranh thủ học nghề thuốc. Năm sau Nguyễn Đình Chiểu về đến nhà thọ tang mẹ và mở trường dạy học ở Bình Vi ( Gia Định ).

    Nghe tiếng Nguyễn Đình Chiểu hay chữ, tính nết điềm đạm , giàu lòng thương người nên học trò theo học rất đông. Ngoài việc dạy học ông còn làm nghề bốc thuốc chữa bệnh cho dân, miệt mài nghiên cứu y học dược liệu và sáng tác thơ văn.

    Năm 1854 có một người học trò của Nguyễn Đình Chiểu ở Làng Thanh Ba, huyện Phước Lộc tỉnh Gia Định  tên là Lê Tăng Quýnh về thưa với cha mẹ gả em gái mình là Cô Năm Điền cho thầy Nguyễn Đình Chiểu. Đến Năm Ất Mão (1855 ) Nguyễn Đình Chiểu đã có con gái đầu lòng là Nguyễn Thị Hương. Lúc nầy chiến tranh loạn lạc đất nước rơi vào ách đô hộ giặc Pháp, Nguyễn Đình Chiểu đưa gia đình về lánh nạn ở quê vợ là làng Thanh Ba. Trong thời gian nầy ông đã sáng tác  truyệ Lục Vân Tiên và bài văn tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc một áng văn yêu nước bất hủ trong lịch sữ văn học Việt Nam.

    Năm 1862 sau khi ba tỉnh miền đông mất giặc Pháp chiếm Cần Giuộc, ông không chịu ở vùng giặc nên đem gia đình về ở làng An Đức, tổng Bảo An, Huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, mở trường dạy học làm nghề bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân và chính trong thời gian nầy ông đã sáng tác bộ Ngư Tiều Y Thuật vấn đáp một tác phẩm vừa có tính văn học vừa có tính y học rất cao.

    Sống với bà Lê Thị Điền, Nguyễn Đình Chiểu có được 6 người con : Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Đình Chúc, Nguyễn Thị Xiêm, Nguyễn thị Khê, Nguyễn Đình Chiêm, Nguyễn Đình Ngưỡng, Trong sỗ các người con nầy, có hai người là Nguyễn Thị  Khê  và Nguyễn Đình Chiêm nối được nghiệp nhà, có đủ tài đức. Nguyễn Thị Khê văn tài lỗi lạc, goá chồng từ lúc còn trẻ nhưng quyết thủ tiết không chịu tái giá, lấy hiệu là : Sương Nguyệt Anh. Bà đã dạy học và làm chủ bút  tờ báo đầu tiên của phụ nữ Việt Nam lấy tên là : Nữ Giới Chung. Còn Nguyễn Đình Chiêm tự là Trọng Vĩnh là một nhà văn nổi tiếng . Ông là soạn giả các vở hát bộ Phấn Trang Lầu, Nam Tống tinh Trung..

    Khi miền nam đã hoàn toàn bị Pháp thống trị  Nguyễn Đình Chiểu đã dùng văn chương nâng cao tinh thần chống Pháp và đề cao gương hy sinh của những người trung nghĩa, nhận thấy Nguyễn Đình Chiểu là người có tài, Pháp định mời ông ra giúp đở, cấp dưỡng tiền bạc để tỏ lòng mến phục một nhân tài, nhưng ông cũng từ khước không nhận.

    Ngày 24 tháng 5 năm Mậu  Tý  ( ngày 3 – 7 – 1888 ) Nguyễn Đình Chiểu trút hơi thở cuối cùng . Nhân dân Ba Tri cùng với bạn bè, học trò, con cháu đã long trọng tiển đưa đám tang ông. Hiên nay mộ của ông còn ở làng An Đức, Bảo An, Tỉnh Bến Tre cách chợ Ba Tri khoảng 2 cây số.

    Hiện tượng văn chương Đồ Chiểu là một thành tựu xuất sắc  của loại văn chương đạo lý. Sức mạnh của nó là sức mạnh của cảm xúc trử tình  với một cường độ mảnh liệt  phi thường. Qua các tác phẩm Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu và một số tác phẩm khác  đã thể hiện  một chân chất nói lên đạo lý làm người cũng như tác phẩm Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp  đã thể hiện cho chúng ta thấy nghề y không phải là một nghề nghiệp mà là thể hiện một nhân cách đạo Y .

    Nguyễn Đình Chiểu mất đi nhưng đã để lại cho nhân dân ấn tượng cao đẹp về nhân cách con người cũng như để lại cho giới thầy thuốc Việt Nam một nhân cách tiêu biểu của người thầy thuốc Việt Nam.

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!