Tiên Thiên Bát Quái

Ngài Phục Hy vạch ra tám quẻ thành hình Bát Quái mà hình dung đại tạo hóa của Thiên Địa. Như trên đã đề cập về Thái Cực là Âm Dương chưa phân, lúc vũ trụ còn hỗn mang gọi là Thái Cực vì bao la đến vô cùng, vô tận.

Untitled-1

“Sự cùng tắc biến”, nên Thái Cực phân hóa thành Âm-Dương, mà hình thành trời (Càn) và đất (Khôn). Tuy nhiên, xưa nay bàn cãi về Bát Quái rất nhiều, nhưng chưa ai xác định được cách vạch tám Quẻ. Riêng cụ Đào văn Dương đã viết như sau:

– Riêng biệt về quẻ CÀN và KHÔN, Thánh Nhân lại ghi thêm DỤNG CỬU và DỤNG LỤC mà hậu thế muốn hiểu rõ phải xét qua ba mặt, TRIẾT HỌC, KHOA HỌC, và SỬ HỌC mới khám phá ra DỤNG CỬU và DỤNG LỤC.

Cho đến nay, không hề có một học giả Trung Hoa nào, trải qua mấy ngàn năm, đã hiểu nổi DỤNG CỬU và DỤNG LỤC. Những học giả lỗi lạc của Trung Hoa như Trần Thục Am, Kinh Phòng, và ngay cả những nhân tài bậc nhất như Chu Liêm Khê và Thiệu Khang Tiết cũng không giải thích nổi. Lý do rất giản dị là các vị đó chỉ lưu tâm đến TRIẾT HỌC, mà không biết còn phải phối hợp với TOÁN HỌC, và SỬ HỌC mới hiểu được cặn kẻ DỤNG CỬU và DỤNG LỤC…

Khởi điểm là Lưỡng Nghi: Dương    ( queduong1-150x150 ) và Âm    (  que-am1-150x150  )

đó chỉ là DỤNG CỬU và DỤNG LỤC lần 1 để mỗi TƯỢNG có 1 hào.

Ta thực hiện DỤNG CỬU lần nữa thì được hai tượng Thái Dương(I) và Thiếu Âm(II), tiếp đến là DỤNG LỤC thì được hai tượng Thiếu Dương(III) và Thái Âm(IV), mỗi tượng có 2 hào:

  thaiduong-150x150                  thieuam-150x150                  thieuduong-150x150                      Thaiam-150x150

    (I)                    (II)                    (III)                      (IV)

 Thái Dương     Thiếu Âm        Thiếu Dương      Thái Âm

Ta cũng nên biết: ta khởi điểm từ hào Dương(tượng I và III), vạch thêm hào Dương (tức DỤNG CỬU) thì được Thái Dương(tượng I), còn vạch thêm hào Âm (tức DUNG LỤC) thì tất nhiên sẽ được Thiếu Dương (tượng III). Cũng như trên, ta khởi điểm từ Hào Âm (tượng II và IV) mà vạch thêm Hào Âm (tức DỤNG LỤC) thì được Thái Âm (tượng IV), còn vạch thêm HÀO DƯƠNG (tức DỤNG CỬU) thì được Thiếu Âm (tượng II).

Vậy Tứ Tượng phải là Thái Dương(I),Thiếu Âm(II),Thiếu Dương(III),và Thái Âm (IV).

Bây giờ, ta thực hiện DỤNG CỬU lần nữa (lần thứ ba) xuống dưới Tứ Tượng thì được bốn quái thuộc CÀN ĐẠO là Càn (1), Đoài (2), Ly (3), Chấn (4):          

can-150x150                       queDoai-150x150                          queLy-150x150                          queChan-150x150

(1)                     (2)                      (3)                       (4)

Càn                 Đoài                     Ly                       Chấn

Ta thực hiện DỤNG LỤC thì được 4 quái thuộc KHÔN ĐẠO là Tốn (5), Khảm (6), Cấn (7), Khôn (8)

queTon-150x150                  queKham-150x150                    queCan-150x150                  queKhon-150x150                     

   (5)                   (6)                        (7)                    (8)

  Tốn                 Khảm                    Cấn                 Khôn

Ta thấy trong Tiên Thiên Bát Quái các quẻ đi theo chiều nghịch vì đó là đạo Tự Nhiên trước khi có trời đất chuyển nghịch để tìm về quá khứ, (bởi Thánh Nhân muốn mượn cái đã có để tìm về cái chưa có thì phải chuyển nghịch). Do đó, trong Tiên Thiên Bát Quái trước là quẻ Càn số 1 động lần đầu thành Đoài số 2, động lần sau thành quẻ Ly số 3, động lần nữa thành Chấn số 4. Nhưng tại sao Càn động lần thứ 3 lại không thành Tốn mà thành Chấn. Đó là bởi Thánh Nhân không cho động hào dưới của quẻ Càn ở lần thứ 3, vì nếu cho động như thế thì Càn động hết 3 hào Dương sẽ trở thành quẻ Khôn còn gì, nên phải đổi thành động hào 3 ở trên và hào 2 ở giữa do trước đã động qua hai lần mà dùng cho lần thứ 3.

Kế đó là quẻ Khôn đối với Càn vì có Trời thì phải có đất. Quẻ Khôn số 8 động lần đầu thành Cấn số 7, động lần sau thành Khảm 6, động lần nữa thành Tốn số 5. Điểm tối yếu ở đây là Đạo Trời (Càn) thuận động chuyển số theo chiều thuận, 1, 2, 3, 4; Còn Đạo Đất (Khôn) chuyển nghịch số 8, 7, 6, 5. Đây là nguyên ý của Thánh Nhân nhưng chưa thấy ai bàn đến.

Đạo lý là như vậy, nhưng khi Thánh Nhân lập Đồ Tiên Thiên Bát Quái là thuận theo lẽ tự nhiên của Vũ Trụ mà sắp xếp theo từng cặp tương đối với nhau, như:

– Càn đối với Khôn: Càn là Trời ở trên, ở phương Nam, nóng thuộc Hỏa (Dương); Khôn là Đất ở dưới, ở phương Bắc, lạnh thuộc Thuỷ (Âm), đối diện với nhau định ngôi Trời Đất.

– Đoài đối với Cấn: Đoài ở Đông Nam vì Đông Nam có nhiều đầm hồ; Cấn ở Tây Bắc vì Tây Bắc có nhiều đồi núi, đó là núi đầm thông khí.

– Chấn đối với Tốn: Tốn ở Tây Nam vì Tây Nam là nơi nóng lạnh xô xát nhau sinh ra gió; Chấn ở Đông Bắc vì gió từ Tây Nam thổi qua Đông Bắc gây ra tiếng động, hoặc sáng (Ly) tối (Khôn) cọ xát nhau sinh ra sấm, đó là sấm gió xô xát.

– Ly đối với Khảm: Ly là mặt trời ở Đông vì mặt trời mọc phương Đông, Khảm là mặt trăng nên hiện ở phương Tây, đó là nước lửa thân thiết nhau.

Thuyết Quái Truyện nói rằng: “Trời Đất định vị trí phối hợp trên dưới, Núi Đầm một cao một thấp đủ thông khí, Sấm Gió tuy mỗi cái tự hưng động nhưng có thể ngầm nhập giao nhau, ứng hóa với nhau, Thủy Hỏa tuy khác tính nhưng không ghét nhau, khác mà đỡ đần nhau, Bát Quái đắp đổi nhau, lay động chà xát hỗn hợp mà sinh ra 64 quẻ.

TienThienphoiHaDove-724x1024

tienthienvoilacthuve-724x1024

 

Thư Viện Hình Ảnh
hình 1
hình 2
Hình 3
error: Content is protected !!